Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng đại học kinh tế quốc dân
NGUYễN MINH TUấN
TáC ĐộNG CủA CÔNG TáC QUảN Lý TàI CHíNH ĐếN CHấT
LƯợNG GIáO DụC ĐạI HọC - NGHIÊN CứU ĐIểN HìNH TạI
CáC TRƯờNG ĐạI HọC THUộC Bộ CÔNG THƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 62340201
Hà Nội - 2015
1
ơ
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu luận án
Luận án "Tác động của công tác quản lý tài chính đến chất
lượng giáo dục đại học - Nghiên cứu điển hình tại các trường đại học
thuộc Bộ Công Thương" được thực hiện với mục đích phân tích và tìm
kiếm các minh chứng của tác động của quản lý tài chính đến chất lượng
GDĐH, từ đó có thông tin phản hồi về chất lượng GDĐH tại các trường
đại học được chọn làm nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp hoàn
thiện công tác quản lý tài chính tại trường đại học nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục. Luận án được trình bày trong 216 trang (bao gồm cả tài
liệu tham khảo và các phụ lục), trong đó chương 1 (22 trang), chương 2
(35 trang), chương 3 (58 trang), chương 4 (28 trang). Luận án đã phân tích
và xác định được tác động của quản lý tài chính đến chất lượng GDĐH
qua các số liệu thống kê và điều tra khảo sát tại 08 trường đại học thuộc
BCT và đề xuất một số giải pháp ở cấp vĩ mô và vi mô nhằm hoàn thiện
công tác quản lý tài chính tại các trường đại học với việc nâng cao chất
lượng giáo dục.
2. Lý do nghiên cứu
GDĐH Việt Nam hiện nay đang gặp phải một trong những khó
khăn lớn nhất là chất lượng và tài chính. Các nhà hoạch định chính sách
đang đặt câu hỏi liệu ngân quỹ nhà nước nên đóng góp bao nhiêu cho
GDĐH, việc đầu tư tài chính của các trường vào các yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng đã đầy đủ và kịp thời chưa ? những đầu tư của các
trường vào các yếu tố này đã đáp ứng được yêu cầu khách hàng chưa ?
và đặc biệt là nó có làm gia tăng chất lượng không ?
Nhằm tìm kiếm các minh chứng để làm rõ một số khía cạnh nêu
định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính được sử dụng
ở giai đoạn đầu khi phân tích xác định tác động của quản lý tài chính tới
chất lượng GDĐH thông các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDĐH
tại các trường đại học và tìm kiếm các minh chứng về mối quan hệ của
các yếu tố này. Nghiên cứu định lượng được sử dụng cung cấp các
thông tin phản hồi của GV, SV cho các trường đại học về kết quả của
3
hoạt động tài chính cho các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục,
và của người sử dụng lao động về chất lượng giáo dục thông qua phân
tích kết quả khảo sát và phân tích hồi quy.
5 . Khung nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết của Mailcolm Prowle và Eric
Morgan (2005), nghiên cứu của B.Paulsen và C.Smart (2001) về quản lý,
kiểm soát tài chính, chất lượng trong GDĐH và sử dụng bộ thang đo
trong mô hình quản lý chất lượng EFQM, thang đo trong bộ tiêu chuẩn
AUN-QA (ASEAN University Network - Quality Assurance) và bộ tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng GDĐH của Bộ GD&ĐT.
6. Những đóng góp của luận án mới
6.1. Về mặt lý luận
Luận án đã xác định được quản lý tài chính trong GDĐH không tác
động trực tiếp đến chất lượng GDĐH mà tác động đến chất lượng GDĐH
thông qua các yếu tố đảm bảo chất lượng (chương trình đào tạo, đội ngũ
giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu phục vụ dạy học và quản lý hoạt động
đào tạo). Đồng thời luận án xây dựng được hai phương thức đánh giá chất
lượng GDĐH là dựa trên chỉ số cải tiến chất lượng (tỷ lệ sinh viên tăng ở
mức khá, giỏi và giảm ở mức trung bình, yếu qua từng năm; tỷ lệ giảng
viên và cán bộ quản lý giáo dục đạt trình độ đào tạo cao hơn; đầu tư nhiều
hơn vào cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo) và chỉ số năng lực, phẩm
chất đạo đức của sinh viên.
1.1. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Yếu tố chất lượng và ảnh hưởng đến chất lượng GDĐH
Hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm về chất lượng khác nhau,
do đó có các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục khác nhau. Với quan
điểm tiếp cận thị trường, nghiên cứu sẽ tiếp cận yếu tố chất lượng giáo
dục đại học theo hai nhóm năng lực và phẩm chất đạo đức của sinh
viên. Dựa trên cách tiếp cận này sẽ giúp nghiên cứu đánh giá tác động
của hiệu quả quản lý tài chính tới chất lượng giáo dục sát với thực tế
hơn, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu sẽ tốt hơn.
5
1.1.2. Ảnh hưởng của quản lý tài chính đến chất lượng GDĐH
- Tiếp cận theo cơ chế quản lý: Cơ chế quản tài chính của chính
phủ chủ yếu tập trung vào điều tiết nguồn tài chính do nhà nước cấp
dưới hình thức tài trợ trực tiếp từ chính phủ cho các yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng giáo dục như đầu tư cơ sở hạ tầng, trả lương cho giảng
viên và nhân viên quản lý; trong trường hợp không có trợ cấp, chi phí
cho hoạt động GDĐH sẽ là quá cao đối với các trường.
- Tiếp cận theo cơ cấu sử dụng nguồn tài chính: Việc sử dụng
nguồn lực tài chính tập trung vào vấn đề phải có khung pháp lý rõ ràng,
minh bạch về quản lý tài chính trong GDĐH, quy định rõ tỷ lệ đầu tư
tối thiểu hàng năm/tổng thu cho các yếu tố đảm bảo chất lượng; đưa mô
hình kiểm soát tài chính trong trường học sát với mô hình kiểm soát các
công ty phi lợi nhuận; coi chênh lệch thu chi của các trường học là lợi
nhuận công, phân bố lợi nhuận công cho tất cả các SV (học bổng), GV
(thu nhập) trong trường được hưởng thụ.
- Tiếp cận theo hướng kiểm soát chi nguồn lực tài chính: Quản lý
tài chính trong giáo dục cũng phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng và đào
tạo nhân viên, do vậy các nhà trường nếu muốn có chi phí thấp nhất mà
CƠ SỞ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
2.1. Khát quát về hệ thống GDĐH
Số lượng trường đại học và cao đẳng của Việt Nam thuộc diện
cao trên thế giới (tính bình quân trên đầu người). Tổng số lượng trường
đại học, cao đẳng tính đến 8/2013 là 421 trường, trong đó có 207 trường
đại học được chia đều cho các vùng miền (không bao gồm các trường
khối an ninh, quốc phòng).
2.2. Chất lƣợng GDĐH và các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng
GDĐH
2.2.1. Chất lượng GDĐH
7
Chất lượng luôn là vấn đề được ưu tiên hàng đầu của tất cả các
trường đại học, và việc phấn đấu nâng cao chất lượng bao giờ cũng
được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo đại học
nào. Với mục tiêu nghiên cứu là tìm kiếm các minh chứng về sự cải tiến
chất lượng giáo dục trong các cơ sở GDĐH dưới tác động của quản lý
tài chính trong GDĐH, nghiên cứu sinh tiếp cận theo khía cạnh chất
lượng GDĐH là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (khách hàng ở đây
được hiểu là GV, SV và người sử dụng lao động được đào tạo).
2.2.2.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDĐH và tiêu chí đánh giá
Với cách tiếp cận khía niệm về chất lượng nêu trên thì chấ lượng
GDĐH ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: chương trình đào tạo; đội ngũ
giảng viên; cơ sở vật chất; học liệu phục vụ học tập; quản lý hoạt động
đào tạo.
Từ cách tiếp cận chất lượng GDĐH là sự đáp ứng nhu cầu của
khách hàng và tiêu chí đánh giá chất lượng GDĐH dựa trên năng lực
hưởng đến chất lượng GDĐH (chương trình đào tạo, đội ngũ giảng
viên, cơ sở vật chất, học liệu phục vụ dạy học, và quản lý hoạt động đào
tạo). Vì vậy khi xem xét quản lý tài chính tác động đến chất lượng
GDĐH là xem xét cơ cấu sử dụng tài chính cho các yếu tố này.
2.5. Vai trò của quản lý tài chính trong việc nâng cao chất lƣợng
giáo dục
Hoạt động quản lý tài chính trong GDĐH xét về bản chất chính là
quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến việc tạo lập,
phân phối, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả nguồn tài chính. Hoạt
động quản lý tài chính giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả hoạt động của trường và nâng cao chất lượng giáo dục. Vai trò này
được thể hiện ở việc ra quyết định đầu tư và huy động vốn kịp thời đầy
đủ cho hoạt động đào tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn.
9
2.6. Kinh nghiệm quốc tế về tác động của quản lý tài chính tới nâng
cao chất lƣợng GDDH
- Kinh nghiệm của Trung Quốc
- Kinh nghiệm của Singapore
- Kinh nghiệm của Nhật Bản
CHƢƠNG 3
TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐẾN CHẤT LƢỢNG
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC - NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI CÁC
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƢƠNG
3.1. Khái quát về các trƣờng đại học thuộc BCT
- BCT hiện quản lý trực tiếp 08 trường đại học công lập, đó là:
Đại học Công nghiệp Hà Nội; Đại học Công nghiệp TP. HCM; Đại học
Công nghiệp Thực phẩm TP. HCM; Đại học Công nghiệp Quảng Ninh;
không phân biệt giữa ngành kỹ thuật công nghệ và ngành kinh tế; kinh
phí mua trang thiết bị đào tạo bình quân đạt khoảng 500 triệu
đồng/trường/năm).
- Bình quân giai đoạn 2009-2013, BCT cấp ngân sách cho các
trường là 21.551 triệu đồng/năm/trường, trong đó cao nhất là năm 2011
(29.584 triệu đồng/trường), thấp nhất là năm 2012 (15.246 triệu
đồng/trường). Tỷ chi ngân sách cho giáo dục của BCT thấp hơn nhiều
so với các bộ ngành khác (đạt 55,7% so với Bộ GD&ĐT; 37,9% so với
Bộ Y tế và 41,2% so với Bộ Xây dựng).
3.1.2.2. Quản lý tài chính tại các trường đại học thuộc BCT
- Về nguồn thu tài chính: Nguồn thu tài chính của các trường đại
học thuộc BCT chủ yếu từ nguồn NSNN và nguồn thu sự nghiệp, trong
đó 82,4% là nguồn thu sự nghiệp, NSNN chỉ chiếm 17,6%. Nguồn thu
sự nghiệp của các trường rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng số
nguồn thu nhưng lại chủ yếu là từ học phí và lệ phí (chiếm 65,3% trong
tổng thu sự nghiệp, chiếm 53,8% trong tổng số nguồn thu); nguồn thu
sự nghiệp khác của các trường có tỷ lệ thấp (chiếm 34,7% trong tổng
thu sự nghiệp và 28,6% trong tổng thu). Tổng thu trung bình/SV/năm
11
của các trường đại học thuộc BCT là không cao (đạt 73,2% so với các
trường của Bộ GD&ĐT, 79,2% các trường của Bộ Xây dựng).
- Về chi tài chính: Tổng chi của các trường phần lớn là chi
thường xuyên (trung bình chiếm 51,83%/năm), Các nguồn chi khác
chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (chương trình mục tiêu chiếm 2,49%, đào tạo
bồi dưỡng 0,45%, nghiên cứu khoa học 1,72%).
- Về trích lập và sử dụng các quỹ: Giai đoạn 2009-2013, việc
trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trả thu nhập tăng thêm cho
cán bộ viên chức của các trường đại học thuộc BCT còn thấp và hạch
toán vào quỹ này chưa phù hợp với tình hình thực tế của mỗi trường.
luyện ở mức xuất sắc tốt là 41,13% đến năm 2013 tỷ lệ đầu tư cho đội
ngũ GV giảm xuống còn 18,33% thì tỷ lệ SV có kết quả rèn luyện ở
mức xuất sắc tốt cũng giảm xuống còn 38,93%.
3.2.1.3 Tác động của quản lý tài chính đến chất lượng giáo dục thông
qua cơ sở vật chất
Mức đầu tư cho cơ sở vật chất của các trường đại học thuộc BCT
tương đối cao so với các yếu tố khác, chiếm 17,4% trong tổng thu (sau
mức đầu tư cho đội ngũ GV) nhưng có xu hướng giảm dần qua các
năm. Tỷ lệ đầu tư cho cơ sở vật chất có mối quan hệ thuận chiều với kết
quả học tập của SV, nếu tỷ lệ đầu tư càng cao thì chất lượng giáo dục
càng cao. Tuy nhiên, những năm gần đây do nguồn kinh phí nhà nước
cấp giảm đi nhiều, trong khi đó đầu tư cơ sở vật chất lại cần kinh phí
lớn, nên tỷ lệ đầu tư cho yếu tố này có xu hướng giảm.
3.2.1.4. Tác động của quản lý tài chính đến chất lượng giáo dục thông
qua học liệu phục vụ dạy học
Tỷ trọng đầu tư cho học liệu phục vụ dạy học của trường là rất
thấp, bình quân trong giai đoạn 2009-2013 của các trường đại học chỉ
đạt 5,43% trong tổng thu. Tỷ lệ này giảm dần qua các năm (năm 2009
đạt 12,75% đến năm 2013 giảm xuống còn 0,44% trong tổng thu), bình
13
quân mỗi năm giảm 1,46%. Tỷ lệ đầu tư cho học liệu dạy học cũng tỷ lệ
nghịch với số SV có học lực ở mức trung bình, yếu và kém.
3.2.2.5. Tác động của quản lý tài chính đến chất lượng giáo dục thông
qua quản lý hoạt động đào tạo
Tỷ lệ đầu tư cho yếu tố quản lý hoạt động đào tạo của các trường
thuộc BCT thấp nhất trong 05 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo
dục, bình quân đạt mức 0,14% trong tổng thu (cao nhất vào năm 2011
đạt 0,19%, thấp nhất năm 2012 đạt mức 0,12% trong tổng thu). Nếu
mức đầu tư cao thì số SV có kết quả học tập và kết quả rèn luyện cao và
chính sách việc sử dụng nguồn này quá phức tạp, các trường không sử
dụng được một cách linh hoạt trong hoạt động chi tiêu của mình.
- Về sử dụng nguồn lực tài chính để nâng cao chất lương giáo
dục: Đánh giá mức độ sử dụng các nguồn lực tài chính hiện nay trong
nhà trường, các nhà quản lý cho rằng trong cơ cấu chi cho các hoạt
động của trường phần lớn nguồn lực tài chính là chi cho đầu tư cơ sở
vật chất, thiết bị, vật tư phục vụ đào tạo và chi cho đào tạo bồi dưỡng
đội ngũ giảng viên. Tỷ lệ chi cho hai yếu tố này được các nhà quản lý
đánh giá khá cao (3,83 và 3,69/5 mức độ), các yếu tố khác như chi hoạt
động thường xuyên, chi cho nghiên cứu khoa học,… được đánh giá ở
mức trung bình. Tuy nhiên, 56% ý kiến cho rằng không hài lòng với
việc chi trả lương, 68,3% ý kiến đánh giá trung bình, 20,42% đánh giá
ở mức thấp và rất thấp so với thu nhập của các ngành khác. Kết quả
thống kê cũng cho thấy mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng hiện nay mức độ
đầu tư nguồn lực tài chính của các trường vào các yếu tố này đều ở mức
trung bình khá, chưa thực sự nổi trội.
3.2.2.3. Phân tích ý kiến đánh giá của GV và SV
Kết quả khảo sát cho thấy giảng viên, sinh viên thuộc đối tượng
khảo sát đánh giá chưa cao về các yếu tố đảm bảo chất lượng, giá trị
báo cáo Mean của các biến quan sát dao động từ 2,82 -4,10. Điều này,
khẳng định các trường đại học thuộc BCT chưa đầu tư đầy đủ cho các
15
yếu tố đảm bảo chất lượng. Mặc dù cơ sở vật chất của các trường tương
đối hiện đại, nhưng mức độ đáp ứng đầy đủ các thiết bị cho các ngành
học (được khảo sát) còn thiếu. Mặt khác, một trong các yếu tố quan
trọng tạo lên chất lượng đó là đội ngũ giảng viên. Đội ngũ giảng viên
được các đối tượng khảo sát đánh giá còn khá khiêm tốt (Mean: 2,91-
3,05), đội ngũ giảng viên của các trường hiện còn thiếu, tỷ lệ sinh
viên/giảng viên còn khá nhiều, lớp học quá đông. Chương trình đào tạo
cũng khẳng định mức độ phù hợp của chương trình đào tạo với yêu cầu
của sản xuất hiện nay là rất quan trọng và tỷ trọng lý thuyết và thực
hành trong chương trình đào tạo cũng là nhân tố then chốt ảnh hưởng
đến chất lượng giáo dục. Ngoài ra, kết phân tích còn cho thấy việc tăng
cường đầu tư vào các yếu tố đảm bảo chất lượng trên là hoàn toàn có cơ
sở, đây là những yếu tố góp phần quyết định đến chất lượng giáo dục.
Tuy nhiên, tùy vào hoàn cảnh tài chính của các trường đại học mà cân
nhắc nên đầu tư vào yếu tố nào trong từng giai đoạn cụ thể để phù hợp
với hoạt động đào tạo của trường mình.
Kết quả phân tích hồi quy đa biến cũng tương đồng với phân tích
thống kê về tỷ lệ đầu tư cho các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo
dục. Mức độ ảnh hưởng này qua hai phương pháp phân tích đều khẳng
định mức độ đầu tư cho các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
(chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu phục
vụ dạy học và quản lý hoạt động đào tạo) tỷ lệ thuận với kết quả học
tập, rèn luyện của sinh viên. Ngoài ra, kết quả phân tích hồi quy còn
phản ánh một cách gián tiếp đến tác động của quản lý tài chính tới chất
lượng giáo dục tại các trường đại học thông qua các yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng giáo dục mà cụ thể là cơ cấu sử dụng nguồn lực tài
chính cho các yếu tố này.
3.2.2.4. Phân tích ý kiến đánh giá của người sử dụng lao động
Năng lực chuyên môn của SV tốt nghiệp tại các trường đại học
thuộc BCT được các cơ sở sản xuất đánh giá rất cao (trên 80% là tốt và
khá), đặc biệt là kỹ năng tay nghề (93,9% ý kiến đánh giá từ khá trở
lên). Tuy nhiên, vẫn còn tỷ lệ lớn SV mới đáp ứng ở mức độ trung bình
(kết quả học tập, mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của sản xuất), vì
vậy trong thời gian tới các trường phải tích cực hơn nữa trong việc nâng
17
cao chất lượng giáo dục, mà cụ thể phải đầu tư hơn nữa cho các yếu tố
CHƢƠNG 4
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
GDĐH CỦA CÁC TRƢỜNG THUỘC BCT
4.1. Những định hƣớng phát triển cơ bản của GDĐH đến năm 2020
4.1.1. Định hướng chung
- GDĐH phải đào tạo được những sinh viên sau khi tốt nghiệp có
kiến thức hiện đại, kỹ năng thực hành nghề nghiệp vững chắc, có tư duy
độc lập, có năng lực giải quyết vấn đề và có khả năng thích ứng cao với
những biến động của thị trường lao động.
- Bảo đảm duy trì tỷ lệ đầu tư cho giáo dục trong tổng chi NSNN.
- Mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường đại
học trong mọi hoạt động.
4.1.2. Định hướng về quản lý tài chính và chất lượng GDĐH
- Hướng tới mục tiêu trao quyền tự chủ tài chính cho các trường,
như vậy các trường.
- Mô hình tài chính áp dụng cho các trường đại học là tăng dần
học phí kết hợp với các chính sách hỗ trợ.
- Phân bổ ngân sách cho các trường chuyển dần từ việc cứ vào
quy mô đào tạo nên căn cứ vào khối ngành đào tạo, lực lượng giảng
viên, diện tích giảng đường, phòng học, phòng thí nghiệm, thư viện…
- Tài trợ từ NSNN cho các trường đại học sẽ dần phải dựa trên
kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.
4.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính nhằm nâng cao
chất lƣợng GDĐH
4.2.1. Nhóm giải pháp vĩ mô
4.2.1.1. Giải pháp về hoàn thiện chính sách huy động nguồn tài chính
19
20
- Phân bổ kinh phí hoạt động khoa học thường xuyên cho cơ sở
GDĐH theo số lượng và trình độ của GV với định mức bằng 1/3 định
mức kinh phí giao theo số lượng và trình độ cán bộ nghiên cứu cho các
viện nghiên cứu.
4.2.2. Nhóm giải pháp vi mô
Một là: Ưu tiên đầu tư cho các yếu tố có trọng số lớn ảnh hưởng
tới chất lượng giáo dục mà lượng vốn cần thiết để đầu tư vào các yếu tố
này không nhiều.
- Đối với chương trình đào tạo: Chi phí cho yếu tố này mang tính
thời điểm là chủ yếu, nên các trường cần xác định thời điểm nhất định
để đầu tư cho chương trình đào tạo, thời điểm này có thể kết thúc 01
vòng đời chương trình đào tạo đại học (01 khóa sinh viên tốt nghiệp ra
trường). Phương thức đầu tư có thể bằng cách thuê lập chương trình đào
tạo hoặc nhập khẩu chương trình đào tạo.
- Đối với học liệu phục vụ học tập: Việc đầu tư cho yếu tố học
liệu phục vụ học tập chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng chi cho các yếu tố
ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Để đáp ứng được yêu cầu về dạy -
học các trường có thể ưu tiên đầu tư trước các yếu tố khác, nguồn này
có thể được bổ sung hàng năm.
- Đối với yếu tố quản lý hoạt động đào tạo: Quá trình đầu tư cho
yếu tố này không cần thời gian và lượng kinh phí đầu tư không lớn và
không thường xuyên. Các trường cần sớm đầu tư cho yếu tố này bằng
cách trang bị các phần mềm quản lý hiện đại phù hợp với mô hình đào
tạo của trường để đánh giá chính xác, kịp thời kết quả học tập và rèn
luyện của SV và xây dựng hệ thống tư liệu khoa học khách quan và cụ
thể rõ ràng cho từng cá nhân, đơn vị để nắm bắt được các thông tin
phản hồi về chất lượng giáo dục.
- Đối với đội ngũ giảng viên: Để có được đội ngũ giảng viên có
nguyên tắc giao quyền tự chủ toàn diện, triệt để trên mọi lĩnh vực từ
công tác tổ chức quản lý bộ máy, tuyển dụng lao động đến lĩnh vực tài
chính và kế hoạch đầu tư… cho các trường đại học.
22
- Đổi mới chế độ tiền lương cho ngành giáo dục nói chung và cho
các trường đại học nói riêng, trên cơ sở giảng viên sống được bằng
chính tiền lương của mình.
- Gắn trách nhiệm của doanh nghiệp, đơn vị sử dụng nhân lực với
việc đào tạo nhằm bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hòa về số lượng,
chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực trong từng thời kỳ.
- Khuyến khích các chủ đầu tư nước ngoài liên doanh, liên kết
với các trường đại học.
- Tổ chức, đánh giá xếp hạng chất lượng thực sự nghiêm túc về
các trường đại học và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng
để xã hội và người học lựa chọn.
- Nhanh chóng thay đổi chính sách học phí đối với người học trên
nguyên tắc tính đúng, tính đủ giá thành đầu vào của đào tạo đó là điều
kiện tiền đề cần thiết cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Về phía các trường đại học:
- Mở rộng hoạt động nghiên cứu chuyển giao công nghệ, sản xuất
kết hợp với đào tạo, quy mô tuyển sinh, hình thức đào tạo để tăng
nguồn thu.
- Tăng cường công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng dạy về chuyên
môn, phương pháp giảng dạy. Tích cực đầu tư cơ sở vật chất theo
hướng tiên tiến.
- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế vào công tác quản lý đào tạo.
- Chủ động tìm kiếm đối tác từ phía các cơ sở sản xuất để chia sẻ
chi phí.
Thứ hai: Tìm kiếm được minh chứng về tác động của quản lý
tài chính đến chất lượng giáo dục đại học thông qua phân tích thực
trạng cơ cấu huy động, sử dụng nguồn lực tài chính cho các yếu tố đảm
bảo chất lượng và chất lượng giáo dục ở các trường đại học thuộc BCT.
Qua đó, luận án đã khẳng định quản lý tài chính không tác động trực
tiếp đến chất lượng giáo dục mà tác động thông qua các yếu tố đảm bảo
chất lượng giáo dục như chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở