A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, ở trường mầm non thông qua các hoạt động chăm sóc
giáo dục trẻ để giúp trẻ phát triển toàn diện. Mỗi hoạt động chăm sóc giáo dục
trong chương trình giáo dục mầm non, được được tổ chức theo một hệ thống thống
nhất. Cung cấp kiến thức kỹ năng có tính đồng tâm trong suất các độ tuổi từ đầu
nhà nhà trẻ cho đến cuối độ tuổi mẫu giáo.
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học (LQVTPVH) là một trong những
hoạt động ở trường mầm non được trẻ yêu thích. Hoạt động làm quen với tác phẩm
văn học là loại hình nghệ thuật; đặc biệt nó rất gần gũi với trẻ thơ, từ buổi đầu thơ
ấu, trẻ đã sống chan hoà trong không khí lời ru “ ầu ơ “ đầy yêu thương tận tình của
bà, của mẹ. Đó chính là trẻ đã được đến với văn học và đó cũng là cánh cửa mở ra
chân trời nhận thức cho trẻ. Đặc biệt văn học có tác động mạnh mẽ đến sự phát
triển ngôn ngữ cho trẻ; là phương tiên dẫn dắt trẻ đến với thế giới xung quang.
Qua những bài ca dao, câu chuyện là tấm gương mẫu mực về lời ăn tiếng nói
cho trẻ học tập, là phương tiện hữu hiệu trong việc giáo dục trẻ lòng yêu thiên
nhiên, yêu quê hương đất nước, tình yêu mến bạn bè với những người thân thiết,
biết được việc làm tốt, biết yêu cái đẹp, cái thiện, ghét cái ác, phê phán những việc
làm xấu, kính yêu Bác Hồ, thật thà, ngoan ngoãn…..Điều đó chính là văn học là
phương tiện hình thành các phẩm chất đạo đức trong sáng cho trẻ thơ.
Với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ nhà trẻ và trẻ 3 tuổi, vốn từ và ngôn ngữ
của trẻ đang phát triển mạnh mẽ. Vì vậy cần thiết phải quan tâm phát triển để
hướng đến kết quả mong đợi tối ưu nhất về phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong độ
tuổi.
Để đạt được hiệu quả giáo dục trẻ nói chung và hoạt động cho trẻ
LQVTPVH nói riêng, đòi hỏi mỗi giáo viên mầm non luôn phải tìm tòi các giải
pháp tổ chức thực hiện các họat động chăm sóc, giáo dục trẻ tốt nhất. Với ý nghĩa
tích cực của hoạt động cho trẻ LQVTPVH tới sự phát triển ngôn ngữ cũng như phát
triển toàn diện của trẻ trong độ tuổi. Trong năm học 2013 - 2014, tôi đã quan tâm
tìm tòi các giải pháp tổ chức tốt cho trẻ LQVTPVH. Và đó cũng là lý do tôi chọn
đề tài SKKN “Một số giải pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với tác phẩm văn
cổ tích; về cuộc sống thực tại bao gồm: Thiên nhiên, xã hội, con người… Tác
phẩm văn học diễn tả, biểu đạt hình thức đa dạng, độc đáo. Văn học nói về thế giới
loài vật cỏ cây, hoa, lá, mọi hiện tượng thiên nhiên; cũng nói về những gì gần gũi
trong môi trường sống của trẻ như làng quê, đồng ruộng, phiên chợ, lớp học,….
Tác phẩm văn học giúp trẻ nhận ra mối quan hệ những tình cảm gia đình, cô cháu,
tình yêu mọi người…..Nhờ được nghe tiếp xúc với một số lượng tác phẩm văn học,
sẽ giúp trẻ nhận thức, mô tả được cuộc sống xung quanh, phong phú, hấp dẫn, bằng
những dạng thức khác nhau.
2
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học chỉ ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của
việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghệ thuật đọc, kể chuyện, của cô
giáo. Hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng dẫn trẻ cảm nhận những giá trị nội dung,
nghệ thuật khơi gợi trẻ sự rung động hứng thú với văn học có ấn tượng về nghệ
thuật như đọc thơ, kể chuyện, trò chơi, đóng kịch, góp phần hình thành và phát
triển toàn diện nhân cách trẻ. Đặc biệt là phát triển mạnh mẽ ở trẻ về lĩnh vực ngôn
ngữ; rèn luyện kỹ năng giao tiếp ứng xử của trẻ.
Qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học chính là hình thành ở trẻ
những tình cảm, đạo đức tốt đẹp, những xúc cảm, thẩm mỹ phát triển trí tưởng
tượng như lòng yêu thiên nhiên ở quả, cây, lá, hoa…..Lòng kính trọng yêu thương
gần gũi và giúp đỡ người thân xung quanh trẻ như ông bà, bố mẹ, anh chị em, thầy
cô giáo. Thông qua hoạt động này trẻ làm tái tạo và sáng tạo thêm những tình tiết
của tác phẩm một cách hồn nhiên, phù hợp với nội dung của tác phẩm thông qua sự
hiểu biết trí tưởng tượng của trẻ. Đồng thời trẻ đọc thuộc thơ, kể lại chuyện được.
Chính vì thế mà đạt được mục đích của hoạt động cho trẻ LQVTPVH.
Có thể nói, cho trẻ LQVTPVH. là phương tiện chủ đạo phát triển ngôn ngữ,
phát triển ở trẻ kỹ năng diễn đạt, sử dụng câu, từ, đọc kể diễn cảm…để làm tiền đề
cho sự phát triển toàn diện ở trẻ. Vì vậy cần thiết phải có biện pháp để khai thác tối
Đa phần giáo viên nhà trường chưa quan tâm khai thác tối ưu sự tác động
của hoạt động cho trẻ LQVTPVH đối với sự phát triển của trẻ.
c, Điều kiện về phụ huynh
Đại đa số phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng của bậc học mầm non
nên luôn quan tâm đến việc chăm sóc giáo dục trẻ. Đã quan tâm trong việc phối
hợp với nhà trường, giáo viên để chăm sóc con em mình. Luôn giúp đỡ tạo điều
kiện để hỗ trợ cô giáo như: Ủng hộ cao các khoản đóng góp xã hội hóa giáo dục;
tham gia làm đồ chơi cùng; sưu tầm đóng góp phế liệu để làm đồ dùng đồ chơi. vải,
bông , chai lọ… để làm đồ chơi phục vụ cho môn học.
Bên cạnh những thuận lợi vẫn còn nhiều điểm khó khăn đó là: Phụ huynh ở lớp
phần lớn là làm nông thôn nên ít có thời gian và điều kiện quan tâm đến con em
mình, đặc biệt là việc kèm cặp các cháu học.
Một số phụ huynh chưa nhận thức hết được yêu cầu và tầm quan trọng của phát
triển ngôn ngữ cho trẻ.
Đa số phụ huynh bận công việc không trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói, trẻ
không được đáp ứng đầy đủ về nhu cầu trẻ cần.
Ví dụ: Trẻ chỉ cần nhìn vào đồ dùng nào đó chỉ tay đòi là được đáp ứng ngay
mà không cần dùng lời để yêu cầu hoặc xin. Đây cũng là một trong những yếu tố
ảnh hưởng không ttót đến sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
d, Điều kiện về học sinh
Toàn trường có tổng số học sinh là 243 cháu. Đa phần các cháu ngoan, có
nhận thức khá đồng đều. Khả năng ngôn ngữ của trẻ đạt yêu cầu.
4
2. Điều kiện thực tế của nhóm lớp.
Bản thân tôi là giáo viên có trình độ trên chuẩn, có tâm hhuyết với nghề
nghiệp, được nhà trường đánh giá là giáo viên có năng lực khá.
Đối với đội ngũ giáo viên nhà trường nói chung và bản thân tôi nói riêng.
mô tả lại sự việc có sự giúp đỡ.
Từ kết quả khảo sát, tôi đánh giá các khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ
theo yêu cầu độ tuổi là thấp. Tôi xác định tiến hành giải quyết mục tiêu của sáng
kiến bằng một số giải pháp tại mục III của sáng kiến.
III. CÁC GIẢI PHÁP V À TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Giải pháp giáo viên học tập nắm vững yêu cầu nội dung phát triển
ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi.
Phạm vi ngiên cứu các giải pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổiLQVTPVH, với mục đích
nhằm đến sự phát triển ngôn ngữ tối ưu của trẻ trong yêu cầu độ tuổi. Tôi đã xác
định việc học tập tìm hiểu để nắm vững yêu cầu về nội dung, kết quả mong đợi về
5
phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi là hết sức cần thiết. Vì nắm hệ thống đầy
đủ nội dung thì mới có thể xây dựng kế hoạch chương trình giáo dục đảm bảo đủ và
đúng yêu cầu.
Trước hết, để đảm bảo nắm vững yêu cầu giáo dục trẻ, cơ sở chủ đạo quan
trong để giáo viên cần học tập nắm vững đó là các yêu cầu trong chương trình giáo
dục mầm non, được ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25
tháng 7 năm 2009 của bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo. Ngoài ra còn phải nghiên
cứu thêm các tài liệu chính thống do bộ giáo dục ban hành liên quan đến yêu cầu
giáo dục. Ở đây nghiên cứu trong phạm vi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ cho trẻ, tôi
đã xác định các nội dung yêu cầu và kết quả mông đợi cần nắm vững đề thể chế
hóa trong thực hiện chương trình giáo dục đó là:
* Nội dung Nghe:
- Giúp trẻ nghe hiểu các từ chỉ người, tên gọi đồ vật, hành động, hiện tượng
gần gũi, quen thuộc.
- Hiểu và làm theo yêu cầu đơn giản.
- Nghe hiểu nội dung các câu đơn, câu mở rộng.
- Nghe hiểu nội dung chuyên kể, chuyện đọc phù hợp với độ tuổi.
theo các chủ đề phù hợp. Việc nắm vững yêu cầu có tính khoa học sẽ tránh việc
thực hiện bỏ sót yêu cầu; làm cơ sở cho hoạt động đánh giá khả năng tiếp thu kiến
thức kỹ năng so với mục tiêu yêu cầu về văn học và phát triển nôn ngữ của trẻ hằng
ngày và theo giai đoạn, từ đó có kế hoạch giáo dục tiếp theo phù hợp.
Từ việc xây dựng kế hoạch cho bản thân nắm vững các yêu cầu phát triển
ngôn cho trẻ trong độ tuổi, bản thân tôi đã có kiến thức vững chắc để áp dụng vào
giáo dục trẻ. Đánh giá khả năng và giúp trẻ nắm vững kiến thức kĩ năng một các hệ
thống đủ yêu cầu, đảm bảo cung cấp kiến thức theo sự đồng tâm.
2. Giải pháp xây dựng môi trường trong lớp cho trẻ LQTPVH đạt hiệu
quả.
Tôi nhận thức việc xây dựng môi trường giáo dục là rất cần thiết. Xây dựng môi
trường giáo dục là học liệu cho trẻ học tập. Môi trường giáo dục đa dạng sinh động
sẽ thu hút sự chủ động tích cực của trẻ tham gia vào các hoạt động giáo dục, mang
lại hiệu quả giáo dục cao. Đối với việc tôi quan tâm đến nghiên cứu các giải pháp
cho trẻ LQVTPVH, tôi xác định sẽ quan tâm đến việc xây dựng môi trường cho trẻ
LQVTPVH. Đó chính là việc xây dựng các hình ảnh trực quan sinh động về các nội
dung liên quan đến văn học trong môi trường trong lớp và ngoài lớp học. Các hình
ảnh có sức sống động, có khả năng tác động thu hút được sự tò mò của trẻ, gợi cho
trẻ các nhu cầu được hiểu biết.
Thực hiện giải pháp này, trước hết tôi phải tư duy tìm hiểu và sưu tầm nhiều các
hình ảnh, cách sắp xếp môi trường khoa học phù hợp với nhận thức và hoạt động
của trẻ 3 tuổi. môi trường xậy dựng phải phù hợp với chủ đề để đáp ứng vận dụng
7
cho trẻ hoạt động ở nhiều các hoạt động có chủ đích hay hoạt động vui chơi tìm
hiểu trong chủ đề. Tuy nhiên với mục tiêu thực hiện các giải pháp để hoàn thành đề
tài sáng kiến kinh nghiệm trong năm học, nên tôi đã quan tâm đặc biệt đến xây
dựng môi trường cho trẻ LQVTPVH.
8
Cứ như vậy giáo viện theo giõi và gợi mở cho trẻ kể chuyện sáng tạo qua mô
hình; sau đó khi vào tổ chức hoạt động cho trẻ cô lại có thể dùng mô hình đó để
giới thiệu chuyện, hướng trẻ vào tâm trạng được giải đáp thắc mắc của trẻ qua việc
cô kể chuyện cho trẻ nghe.
Tương tự như vậy tôi xây dựng thay đổi các hình ảnh, mô hình theo nội dung
các bài thơ, câu chuyện, bài ca giao đồng giao mà trẻ sẽ học hoặc đã học để củng
cố.
Trong mỗi hoạt động của trẻ với môi trường, tôi đều quan sát, tận dụng mọi
tình huống, cơ hội để giúp trẻ gợi nhớ hay khắc sâu các tác phẩm văn học mà trẻ sẽ
được làm quen hoặc đã cho trẻ làm quen. Cũng thông qua môi trường đã xây dựng
giáo viên quan tâm khai thác sự tác động trực tiếp của môi trường đến sự phát triển
ngôn ngữ cho trẻ.
Hình ảnh 1: Xây dụng góc cổ tích tại nhóm lớp
* Xây dựng góc sách
Ngoài việc xây dựng góc cổ tích trong lớp để giúp trẻ làm quen với hình ảnh
gợi mở về các tác phẩm văn học trẻ sẽ được làm quen, hoặc đã được làm quen. Tôi
xây dựng góc sách của lớp. Góc sách cũng là góc được bố trí trong không gian phù
hợp của lớp. Góc sách có nhiều các loại sách, tranh, chuyện tranh có nội dung phù
hợp với nội dung chủ đề. Các sách tranh phải phù hợp với trẻ, là các tranh chuyện
9
mầm non, tranh có ghép chữ to, hình ảnh sinh động hấp dẫn trẻ, có tác động đến trí
tưởng của trẻ.
Xây dựng góc sách để trong các giờ chơi trẻ sẽ chủ động xem tranh, xem
LQVTPVH, gây hứng thú cho trẻ tích cực tham gia hoạt động.
Đây là giải pháp chính để giúp trẻ LQVTPVH. Vì vậy đòi hỏi giáo viên
phải nắm vững phương pháp và nội dung thực hiện các thể loại văn học được gợi ý
trong kế hoạch của chương trình chăm sóc giáo dục. Nghiên cứu các tác phẩm ở
những khía cạnh khác nhau để lựa chọn phương pháp, sáng tạo các hình thức tổ
chức cho trẻ LQTPVH phù hợp, nhằm giúp trẻ thích thú được tham gia vào hoạt
động. Từ việc trẻ thích thú hoạt động thì trẻ mới có thể cảm nhận được nội dung
của bài thơ câu chuyện, trẻ mới có thể thực hiện trả lời được các câu hỏi của cô và
trẻ mới có thể chủ động đặt ra các câu hỏi để thỏa mãn tính tò mò ham hiểu biết của
mình trong các tình tiết của hoạt động.
Trước hết giáo viên phải hiểu được sáng tạo hình thức tổ chức có nghĩa là:
Trong mỗi hoạt động cho trẻ LQVTPVH giáo viên phải nghĩ ra được các hình thức
hoạt động sinh động để chuyển tải nội dung yêu cầu của bài dạy đến với trẻ. Hình
thức đó phải phù hợp với hoạt động của trẻ, có tính mới lạ với trẻ.
Ví dụ:
+ Khi tổ chức hoạt động cho trẻ LQVTPVH - kể chuyên 3 cô tiên. Thông
thường giáo viên vấn thực hiện là: Cho trẻ ngồi vào lớp, dùng lời giới thiệu dẫn dắt
để trẻ biết câu chuyện cô sẽ kể; cô kể diễn cảm lần 1; kể lần 2 theo tranh, kể lần 3
Theo mô hình, đàm thoại theo hệ thống câu hỏi chuẩn bị…
11
Như vậy cũng có thể xem là tổ chức một hoạt động kể chuyện đạt yêu cầu. Nhưng
nếu chỉ như vậy thường xuyên, trẻ sẽ cảm thấy nhàm chán, khả năng tiếp thu của
trẻ hạn chế, trẻ thụ động theo trong tiếp thu kiến thức kỹ năng.
+ Nhưng cũng hoạt động cho trẻ LQVTPVH - kể chuyện 3 cô gái. Tôi sáng
tạo đổi mới hình thức tổ chức bằng cách: Tôi tạo một mô hình khu vườn cổ tích
trong lớp. trước khi vào hoạt động cho trẻ đến tham khu vườn. Trẻ được quan sát
Mô hình với những hình ảnh nhân vật, quang cảnh sinh động mới lạ. như vậy trẻ sẽ
rất thích thú, tập trung chú ý để tìm tòi những điều mới lạ trong hình ảnh các nhân
Với hoạt động ở mọi lúc mọi nơi tôi đã vận dụng phù hợp từng đề tài để dạy
trẻ dạy vào các thời điểm thích hợp.
* Qua giờ đón trả trẻ
Trong giờ đón trẻ tôi có thể cho yêu cầu trẻ đọc các bài thơ, bài ca giao đồng
giao. Tôi có thể hướng dẫn trẻ tự xếp tranh, xem tranh và kể chuyện theo tranh mà
mình vừa xếp được. Qua việc trò chuyên với trẻ tôi đặt những câu hỏi liên quan đến
câu chuyện phù hợp cho trẻ tư duy và trả lời.
Ví dụ: + Hôm qua con đã được nghe cô kể câu chuyện gì?
+ Câu chuyện có nhân vật nào?...
Từ tất cả các hoạt động trong giờ đón trả trẻ, tôi đều tận dụng để giáo dục trẻ
các nội dung phù hợp; đặc biệt là trao đổi trò chuyện với trẻ các nội dung có vấn
đề, các nội dung liên quan đến các tác phẩm văn học, từ đó để khai thác tối ưu tác
động đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
* Thông qua các hoạt động chơi
Thông qua hoạt động vui chơi tôi có thể cho trẻ chơi đóng kịch phản ánh lại
tác phẩm theo hướng dẫn gợi ý của cô; Chơi góc gia đình trẻ ru em bé; trẻ làm cô
giáo dạy học sinh đọc thơ…
13
*Thông qua hoạt động chiều
Tôi có thể đọc kể tác phẩm mới được quy định trong chương trình cho trẻ
nghe hoặc những tác phẩm cô tự chọn phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. việc
ôn luyện tập các tác phẩm đã học trong chương trình giáo viên đọc hoặc kể lại tác
phẩm cho trẻ nghe sau đó yêu cầu trẻ đọc hoặc kể lại theo gợi ý của trong các thời
điểm ngoài giờ học, cô theo dõi sửa sai cho trẻ để trẻ thực hiện đúng yêu cầu mong
đợi của cô. Muốn cho việc ôn luyện hứng thú tham gia tôi tổ chức dưới hình thức
trò chơi: hái hoa, đoán tên, đóng kịch, hay thi biểu diễn giữa cá nhân, các tổ theo
các đề tài.
Hình ảnh 4: Đồ chơi tự làm phục vụ cho trẻ LQVTPVH
6. Giải pháp tuyên truyền phối hợp với phụ huynh
Như chúng ta đã biết, đối với trẻ mầm non môi trường tiếp xúc của trẻ
chủ yếu là gia
15
đình và nhà trường. Chính vì vậy việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một
biện pháp không thể thiếu. Phụ huynh chính là nhân tố quyết định về các điều kiện
cho hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ rất cần thiết phải có đóng góp của phụ huynh.
Trong việc tạo nguồn nguyên liệu, xây dựng môi trường văn học tại trường lớp,
nhất thiết cần đén sự phối hợp của phụ huynh.
Tôi đã quan tâm việc tuyên truyền với phụ huynh bằng nhiều hình thức,
thông qua góc
tuyên truyền trao đổi thường xuyên qua giờ đón trả trẻ; thông qua các kỳ họp phụ
huynh, tôi nêu tầm quan trọng của lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói riêng,
đặc biệt là phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động cho trẻ LQVTPVH.
Tuyên truyền cho phụ huynh hiểu về việc thông qua các hình ảnh sự gợi mở của
người lớn, để trẻ tư duy về hình ảnh đó một cách lô gic, từ nội dung duy, giúp trẻ
nói lên được ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ, thông qua các câu hỏi mà người lớn
gợi ý, hỏi trẻ. Từ đó phụ huynh phối hợp với giáo viên giáo dục trẻ tại gia đình,
giúp việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng kể chuyện sáng tạo của trẻ tốt hơn.
Hàng tháng tuyên truyền với phụ huynh qua các biểu bảng nêu lên nội
dung về chủ điểm, về các câu chuyện sáng tạo của cô và trẻ. Qua đó phụ huynh
thấy được ngôn ngữ của trẻ phát triển như thế nào và có biện pháp kích thích sự
phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình.
Ví dụ: Cô trao đổi với phụ huynh về những hình thức có thể giúp trẻ kể
lại chuyện, đọc thơ ,tư duy sáng tạo câu chuyện trẻ đã kể, yêu cầu phụ huynh về
mục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm.
Tôi đã tìm đến các ông bà cao tuổi trên địa bàn xã, nhờ các ông bà đọc lại
cho các bài hát ru xưa tôi chép lại. tôi sưu tầm trên mạng để có được các bài hát
ru như mong muốn.
Kết quả tôi đã sưu tầm được 32 bài hát ru cổ, 10 bài hát ru lời mới. Giai
điệu các bài hát ru mượt mà ấm áp; nội dung các bài hát ru chứa đựng nhiều
những nỗi niềm sâu lắng mang tính giáo dục cao. Tuy đối với trẻ là rất trừu
tượng, nhưng điều đó luôn tạo ra trong trẻ sự tưởng tượng phong phú, để kích
thích trẻ có thể có nhu cầu hỏi người lớn để được giải đáp. Hoặc sẽ mãi là điều
trẻ nhớ và tưởng tượng trong tâm trí trẻ. Những câu từ trong các bài hát ru
thường lại là những hình ảnh gây được chú ý của trẻ.
Ví dụ:
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ còn bắt ốc đồng sâu chưa về.
Bắt được con trắm con trê
Buộc cổ lôi về nấu nước làm lông.
Miếng thịt thì để phần chồng
17
Miếng xương mẹ gặm, miếng lòng con ăn!
Hay:
Cái bống đi chợ cầu hôn
Sao mày chẳng rủ cái tôm đi cùng?
Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rợ mất chồng.
Ai ơi cho mượn gầu sòng
Tôi tát nước cạn cho chồng tôi lên!
Hay:
triển ngôn ngữ cho trẻ, đáp ứng được kết quả mong đợi về phát triển ngôn ngữ của
trẻ trong độ tuổi. Kết quả được thể hiện trên trẻ cụ thể:
STT
Nội dung khảo sát
Số trẻ
Kết quả khảo sát
Số trẻ
Tỉ lệ Tỉ lệ % tăng so
%
với ban đầu.
1
Khả năng nghe theo yêu 30
27
90
34
cầu độ tuổi.
2
Sử dụng vốn câu từ theo 30
26
86,6
36,6
yêu cầu độ tuổi.
3
Sử dụng ngôn ngữ diễn 30
24
80
34
đạt kể lại chuyên, mô tả
lại sự việc có sự giúp đỡ.
Qua kết quả kiểm nghiệm, tỉ lệ % hiệu quả sau khi tổ chức thực hiện các giải
II. ĐỀ XUẤT
Đề nghị lãnh đạo nhà trường quan tâm nhiều hơn nữa trong việc bổ sung
thêm thiết bị đồ dùng theo hướng hiện đại cho hoạt động văn học nói riêng và các
họat động chăm sóc giáo dục trẻ trong trường nói chung.
Trên đây là một số giải pháp tôi đã áp dụng cho trẻ 3 tuổi LQVTPVH, nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động cho trẻ LQVTPVH, nhằm tác động tích cực đến phát
triển lĩnh vực ngôn ngữ cũng như góp phần phát triển toàn diện cho trẻ. Trong quá
trình tổ chức thực hiện các các giải pháp không tránh khỏi những khiếm khuyết.
Tôi rất mong được hội đồng khoa học ngành và các bạn đồng nghiệp đóng góp ý
kiến cho đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
Ba Đình , ngày 15 tháng 4 năm 2014
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của mình không sao chép
của người khác.
Người viết sáng kiến
Nguyễn Thị Hương
20