khảo sát khả năng sản xuất của lợn rừng và lợn rừng lai tại huyện ngân sơn, tỉnh bắc kạn - Pdf 25


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG VĂN HÙNG
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
CỦA LỢN RỪNG VÀ LỢN RỪNG LAI
TẠI HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014


THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực do chúng tôi, cũng nhƣ sự hợp tác
tập thể trong và ngoài cơ quan khảo sát nghiên cứu và chƣa đƣợc công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đƣợc ghi rõ nguồn gốc.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Hùng
Hoàng Văn Hùng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học 3
1.1.1. Lợn rừng Thái Lan và lợn địa phƣơng 3
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc cho lai tạo giữa lợn đực rừng và lợn
nái địa phƣơng 4
1.1.3. Cơ sở khoa học về đặc điểm di truyền các tính trạng năng suất sinh
sản của lợn 6
1.1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 21
1.1.5. Khả năng sinh trƣởng và cho thịt của lợn 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- ĐP
:
Lợn địa phƣơng
- KLCS
:
Khối lƣợng cai sữa
- KLSS
:
Khối lƣợng sơ sinh
- KL21
:
Khối lƣợng 21 ngày
- SCCS
:
Số con cai sữa
- SCSS
:
Số con sơ sinh
- SCSSS
:
Số con sơ sinh sống

Bảng 3.14: Sơ bộ hạch toán cho một con lợn thịt (rừng lai) thƣơng phẩm F1 67
Bảng 3.15: Sơ bộ hạch toán cho một con lợn thịt (rừng lai) thƣơng phẩm F2 67 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ vii
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Số con ở các thời điểm theo lứa đẻ của các loại lợn theo dõi 52
Hình 3.2: Số con sơ sinh sống của lợn theo lứa đẻ 54
Hình 3.3: Đồ thị sinh trƣởng tích lũy của lợn thí nghiệm 57
Hình 3.4: Đồ thị sinh trƣởng tƣơng đối của lợn thí nghiệm 59
Hình 3.5: Đồ thị sinh trƣởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 61

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta và nhiều nƣớc trên thế giới, chăn
nuôi lợn có một vị trí quan trọng. Đó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ
trọng cao và chất lƣợng tốt cho con ngƣời, là nguồn cung cấp các sản phẩm
phụ nhƣ: thịt, da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến, ngoài ra, còn là nguồn
cung cấp phân hữu cơ rất lớn cho ngành trồng trọt.
Lợn đƣợc nuôi ở nhiều nƣớc trên thế giới, vì chúng có những đặc điểm

1.2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá đƣợc sinh sản của lợn rừng, lợn rừng lai F1(♂ rừng x
♀ địa phƣơng).
- Đánh giá đƣợc sức sản xuất của lợn rừng lai F1(♂ rừng x ♀ địa
phƣơng), lợn F2(♂ rừng x ♀ F1) làm cơ sở cho việc khuyến cáo phát triển
chăn nuôi ở khu vực miền núi tỉnh Bắc Kạn.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Sơ bộ có số liệu khách quan về chọn giống lợn nuôi cho phù hợp với
điều kiện thực tế của ngƣời dân miền núi.
- Cung cấp số liệu chăn nuôi lợn địa phƣơng, lợn rừng và lợn rừng lai
cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Lợn rừng Thái Lan và lợn địa phương
* Lợn rừng Thái Lan
Lợn rừng (Sus Scrofa), ở châu Âu gọi là (Sus scrofa ferus) và châu Á
(Sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus) là tổ tiên của lợn nhà hiện nay. Căn
cứ vào hình dáng của tai, ngƣời ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ châu Âu
và châu Á thành hai loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn. Hiện tại lợn rừng vẫn
còn ở khắp vùng rừng châu Âu và châu Á. Những năm gần đây, do nhu cầu
và thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, ở Việt Nam cũng nhƣ một số nƣớc nhƣ Trung
Quốc, Thái Lan, đã tiến hành thuần hóa và nuôi dƣỡng lợn rừng từ hơn 20
năm nay, bƣớc đầu đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho ngƣời chăn nuôi. Theo
Lê Đình Phùng và cs, (2011) [27], lợn rừng Thái Lan có
, tai nhỏ vênh và hƣớng về phía trƣớc. Màu lông trên cơ

các thôn vùng cao của các xã, khối lƣợng cũng lớn hơn nhóm lợn đen tuyền.
Nhóm lợn lang trắng đen
Nhóm lợn này có màu lông trắng và đen xen kẽ. Các vết lang trắng
không cố định và mức độ lang không giống nhau, con nhiều, con ít. Các vết
lang này đƣợc phân bố ở bụng, ngang sƣờn, cổ, vai, lƣng, nhanh hơn đƣợc
nuôi nhiều ở vùng thấp hơn nơi có ngƣời dân tộc Tày sinh sống.
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc cho lai tạo giữa lợn đực rừng và lợn nái
địa phương
Lai giống là phƣơng pháp nhân giống bằng cách cho con đực và cái
thuộc hai quần thể khác nhau giao phối với nhau để tạo ra thế hệ sau. Hai
quần thể này có thể là hai dòng, hai giống hoặc hai loài khác nhau, do vậy đời
con không còn là dòng, giống thuần, mà là con lai giữa hai dòng, hai giống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

5
, 2000) [4].

Lai giống có hai tác dụng chủ yếu. Một là tạo đƣợc ƣu thế lai ở đời con
về một số tính trạng nhất định. Các tác động cộng gộp là nguyên nhân của
hiện tƣợng sinh học này. Hai là làm phong phú thêm bản chất di truyền ở thế
hệ lai bởi vì con lai có đƣợc những đặc điểm di truyền của giống khởi đầu,
ngƣời ta gọi đó là tác dụng phối hợp. Điều này có nghĩa là lai giống sử dụng
đƣợc tác động cộng gộp các nguồn gen ở thế hệ bố mẹ.
-Ưu thế lai
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [31], ƣu thế lai là hiện tƣợng liên quan
tới sự phát triển mạnh mẽ ở đời sau nhƣ : sức đề kháng tốt hơn, sức sản xuất
cao hơn bố mẹ. Bownan (1959) cho rằng ƣu thế lai nói lên sức sống của con
lai, là tính ƣu việt của đời con lai so với bố mẹ (trích dẫn bởi Nguyễn Văn
Thiện, 1995) [31].

1
, hoặc F
1
bố, mẹ khởi đầu chỉ bằng 1/2 ƣu thế lai của F
1
). Trong nhiều trƣờng hợp ƣu
thế lai là biểu hiện cao hơn trung bình của 2 giống gốc. Để tạo ƣu thế lai,
ngƣời ta phải cho con vật nuôi giao phối không cận huyết, nhằm tăng cƣờng
mức độ dị hợp bằng cách lai giữa các dòng, giữa các giống, lai xa. Tuy nhiên,
mức độ biểu hiện ƣu thế lai còn phụ thuộc vào nguồn gốc di truyền của bố
mẹ, tính trạng cần xem xét công thức lai và điều kiện nuôi dƣỡng.
Mức độ ƣu thế lai của một tính trạng đƣợc tính bằng công thức sau:
H (%)=
)(2/1
)(2/1)(2/1
BA
BABAAB
x 100
Trong đó: H là ƣu thế lai
AB : giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố A, mẹ B
BA: giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố B, mẹ A
A: giá trị trung bình của dòng (giống) A
B: giá trị trung bình của dòng (giống) B
1.1.3. Cơ sở khoa học về đặc điểm di truyền các tính trạng năng suất sinh
sản của lợn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

7
- Tính trạng số lượng và sự di truyền của tính trạng số lượng


8
Trong đó P : Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value).
G : Giá trị kiểu gen (Genotypic Value) .
E : Sai lệch môi trƣờng (Environmental Deviation).
Tùy theo phƣơng hƣớng tác động của các gen alen mà giá trị kiểu gen
có thể bao gồm các thành phần khác nhau.
G = A + D + I
“A” gọi là giá trị cộng gộp, thành phần quan trọng nhất cố định không
thay đổi có thể di chuyển đƣợc và còn đƣợc gọi là giá trị giống của cá thể là
cơ sở di truyền của việc chọn giống.
“D” là tính trội (Dominance) là tác động trội của các cặp alen trong
cùng một locus nên không có tính trội thì giá trị di truyền và giá trị cộng gộp
là bằng nhau. Khi xem xét một locus duy nhất sự khác nhau giữa giá trị kiểu
gen và giá trị giống A và giá trị di truyền đó chính là sai lệch trội D.
Do vậy: G = A + D
“I” là các gen của các cặp gen hoặc cùng alen sai lệch tƣơng tác nên
kiểu gen là do từ hai locus trở lên cấu thành giá trị kiểu gen có thể thêm một
sai lệch do sự tƣơng tác giữa các gen trong các locus khác nhau.
- Hệ số di truyền một số tính trạng ở lợn
Hệ số di truyền là tỷ lệ phần trăm do gen quy định trong việc tạo nên
kiểu hình. Hệ số di truyền có hai loại đó là hệ số di truyền theo nghĩa hẹp và
hệ số di truyền theo nghĩa rộng.
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng biểu thị phần phƣơng sai gí trị kiểu
hình của các cá thể đƣợc quyết định bởi các phƣơng sai giá trị kiểu gen.
h
2
= V
G
/ V

hoặc chú trọng vào việc tạp giao để nâng cao năng suất của chúng.
1.1.3.1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục lợn cái
Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn
trứng, tử cung (cổ, thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài.
- Buồng trứng: Khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang
bụng, phát triển thành một cặp. Buồng trứng lợn cái có dạng chùm nho, khối
lƣợng một buồng trứng là 4 - 7g. Ở lợn trƣởng thành, buồng trứng có 10 - 25
nang trứng thành thục, đƣờng kính nang là 8 - 12mm, thể vàng thành thục có
hình cầu hoặc hình trứng đƣờng kính 5 - 10mm.
- Ống dẫn trứng: Đƣợc chia thành 4 đoạn: Tua diềm, phễu, phồng ống
dẫn trứng và eo. Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển
trứng và tinh trùng theo một hƣớng ngƣợc chiều nhau, hầu hết là đồng thời.
Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh. Ống dẫn trứng cung cấp điều
kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu
của phôi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10
- Tử cung: Gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung. Tử cung lợn
thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn loại và có độ dài đến hơn 1m.
Độ dài này thích hợp cho việc mang thai nhiều. Ở lợn trƣởng thành, trung
bình các sừng tử cung dài 40 - 45cm, thân tử cung 5cm, cổ tử cung dài 10cm
và có đƣờng kính ngoài 2 - 3cm. Tử cung có nhiều chức năng. Nội mạc tử
cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao
gồm các chức năng sau: Vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể
vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ. (Nguyễn
Quang Linh và cs, 2008) [17].
- Âm đạo: Có cấu tạo nhƣ một ống cơ có thành dầy, dài 10 - 12cm. Đây

kỳ trung bình là 21 ngày (biến động từ 18-25 ngày). Chu kỳ của lợn nái phụ
thuộc vào các yếu tố khác nhau:
- Ảnh hƣởng của giống: Giống khác nhau có chu kỳ động dục khác
nhau: Lợn ỉ, từ 19 - 21 ngày lợn Móng Cái từ 18 - 25 ngày.
- Ảnh hƣởng của tuổi: Nái tơ thì có chu kỳ tính thƣờng ngắn hơn lợn
nái trƣởng thành. Theo Kralling, lợn nái ở lứa đẻ thứ 2, thứ 3 thì chu kỳ tính
trung bình là 20,8 ngày, lứa 6 -7 là 21,5 ngày; lứa 8- 9 là 22,4 ngày. Khi theo
dõi sinh sản trên lợn ỉ thấy ở lứa thứ nhất chu kỳ tính 19 ngày, lứa thứ 2 là 20
ngày (Phạm Hữu Doanh, Lƣu Kỷ, 1996) [10]. Theo Xignort thời gian động
dục lần đầu thƣờng ngắn hơn những lần sau, đồng thời thƣờng không có trứng
rụng hoặc trứng rụng rất ít, kích thƣớc tế bào trứng nhỏ hơn những lần sau.
Theo Lubeski thì đƣờng kính của tế bào trứng lợn nái 6 tháng tuổi là 146 m,
10 tháng tuổi là 157 m, 4 năm tuổi là 166 m.
- Ảnh hƣởng của dinh dƣỡng: Nếu dinh dƣỡng tốt thì chu kỳ tính ổn
định và ngƣợc lại.
- Trong thời gian động dục lợn nái có sự rụng trứng, từ đó liên quan
đến sự thụ thai, chửa và đẻ.
Thời gian của động dục đƣợc chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ khi bắt đầu động dục đến lúc chịu đực (T1), đây là giai
đoạn các triệu chứng động dục bắt đầu xuất hiện, dƣới tác động của các
hormone sinh dục cái tế bào trứng phát triển và chuẩn bị chín và rụng. Lợn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

12
nái ở giai đoạn này thƣờng hoạt động mạnh, tìm kiếm con đực, bỏ ăn phá
chuồng và kêu la. Giai đoạn này kéo dài từ 1 -2 ngày.
Giai đoạn 2: Từ khi chịu đực đến lúc hết chịu đực (T2)
Giai đoạn 3: Từ khi hết chịu đực đến khi hết biểu hiện động dục (T3).
Từ đặc điểm động dục trên đây của lợn nái, chúng ta có thể xác định

tiên khoảng 40 - 48 h thì tế bào trứng bắt đầu rụng (cuối giai đoạn T1, đầu
T2) lúc lợn cái biểu hiện "mê ì". Thời gian rụng trứng của lợn nái kéo dài 8 -
12 h. Sau khi trứng rụng xuống loa kèn, chúng theo ống dẫn trứng di chuyển
đến vị trí thụ tinh thích hợp mất khoảng 1 - 2 h tƣơng ứng sau 24 - 36 h kể từ
lúc xuất hiện hiện tƣợng chịu đực. (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [30].
Số lƣợng tế bào trứng rụng trong 1 chu kỳ động dục phụ thuộc vào
giống, tuổi, và chế độ nuôi dƣỡng, chăm sóc. Qua một số nghiên cứu cho biết,
lợn nái Móng Cái có 15 - 30 tế bào. Số lƣợng tế bào trứng rụng phụ thuộc
vào chế độ nuôi dƣỡng. Vì vậy, ngƣời ta thƣờng tăng cƣờng nuôi dƣỡng lợn
nái trƣớc khi phối giống để tăng số tế bào trứng rụng nhƣng đến lúc gần động
dục cho giảm tiêu chuẩn ăn, (Kiều Minh Lực, 1976) [19]. Trong thực tế sản
xuất để xác định thời điểm phối tinh thích hợp, thì khi lợn nái động dục phải
tăng cƣờng theo dõi để biết giờ xuất hiện triệu chứng động dục đầu tiên, vì
vậy, cần theo dõi ngày 2 lần (sáng sớm và chiều tối). Thời gian kéo dài động
dục của lợn là 3 - 5 ngày tùy theo giống, thời gian phối thích hợp là cuối ngày
thứ 2, đầu ngày thứ 3. Thời gian này lợn nái biểu hiện động dục cao độ nhất:
"mê ì", âm hộ chuyển từ màu đỏ hồng (cà chua chín), sang màu thâm tái (màu
mận chín), lợn có thể ít ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, thích nhảy lên lƣng con
khác, nếu ta ấn mạnh vào vùng hông khum của lợn thì thấy lợn đứng yên,
cong đuôi và thích giao phối. Đây là thời điểm phối tinh thích hợp nhất cho
lợn nái.
* Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát dục của lợn cái: Sinh sản là
một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật đồng thời là chức
năng duy trì giống nòi và tái sản xuất của vật nuôi. Sinh sản hữu tính là hình
thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó là quá trình có
sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con đực sản
sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

15
lọc cần chọn đàn giống có tỷ lệ kiểu gen trội đối với chỉ tiêu mong muốn cao
nhất và hạn chế đến mức tối thiểu sự thể hiện gen lặn của tính trạng không
mong muốn. Lợn rừng có tuổi động dục lần đầu lớn hơn lợn nhà, lợn có khối
lƣợng lớn động dục muộn hơn lợn có khối lƣợng nhỏ. Ví dụ: lợn rừng Thái
Lan nuôi tại Nam trung bộ, Bắc Giang, Ba Vì có tuổi động dục lần đầu là
187,53 ngày (dao động từ 156-301 ngày), lợn rừng Việt Nam 228,5 ngày (dao
động từ 204-320 ngày), (Tăng Xuân Lƣu và cs, 2010) [18]. Lợn Móng Cái
130-140 ngày, lợn Đại Bạch nhập vào Việt Nam từ 203-208 ngày, lợn
Landrace từ 208-209 ngày. (Hoàng Toàn Thắng và cs, (2006) [30]. Nhiều khi
ta thấy hiện tƣợng lợn cái không động dục. Lợn cái không động dục có thể do
nhiều yếu tố, là do phát hiện động dục không đúng, stress do thời tiết nóng,
động dục thầm lặng, ốm đau, dinh dƣỡng thiếu protein và năng lƣợng. Ở lợn
nội do khả năng tăng trọng thấp, mà chúng lại động dục lần đầu sớm, nên cơ
thể chƣa phát triển đầy đủ. Vì vậy cần bỏ qua 1-2 chu kỳ động dục rồi mới
phối giống sẽ đạt hiệu quả cao hơn. (Phạm Hữu Doanh, Lƣu Kỷ (1996) [10].
Tuổi động dục lần đầu không chỉ phụ thuộc vào giống, mà còn phụ thuộc ít
nhiều vào mùa vụ trong năm, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trƣờng, chế
độ dinh dƣỡng (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1998) [1]. Theo Anderson (1967)
[35] mức ăn hạn chế về năng lƣợng đã làm chậm tuổi thành thục về tính dục
16 ngày. Nhƣng ở 5 thí nghiệm khác mức ăn hạn chế làm cho tuổi thành thục
về tính dục sớm hơn 11 ngày. Vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau. Trong
thực tiễn sản xuất, ngƣời ta thấy cần nuôi dƣỡng lợn nái sao cho không quá
béo, không quá gầy.
Sự có mặt của lợn đực đã đẩy nhanh sự xuất hiện chu kỳ động dục có
trứng rụng. Brook và Cole (1976) [36] cho biết có thể sử dụng những con đực
đã thành thục về tính dục để thúc đẩy sự thành thục về tính sớm hơn đối với

- Tuổi đẻ lứa đầu
Là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên. Tuổi đẻ lứa đầu cũng phụ thuộc vào
giống, tuổi cho phối giống và chế độ nuôi dƣỡng, ví dụ: lợn rừng Thái Lan
đƣợc cho phối giống lần đầu khi đạt 229,5 ngày (dao động trong khoảng 167-

Trích đoạn Hạch toán kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status