PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TX SÔNG CẦU
MỘT SỐ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN ĐỊA LÍ 9 CẤP THCS
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII và IX Đảng ta đều xác định và nhấn
mạnh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu là một trong những động lực
quan trọng tạo sự chuyển biến toàn diện trong phát triển giáo dục và
đào tạo”.
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về giáo dục - đào tạo,
thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, ngành giáo dục
đang tích cực từng bước đổi mới nội dung chương trình, phương
pháp dạy học, đổi mới công tác quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo, để hoàn thành mục tiêu: “Nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Vì thế muốn hiện đại hóa nền kinh tế, trước hết cần những con
người có kiến thức vững vàng thì mới có năng lực sáng tạo, linh hoạt
trong mọi công việc mà đội ngũ học sinh giỏi ở trường trung học cơ
sở chính là nguồn cung cấp cho đất nước những công dân tài đức
trong tương lai. Vậy làm thế nào để khai thác hết tiềm năng trong mỗi
con người và xây dựng đội ngũ học sinh giỏi cho các bộ môn. Đó
chính là nhiệm vụ và tâm huyết của mỗi giáo viên nào cũng đều suy
nghĩ.
Ngoài giảng dạy, truyền thụ những kiến thức cơ bản phổ thông,
toàn diện cho học sinh, người giáo viên còn phải có năng lực
đào tạo mũi nhọn, tìm kiếm, phát hiện, bồi dưỡng nhân tài trong
phạm vi môn mình phụ trách. Việc làm ấy có ý nghĩa thiết thực
trong chiến lược phát triển con người mà Đảng ta đang quan
tâm và chỉ đạo thực hiện ngày nay. Do đó công tác bồi dưỡng
khích những giáo viên bồi dưỡng và học sinh giỏi đạt kết quả
cao trong các kì thi học sinh giỏi các cấp. Để tạo điều kiện
giáo viên bồi dưỡng đội tuyển học sinh có chất lượng cao và
luôn nhiệt tình công tác, say mê tìm tòi phát triển, tự bồi
dưỡng để nâng cao trình độ.
* Về cơ sở vật chất:
- Nhà trường có cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh,
đảm bảo trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
2. Những tồn tại và khó khăn trong công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi.
* Về nhận thức:
- Do nhận thức của một số phụ huynh đã định hướng con mình
học các môn tự nhiên, để sau này tìm được nhiều ngành kinh tế
cho tương lai. Do đó việc chọn học sinh giỏi môn Địa lí còn nhiều
bất cập.
* Về đội ngũ giáo viên:
- Hầu hết giáo viên còn trẻ, số năm công tác chưa nhiều, kinh
nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi còn ít.
- Một số giáo viên chưa thật sự nhiệt tình công tác bồi dưỡng đào
tạo học sinh giỏi, chưa đầu tư nhiều vào chuyên môn.
- Thời gian đầu tư cho bồi dưỡng học sinh giỏi còn mang tính chất
thời vụ.
* Về học sinh:
Đối tượng học sinh khá giỏi cũng không đều, những học sinh
có năng khiếu cả về tự nhiên và xã hội thì các em lại không
yêu thích và ham mê học Địa lí và ngược lại, có những học
sinh rất thích học Địa lí nhưng kiến thức và kĩ năng Địa lí
chưa thành thạo, điều này có ảnh hưởng không ít đến chất
- Thông qua sự giới thiệu của các thầy cô giáo bộ môn, hoặc
để học sinh tự giác chọn môn học mà mình yêu thích và có
năng khiếu về môn đó.
- Thông qua kết quả học tập các năm trước và kết quả các
bài kiểm tra học sinh giỏi.
- Giáo viên dạy ít nhất 2 khối để nhận biết, lựa chọn học sinh
giỏi đúng đối tượng.
Tóm lại: Quá trình phát hiện tuyển chọn bồi dưỡng học
sinh giỏi là quá trình lâu dài “Có gốc mới có ngọn” nên tuy
chỉ thi học sinh giỏi với khối 9 nhưng người giáo viên bộ môn
phải có tầm nhìn chiến lược, từ xa để có kế hoạch bồi
dưỡng ngay từ đầu cấp học thì kết quả học sinh giỏi mới
cao.
2. Tiến hành bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Giáo viên tiến hành bồi dưỡng theo kế hoạch của nhà trường,
trên cơ sở đó giáo viên chủ động thời gian bồi dưỡng theo từng
chủ đề.
- Giáo viên biên soạn nội dung giảng dạy theo từng chủ đề, phù
hợp với thời gian bồi dưỡng theo kế hoạch.
-
Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên cần phải kiểm tra lại khả
năng nhận thức, lưu giữ thông tin Địa lý của học sinh, để nắm
bắt những mặt ưu điểm và hạn chế, từ đó có phương pháp bồi
dưỡng thích hợp. Đồng thời có kế hoạch phân công học sinh
giúp đỡ nhau cùng học tập, tạo điều kiện cho việc nâng cao
chất lượng hiệu quả đồng đội.
3. Chọn giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi.
Việc giảng dạy cho học sinh nắm được kiến thức có lẽ giáo
viên nào cũng thực hiện được, nhưng việc bồi dưỡng học sinh
dưỡng những kiến thức nâng cao và tiếp cận nhiều nguồn kiến thức
khác nhau, để cung cấp cho học sinh những kiến thức sâu rộng và
hiểu biết hơn để ngày càng có thêm nhiều học sinh giỏi.
4. Thời gian bồi dưỡng.
- Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là việc dạy ngoài chương trình
chính khóa, do đó vấn đề thời gian cũng là một yêu cầu rất
quan trọng. Kế họach bồi dưỡng phải rải đều trong năm,
không nên dạy dồn ở tháng cuối khi thi và phải để người thầy
có thời gian sưu tầm, nghiên cứu tài liệu thì kết quả thi học
sinh giỏi có khả quan.
- Cần tăng cường thời gian bồi dưỡng để đảm bảo kế hoạch.
5. Hướng dẫn cách làm bài thi.
Đây là một công việc hết sức quan trọng, nếu giáo viên dạy
nhiệt tình, học sinh học tập chăm chỉ, nhưng khi thi các em
không biết cách làm bài thì kết quả không theo ý muốn. Do đó
khi nhận bài thi học sinh cần đọc kĩ đề bài, phân tích rõ câu
hỏi, xác định đúng trọng tâm yêu cầu của câu hỏi, lựa chọn và
huy động các kiến thức cơ bản và kĩ năng cần thiết cho việc
giải các câu hỏi. Trong quá trình làm bài thi cần phác thảo đề
cương giúp cho học sinh khỏi bỏ sót các ý trong bài làm và
phân bố thời gian hợp lí cho từng câu hỏi, trước hết nên ưu
tiên giải những câu hỏi mà khả năng mình có thể thực hiện
được, những câu hỏi khó hơn để sau. Khi làm xong bài cần
đọc để chỉnh sửa.
1. KIẾN THỨC
Nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi dựa theo chương trình trung học
cơ sở hiện hành và tính đến thời điểm thi, nhưng cần xác định các
đơn vị kiến thức trọng tâm của bộ môn trong từng bài, từng
Nội dung 2: LỚP VỎ KHÍ
- Vẽ hình và nêu đặc điểm cấu tạo của lớp vỏ khí.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của nhiệt độ không khí
(Vĩ độ địa lí, Độ cao, Vị trí gần hay xa biển).
- Vẽ hình và trình bày hoạt động các loại gió chính trên Trái Đất.
- Trình bày và giải thích sự phân bố lượng mưa trên Trái Đất
theo vĩ độ.
- Vẽ hình và trình bày đặc điểm các đới khí hậu trên Trái Đất.
Nội dung 3: LỚP NƯỚC
- Trình bày và giải thích các hình thức vận động của nước biển
và đại dương.
- Kể tên các dòng biển nóng và lạnh trong Đại Tây Dương và
Thái Bình Dương. Nêu vai trò của các dòng biển (nóng, lạnh)
đối với khí hậu ven bờ.
Nội dung 4: LỚP ĐẤT VÀ LỚP VỎ SINH VẬT
- Các nhân tố hình thành đất. Ảnh hưởng của các nhân tố tự
nhiên đến sự phân bố đất, thực vật, động vật trên Trái Đất.
B. ĐỊA LÍ LỚP 9:
Chủ đề 1: ĐỊA LÍ DÂN CƯ
- Trình bày đặc điểm sự phân bố các dân tộc và dân cư ở nước ta,
giải thích.
- Trình bày đặc điểm dân số nước ta; nguyên nhân và hậu quả. Biện
pháp khắc phục.
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi có những thuận lợi, khó khăn trong việc
phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Biện pháp khắc phục.
- Trình bày đặc điểm về nguồn lao động và việc sử dụng lao động.
- Sức ép của dân số đối với việc giải quyết việc làm. Biện pháp giải
quyết.
Nội dung 7: VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
+ Điểm chung của các vùng:
- Xác định vị trí địa lí, giới hạn lãnh thổ và nêu ý nghĩa của
chúng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
- Trình bày đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân
cư, xã hội của vùng và những thuận lợi, khó khăn đối với
việc phát triển kinh tế - xã hội.
- Những thế mạnh kinh tế của mỗi vùng - Giải thích.
2. KĨ NĂNG
a. Kĩ năng vẽ và nhận xét biểu đồ.
Các loại biểu đồ rất phong phú, đa dạng. Mỗi loại biểu đồ thể
hiện nhiều chủ đề khác nhau, nên khi vẽ biểu đồ cần đọc kĩ
yêu cầu đề ra, xác định chủ đề thể hiện trên biểu đồ (động
thái phát triển, so sánh tương quan độ lớn, hay thể hiện cơ
cấu) chọn biểu đồ thích hợp nhất.
- Các loại biểu đồ bao gồm:
+ Biểu đồ hình cột (cột đơn, cột kép, cột chồng).
+ Biều đồ hình tròn.
+ Đồ thị (đường biểu diễn)
+ Biểu đồ kết hợp (cột + đường)
+ Biểu đồ miền.
Lưu ý: đối với bài tập yêu cầu vẽ biểu đồ cơ cấu. (nếu bảng
số liệu cho 3 năm trở xuống thì vẽ biểu đồ tròn, từ 4 năm trở
lên vẽ biểu đồ miền).
- Nếu bảng số liệu cho giá trị tuyệt đối, thì phải tính tỉ lệ %.
-
Nếu biểu đồ tròn thì tính bán kính biểu đồ tròn.
R = 1.
của bản thân.
Ví dụ: Cho bảng số liệu:
Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng
của nước ta. (Đơn vị: tỉ đồng)
Năm Tổng số Trong đó
Cây lương
thực
Cây công
nghiệp
Rau đậu Cây khác
1995 66183,4 42110,4 12149,4 4983,6 6940,0
2005 107897,6 63852,5 25585,7 8928,2 9531,2
a. Vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện qui mô và cơ cấu giá trị
sản xuất của ngành trồng trọt theo bảng số liệu trên.
b. Nhận xét và giải thích sự thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất
ngành trồng trọt của năm 2005 so với năm 1995.
a. Vẽ biểu đồ:
* Xử lý số liệu: Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng.
(Đơn vị : % )
Năm Tổng số Trong đó
Cây lương
thực
Cây công
nghiệp
Rau đậu Cây khác
1995 100 63,6 18,4 7,5 10,5
2005 100 59,2 23,7 8,3 8,8
Tính bán kính biểu đồ: R
1995
ưu thế so với các nhóm cây trồng khác.
b. Kĩ năng phân tích các số liệu thống kê.
Trong đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, câu hỏi yêu cầu phân tích số
liệu thường xuất hiện nhiều, do tính chất khó của loại câu hỏi
này, đồng thời đánh giá được mức độ am hiểu, vận dụng kiến
thức của học sinh vào các trường hợp cụ thể, đánh giá được kĩ
năng chọn lọc, xác định kiến thức Địa lí.
Thông thường đề thi hay gặp phân tích, nhận xét, so sánh số
liệu thống kê. Vì vậy khi bồi dưỡng, giáo viên cần rèn luyện kĩ
năng phân tích số liệu thống kê.
Việc phân tích và nhận xét bảng số liệu, thông thường được
tiến hành như sau:
- Đọc tiêu đề của bảng số liệu thống kê để nắm được chủ đề.
- Nắm các đặc trưng không gian, thời gian của các đại lượng
được trình bày trong bảng.
-
Tuyệt đối không bỏ qua số liệu nào bởi vì các số liệu đưa
vào bảng thống kê trong đề thi đã được chọn lọc kĩ.
- Phân tích các số liệu tổng quát trước khi đi vào chi tiết.
- Tìm các giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình.
- Xử lí các số liệu đã cho theo yêu cầu của bài tập (khi cần).
- Xác lập mối quan hệ giữa các số liệu, so sánh đối chiếu các
số liệu theo cột, theo hàng để rút ra nhận xét. Mỗi nhận xét
cần có dẫn chứng để tăng sức thuyết phục.
- Đặt ra các câu hỏi để giải đáp trong khi phân tích, tổng hợp
để tìm ra câu trả lời đúng theo yêu cầu đề thi.
Ví dụ: Cho bảng số liệu: