BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG 14
PHÂN TÍCH VỐN CỔ PHẦN
GVHD : Nguyễn Thị Uyên Uyên
SVTH : Nhóm 13
Lớp : Đêm 3_K22
Khoa : Tài Chính Doanh Nghiệp
Hệ : Cao Học
TP. Hồ Chí Minh, năm 2014
DANH SÁCH NHÓM
1. Nguyễn Thị Diễm
2. Nguyễn Thị Mai Hương
3. Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Chương 14: Phân tích vốn cổ phần
MỤC LỤC
Lời mở đầu …………………………………………………………………………1
I. Mục tiêu phân tích vốn cổ phần ……………………………………………… 2
II. Định giá cổ phần thông qua mô hình chiết khấu cổ tức………………… …….2
1. Mục tiêu………………………………………………………………………….2
2. Phương pháp và nội dung phân tích ……………………………………… 3
3. Một số lưu ý khi định giá cổ phiếu ……………………………… 9
III. Phương pháp định giá cổ phiếu theo hệ số giá trên thu nhập (P/E) ………… 10
1. Mục tiêu……………………………………………………………………… 10
2. Nội dung phân tích…………………………………………………………… 10
3. Ưu và nhược điểm của phương pháp định giá theo hệ số P/E………………….12
4. Sự thay đổi trong tỷ số P/E…………………………………………………… 12
5. Bình thường hóa thu nhập…………………………………………………… 13
6. Hệ số tăng trưởng bền vững……………………………………………………13
IV. Phân tích Dupont ….…………………………………………………………14
I. Mục tiêu phân tích vốn cổ phần
Phân tích vốn cổ phần nhằm hiểu được cái gì quyết định giá trị cổ phiếu và xem xét
cổ phiếu đã được định giá đúng hay chưa, từ đó đưa ra các chiến lược tài chính và đầu tư
thích hợp trong từng thời kỳ (đối với nhà quản lý) và đưa ra các quyết định đầu tư sáng
suốt (đối với nhà đầu tư).
Ai cũng biết cổ phần mang rủi ro và một số cổ phần có rủi ro cao hơn các cổ phần
khác. Các nhà đầu tư sẽ không bỏ vốn đầu tư vào cổ phiếu trừ khi suất sinh lợi kỳ vọng là
tương ứng với mức rủi ro.
Các nhà quản lý cũng cần hiểu rõ được cách định giá cổ phần để có thể xác định
được giá trị cổ phiếu đến từ đâu, từ đó đưa ra các quyết định chính xác để làm tăng giá trị
chủ sở hữu của các cổ đông. Khi nhà quản lý nhận thấy cổ phiếu của công ty đang được
định giá cao nhà quản lý có thể phát hành thêm cổ phần. Trong trường hợp ngược lại, nếu
giá cổ phiếu của công ty đang bị định giá thấp, công ty có thể đề ra kế hoạch mua lại cổ
phiếu của chính mình.
Như vậy, việc phân tích vốn cổ phần giúp chúng ta đánh giá được tình hình của
doanh nghiệp, là cơ sở cho các tổ chức, cá nhân và nhà đầu tư ra quyết định đầu tư vào
các loại chứng khoán do doanh nghiệp phát hành trên thị trường tài chính. Phân tích vốn
cổ phần giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định tài chính và đầu tư phù hợp để làm
tăng giá trị cho chủ sở hữu. Ngoài ra, phân tích vốn cổ phần để xác định giá trị doanh
nghiệp, từ đó làm cơ sở cho các hoạt động sáp nhập, mua lại, hợp nhất, giải thể, thanh lý
tài sản hay thành lập các liên doanh, cổ phần hóa…
II. Định giá cổ phiếu thông qua mô hình chiết khấu cổ tức
Trong phần này, chúng ta sử dụng mô hình chiết khấu cổ tức để định giá cổ phiếu.
Mô hình chiết khấu cổ tức phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức tương lai và giá cổ phiếu
hiện tại, được xây dựng dựa trên nguyên tắc chiết khấu các dòng tiền (dòng thu nhập)
trong tương lai về hiện tại theo một mức lãi suất chiết khấu phù hợp có tính đến rủi ro
của doanh nghiệp.
1. Mục tiêu
Mục tiêu của mô hình chiết khấu cổ tức là định giá cổ phiếu công ty dựa trên mức
cổ tức, tỷ suất sinh lợi yêu cầu và tốc độ tăng trưởng cổ tức. Đánh giá suất sinh lợi kỳ
cổ phiếu sẽ có giá cao hơn trong tương lai so với ngày hôm nay. Người phân tích có thể
kết hợp với sự kỳ vọng gia tăng cổ tức vào tính toán giá trị hiện tại để có thể tính được
7
giá cổ phiếu mà không phải quan tâm đến quyết định và đánh giá lại giá trị tương lai. Bây
giờ, chúng ta sẽ đi vào phân tích công thức cụ thể.
Tiền mà chủ sở hữu cổ phiếu thường kiếm được có hai dạng: (1) cổ tức và (2) lãi
hay lỗ vốn.
Giả sử: + giá hiện hành của một cổ phiếu là P
0
,
+ giá kỳ vọng vào cuối năm một là P
1
,
+ cổ tức kỳ vọng trên mỗi cổ phiếu là DIV
1
.
Suất sinh lợi mà người đầu tư kỳ vọng từ cổ phiếu này trong năm tiếp theo được
tính theo công thức:
Suất sinh lợi kỳ vọng này của người đầu tư thường được gọi là suất huy động vốn
của thị trường.
Giả sử cổ phiếu công ty A đang bán với giá $100 mỗi cổ phần. Người đầu tư kỳ
vọng sẽ nhận được $5 cổ tức trong năm tới. Họ còn kỳ vọng rằng cổ phiếu đó sẽ bán
được $110 sau một năm. Như thế suất sinh lợi kỳ vọng của cổ đông là:
r = = 15%
Tương tự, nếu chúng ta có các dự báo của người đầu tư về cổ tức, giá, và suất sinh
lợi kỳ vọng của những cổ phiếu có mức rủi ro tương đương khác, thì chúng ta có thể dự
đoán giá hôm nay:
Đối với công ty A, DIV
1
= 5 và P
sẽ tiến đến zero. Do đó, chúng ta có thể hoàn toàn bỏ qua giá cuối cùng và thể hiện giá
hôm nay như là giá trị hiện tại của của một chuỗi vô tận của các cổ tức. Biểu thức thường
dùng là:
Khi thời gian càng dài, hiện giá của các dòng cổ tức tăng dần (phần không tô đen),
giá trị hiện tại của giá tương lai giảm dần (phần tô đen)
9
Lưu ý: sẽ không đúng nếu nói rằng giá trị của một cổ phiếu bằng tổng dòng lợi
nhuận chiết khấu trên mỗi cổ phiếu. Lợi nhuận (earnings) thường lớn hơn cổ tức bởi vì
một phần của lợi nhuận được tái đầu tư vào nhà máy, thiết bị và vốn lưu động mới. Chiết
khấu dòng lợi nhuận sẽ ghi nhận các lợi ích của khoản đầu tư đó (cổ tức cao hơn trong
tương lai) nhưng lại bỏ sót sự hy sinh (cổ tức thấp hơn trong hiện tại). Công thức đúng là:
giá trị cổ phiếu bằng giá trị chiết khấu của dòng cổ tức trên mỗi cổ phiếu.
Trong thực tế các nhà đầu tư chia cổ phiếu thành hai loại: cổ phiếu tăng trưởng và
cổ phiếu thu nhập. Bây giờ chúng ta sẽ đi vào tính toán giá của từng loại cổ phiếu cụ thể.
Đối với các công ty không tăng trưởng: Nó không giữ lại thu nhập và chỉ tạo một
dòng cổ tức không đổi. Tất cả lợi nhuận được chi trả thành cổ tức, suất sinh lợi kỳ vọng
cũng bằng với lợi nhuận mỗi cổ phiếu chia cho giá cổ phiếu (tức hệ số lợi nhuận trên
giá).
Trong đó:
- P: giá cổ phiếu hiện tại
- DIV: mức cổ tức hiện tại
- r: tỷ suất sinh lợi yêu cầu
Đối với các công ty tăng trưởng: nhà phân tích chiết khấu các dòng cổ tức trong
tương lai về mức giá hiện tại, giả sử công ty có tốc độ tăng trưởng đều g, khi đó:
10
Giá cổ phiếu: P =
P = + +… +
Trong đó:
- P: giá hiện tại của cổ phiếu
- DIV: mức cổ tức hiện tại
P =
*
t t t
D p EPS
=
thể vay nợ để thanh toán cổ tức đang trải qua sự thiếu thanh khoản nhẹ. Tương tự, đối với
các công ty có lợi nhuận, dù lợi nhuận của công ty đang có xu hướng tăng nhưng các
công ty này cũng sẽ không tăng cổ tức ngay lập tức. Do đó, khi tính toán D cần chú ý đến
những thay đổi trong khả năng tạo ra dòng tiền của công ty.
Tỷ suất sinh lợi yêu cầu: trong bài phân tích này chúng ta sẽ không đi sâu vào cách thức
tính toán suất sinh lợi yêu cầu. Có nhiều cách để tính toán suất sinh lợi yêu cầu như mô
hình CAPM, mô hình APT… Chúng ta cũng có thể sử dụng công thức sau để tính suất
sinh lợi yêu cầu:
Trong thực tế, việc ước tính r gặp một số khó khăn, chúng ta nên sử dụng một mẫu
lớn gồm các chứng khoán có mức rủi ro tương đương vì các sai số tất yếu khi ước tính r
cho một chứng khoán duy nhất có khuynh hướng loại trừ lẫn nhau trong một mẫu lớn.
Xác định tốc độ tăng trưởng:
Để dự đoán tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai, người phân tích phải phán
đoán được tình hình của cả mức tăng trưởng thị trường của công ty và khả năng của công
ty để duy trì hoặc tăng thị phần của nó ở thị trường đó. Hơn nữa, tỷ lệ tăng trưởng lợi
nhuận của công ty có thể khác so với tốc độ tăng trưởng doanh thu vì những thay đổi
trong lợi nhuận hoạt động biên mà có thể phản ánh hoặc không phản ánh được xu hướng
của ngành.
Các xác định tốc độ tăng trưởng có 2 cách:
• Căn cứ vào dữ liệu quá khứ: có thể tính toán tốc độ tăng trưởng của EPS từ các tốc độ
tăng trưởng g trong quá khứ. Có thể ước tính g theo nhiều cách: trung bình số học và
trung bình hình học; mô hình giản đơn và mô hình hồi qui. Tuy nhiên, khi sử dụng tốc độ
tăng trưởng trong quá khứ thì:
- Không thể sử dụng đối với những DN mới thành lập do không đủ dữ liệu theo yêu cầu
của thống kê.
chu kỳ kinh doanh nhưng không bao giờ chạm đáy vì tại đó các nguồn quỹ từ hoạt động
kinh doanh, nguồn chi tiêu vốn ròng cho duy trì tính cạnh tranh lâu dài không thể đảm
bảo thanh toán cổ tức. Nhiều nhà phân tích lý luận rằng dòng tiền là yếu tố quyết định
cho khả năng thanh toán cổ tức hơn là lợi nhuận. Mở rộng ra, họ tranh luận rằng dự báo
dòng tiền nên là trọng tâm của phân tích vốn chủ sở hữu hơn là dự báo lợi nhuận trên mỗi
cổ phiếu.
III. Phương pháp định giá cổ phiếu theo hệ số giá trên thu nhập (P/E)
1. Mục tiêu
13
Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu, gọi tắt là Tỷ số P/E, P/E (viết tắt của cụm
từ Price to Earning Ratio), là tỷ số tài chính dùng để đánh giá mối liên hệ giữa thị giá
hiện tại của một cổ phiếu và tỷ số thu nhập trên cổ phần, hay cho biết giá cổ phiếu hiện
tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một
đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất
cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.
2. Nội dung phân tích
Tỷ số P/E được tính bằng cách lấy giá thị trường bình quân của cổ phiếu do doanh
nghiệp phát hành trong một kỳ nhất định chia cho thu nhập bình quân trên một cổ phần
mà doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư trong kỳ đó.
Tỷ số P/E =
Trong đó: Giá thị trường (P) của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua
bán ở thời điểm hiện tại; Thu nhập của mỗi cổ phiếu (EPS) là phần lợi nhuận ròng sau
thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất.
Tỷ số P/E thấp thì có nghĩa là lợi nhuận trên một cổ phần của công ty càng cao hoặc
giá trị trường của cổ phiếu thấp. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư
dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư
thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung
bình và sẽ trả cổ tức cao.
Tính toán tỷ số P/E thường trên cơ sở số liệu của công ty trong vòng một năm. Tuy
nhiên, do lợi nhuận của công ty chịu tác động của nhiều yếu tố, nên có thể lên cao, xuống
P/E = 17,987
Ý nghĩa: Nhà đầu tư bỏ 1 đồng vốn sẽ nhận được 17,987 đồng thu nhập từ cổ phiếu
của công ty Vinamilk
So sánh với một công ty khác trong cùng ngành là Hanoimilk , ta thấy chỉ số giá
trên thu nhập của Hanoimilk năm 2013 là 42,25.
Chỉ số giá trên thu nhập của Hanoimilk cao hơn khá nhiều so với Vinamilk
3. Ưu và nhược điểm của phương pháp định giá theo hệ số P/E
a. Ưu điểm:
- Đơn giản và dễ tính toán.
- EPS, Khả năng tạo ra thu nhập chính là động cơ chính của bất kỳ một khoản đầu tư nào,
do đó thu hút sự quan tâm đối với cộng đồng phân tích cổ phiếu.
b. Nhược điểm :
- EPS có thể bị bóp méo bởi các công tác kế toán, khiến cho khả năng so sánh giữa các P/E
bị tác động.
- P/E thường không áp dụng cho những công ty mới hoặc những công ty đang trong giai
đoạn khởi sự
- EPS có thể âm và P/E không có một ý nghĩa kinh tế nào khi có mẫu số âm.
- Thu nhập có thể rất biến động, khiến cho việc so sánh P/E qua các năm khác nhau hay
giữa các công ty với nhau rất khó khăn và không có nhiều ý nghĩa.
15
4. Sự thay đổi trong tỷ số P/E:
Giải thích cho sự khác nhau của hệ số P/E là do sự khác nhau của các công thức
đánh giá trước đây. Xem xét 2 công thức sau:
P = và =
Trong đó: P: Giá hiện tại của cổ phiếu
D: Mức cổ tức hiện tại
K: Tỷ suất sinh lợi yêu cầu
g: Tỷ lệ tăng trưởng
P/E: Tỷ số giá trên lợi nhuận
EPS: LN trên mỗi cổ phiếu hiện tại (tính theo năm)
bên trái công thức, hay giảm số lượng cổ phiếu phát hành sẽ làm cho thu nhập trên
mỗi cổ phiếu tăng. Nhà quản trị nhạy bén có thể đẩy mạnh hệ số vòng quay tài sản, tuy
nhiên tài sản sẽ đạt đến mức giới hạn trong khả năng sản xuất của họ. Tương tự, tỷ suất
lợi nhuận trên doanh thu cũng khó tăng lên vô hạn bởi khi lợi nhuận biên quá lớn sẽ gia
tăng tính cạnh tranh. Tỷ suất vay nợ cũng có giới hạn bởi vì người cho vay sẽ không tiếp
tục khi rủi ro tài chính gia tăng. Như thế chỉ còn lại giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu,
thành phần có thể tăng không ngớt thông qua lợi nhuận chưa phân phối - một nguồn
tăng trưởng bền vững của thu nhập trên mỗi cổ phiếu.
Nhằm đạt sự tăng trưởng bền vững về thu nhập trên mỗi cổ phiếu, công ty sẽ phải
giữ lại phần trăm thu nhập. Giữ lại càng nhiều thì giá trị sổ sách càng tăng vào mỗi cổ
phiếu và hệ số tăng trưởng của EPS càng cao. Vì lý do đó, ta có công thức sau:
Hệ số tăng trưởng bền vững = tỷ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu x tỷ lệ LNGL
Với Tỷ lệ LNGL = 1- tỷ lệ chi trả cổ tức
Cách gia tăng EPS còn lại là giảm số lượng cổ phiếu phát hành, có thể thông qua việc
mua lại cổ phiếu. Tuy nhiên, nhà phân tích nên lưu ý một sự tinh tế trong cách tính tác
động của việc mua lại cổ phiếu vào thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). Nói cách khác,
công ty tạo quỹ mua lại với lượng tiền nhàn rỗi, sự gia tăng trong EPS được bù đắp bằng
một khoản giảm phát sinh từ thu nhập đầu tư bị bỏ qua.
IV. Phân tích Dupont
1. Khái niệm
Mô hình Dupont là kỹ thuật phân tích tài chính bằng cách tách một tỷ số tổng hợp
thành tích của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau hay tách một chỉ tiêu
thứ cấp thành nhiều chỉ tiêu sơ cấp.
17
2. Nguồn gốc mô hình
Mô hình phân tích tài chính Dupont được phát minh bởi F.Donaldson Brown, một
kỹ sư điện người đã gia nhập bộ phận tài chính của công ty hóa học khổng lồ này. Một
vài năm sau đó, Dupont mua lại 23% cổ phiếu của tập đoàn General Motors . Và giao cho
Brown tái cấu trúc tình hình tài chính lộn xộn của nhà sản xuất xe hơi này. Đây có lẽ là
lần cải tổ trên qui mô lớn đầu tiên ở Mỹ.Theo Alfred Sloan, nguyên chủ tịch của GM,
Hệ số vòng quay TS
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
=
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
=
Lợi nhuận ròng sau thuế
Tổng tài sản
chỉ tiêu này, tức là chưa biết đựơc ra nguyên nhân sâu xa gây ra sự biến động của nó, do
đó ta sẽ phân tích chỉ tiêu này thông qua mô hình Dupont:
Mô hình phân tích Dupont được thể hiện qua sơ đồ sau:
Mô hình phân tích tài chính Dupont ta thấy, số vòng quay tài sản càng cao, điều đó
chứng tỏ rằng sức sản xuất tài sản của doanh nghiệp ngày càng lớn. Do vậy làm cho
ROA càng lớn, để nâng cao số vòng quay của tài sản, một mặt phải tăng quy mô về
doanh thu thuần, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý hơn cơ cấu của tổng tài sản.
Như vậy, doanh thu thuần và tổng tài sản bình quân có mối quan hệ mật thiết với nhau
(thông thường là mối quan hệ cùng chiều). Nghĩa là tổng tài sản tăng thì doanh thu thuần
cũng tăng.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phụ thuộc vào 2 nhân tố cơ bản là: lợi nhận ròng
sau thuế và doanh thu thuần, hai nhân tố này có mối quan hệ cùng chiều. Nghĩa là doanh
19
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản = Hệ số vòng quay tài sản x Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Lợi nhuận ròng
sau thuế
Đo lường hiệu quả trong việc sử
dụng tài sản để tạo ra doanh thu.
Đo lường hiệu quả chung về khả
năng sinh lợi bằng tài sản hiện
có.
Đo lường khả năng sinh lợi trên
doanh, cơ cấu nguồn vốn, mỗi một lĩnh vực ngành nghề kinh doanh sẽ cho một cơ cấu
khác. nhau
Từ công thức trên ta thấy có 3 chỉ số để quản lí ROE
- Tỷ suất sinh lời của doanh thu (P): lãi ròng thu được trên mỗi đồng doanh thu hay còn gọi
là tỷ suất lợi nhuận ròng.
- Vòng quay tài sản (A): doanh thu tạo được từ mỗi đồng tài sản.
20
- Đòn bẫy tài chính (T): lượng VCSH được sử dụng để tài trợ (tài chính) cho tài sản ở
công ty. Ngoài ra còn một số trường hợp ngoại lệ là bất cứ hoạt động nào mà nhà quản trị
làm để nâng cao hệ số này đều làm tăng ROE.
Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp
làm tăng ROE như sau:
- Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ
vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động.
- Tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa
tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài
sản.
- Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó tăng lợi nhuận
của doanh nghiệp.
6. Ưu nhược điểm của mô hình.
a. Ưu điểm:
o Tính đơn giản. Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn bản
giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty.
o Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên.
o Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm
chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng. Đôi khi điều cần làm trước tiên là
nên nhìn vào thưc trạng của công ty. Thay vì tìm cách thôn tính công ty khác nhằm tăng
thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy mô, để bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém.
b. Nhược điểm:
o Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy.
quyết định liên quan đến chính sách tài chính, các hoạt động cụ thể của công ty. Trong
nội bộ doanh nghiệp, người quản lý, người lao động và cổ đông đều mong muốn công ty
kinh doanh có hiệu quả và phát triển bền vững. Nhưng do sự khác biệt về lợi ích giữa các
cổ đông, sự tách biệt giữa người quản lý và quyền sở hữu đã tạo nên những xung đột về
lợi ích:
Một là: xung đột về lợi ích giữa cổ đông thiểu số với nhóm cổ đông sở hữu đa
số cổ phần nắm quyền kiểm soát công ty.
Hai là: xung đột giữa cổ đông với những người quản lý doanh nghiệp.
Nhìn chung, những nhà quản lý thích duy trì một sự chắc chắn trong quá trình hoạt
động, đó là khả năng dự trữ để đối phó với khủng hoảng và nắm bắt các cơ hội. Thông
thường, các nhà quản lý chỉ cần công ty tạo ra thu nhập, một thu nhập với rủi ro chấp
nhận được với các công cụ tài chính ngắn hạn. Nhưng các cổ đông thì lại mong muốn
tiền của doanh nghiệp sẽ được dùng để mua lại cổ phần hoặc chi trả cổ tức.
22
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và phát triển kinh tế, những tranh cãi về các vấn đề
liên quan đến chính sách tài chính, chính sách hoạt động của công ty giữa các nhà quản lý
và cổ đông đã cho thấy nhiều chiến thuật khác nhau như là: các cổ nhỏ lẻ liên kết với
nhau hoặc liên kết với các cổ đông lớn, cổ đông chiến lược, nhà đầu tư tổ chức để gây
sức ép, buộc các nhà quản lý phải thay đổi cách vận hành công ty (ví dụ: bán những tài
sản không cần thiết cho việc kinh doanh để phân phối lại cho cổ đông…) hay việc các
nhà đầu tư tổ chức gia tăng tầm ảnh hưởng của họ lên ban quản trị công ty nhờ nắm giữ
một lượng lớn cổ phần (như là: thúc giục công ty gia tăng giá cổ phiếu bằng các biện
pháp như tinh giản hoạt động, thoái đầu tư ở những nơi không mang lại lợi nhuận và sử
dụng tiền mặt dư thừa để mua lại cổ phần…). Hầu hết các tổ chức sẽ bán cổ phần đi nếu
ý định của họ không đạt được. Tuy nhiên, với một số các cổ đông tích cực, bằng việc
thông qua các cuộc chiến uỷ nhiệm, các cổ đông này sẽ làm mọi cách để đạt được quyền
kiểm soát chủ yếu của hội đồng công ty thông qua việc chọn giám đốc tại các cuộc họp
cổ đông hàng năm.
Phương pháp: Các công ty cổ phần tư nhân cố gắng nâng cao khả năng thành công
thông qua các cách sau:
Sau khi thanh tóan khoảng 1/3 lợi nhuận của nó dưới dạng cổ tức và phần bù đắp
khấu hao thông qua mua sắm mới nhà xưởng và thiết bị, công ty tạo ra được 30 triệu $
trong năm 2010. Các nhà quản lý đương nhiệm dùng khoản tiền này để giảm bớt nợ có
trong cơ cấu nợ của chỉ số nợ trên tổng ngùôn vốn (36%) và thêm vào danh mục chứng
khóan có thể bán ngay.
Ngày 31 tháng 12 năm 2010
(Đơn vị tính: $000.000)
Bảng cân đối kế tóan Bảng lưu chuyển tiền tệ
Tài sản ngắn hạn
Nhà xường, máy móc và
thiết bị
Tổng tài sản
Nợ ngắn hạn
Nợ vay dài hạn
Vốn chủ sở hữu
Tổng nợ và vốn chủ sở
hữu
$594
406
$1.000
$350
237
413
$1.000
Thu nhập ròng
Khấu hao
Tiền tạo ra từ hoạt động
Cổ tức
Chỉ tiêu vốn
Vốn lưu động tăng
19
167
102
$65
24
Giả định người cho vay và trái chủ sẵn lòng tài trợ cho những dự án công ty mua lại
bằng vốn vay mà chỉ có chỉ số EBITDA là 2,5 lần
EBITDA = thu nhập từ hoạt động + khấu hao
= 186 + 38 = 224 triệu $
Tổng lãi mà EBITDA có thể tài trợ là 224/2,5 = 90 triệu $ (tăng hơn hiện tại 71
triệu $)
Giả định lãi suất vay là 10%/năm Công ty có thể vay thêm 710 triệu $ và tạo ra
tổng nợ mới là 947 triệu $.
Cơ cấu cho vay hiện hành yêu cầu vốn chủ sở hữu chiếm ít nhất 25% trong tổng
giao dịch thì khi thực hiện cần có thêm 320 triệu $ để tổng nguồn vốn là 1.267 triệu $
Người thâu tóm có thể thanh tóan pohần vựơt 30% (1.267/975=1,3) thông qua giá
trị vốn hóa thị trường của Sitting Duck. Giá mua bằng với hệ số 19,5 lần thu nhập (cao
hơn hệ số 15 lần được ấn định bởi thị trừơng). Tuy nhiên người tài trợ cho LBO có đựơc
con số này thông qua việc đo lường dòng tiền hơn là tính toán thu nhậo. Hệ số EBITDA
đề nghị là 5,7 lần.
Cuối cùng với những người chủ mới thì nhiều giao dịch như vậy đã chứng minh
đựơc mức lợi nhuận cao thông qua việc bán công ty hoặc tiến hành phát hành cổ phiếu
lần đầu là cách đưa công ty quay trở lại thị trường. Trong vài trường hợp, người tài trợ
cho việc mua bán như vậy sẽ lấy đi phần nào đó cổ tức trước khi đưa công ty trở lại với
thị trường. Việc mua lại công ty khi nó được định giá thấp và bán lại khi nó được định
giá cao là công thức để thành công
Vấn đề là hoạt động mua bán LBO và hệ số EBITDA có xu hướng đi theo những
cuộc khủng hoảng và những đợt suy giảm của thị trường chứng khóan. Cúôi chu kỳ giao
dịch do đó trở thành bất ổn bởi thu nhập giảm sâu, khiến cho nó khó khăn trong việc
trang trải các chi phí lớn gia tăng do tăng lãi suất tại thời điểm thóat khỏi giao dịch thông