SKKN LICH SU LOP 4 - Pdf 25

SANG KIEN KINH NGHIEM
“Một số phương pháp dạy Lịch sử lớp 4 theo hướng: Tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh”
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Môn Lịch sử ở tiểu học nói chung, môn Lịch sử ở lớp 4 nói riêng đều
nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ
buổi đầu dựng nước cho tới ngày nay. Dạy môn lịch sử là bước đầu hình thành
cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu
lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau, biết đặt câu hỏi trong quá trình học
tập, trình bày kết quả bằng lời nói, hình vẽ, sơ đồ, …vận dụng các kiến thức đã
học vào thực tiễn đời sống. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh những thái độ và
thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết các kiến thức về Lịch sử dân tộc Việt
Nam, tôn trọng các di tích văn hóa và tìm hiểu thêm về lịch sử thế giới. Việc sử
dụng phương pháp dạy học (PPDH) giống như đồ nghề của người thợ mộc,
chúng đều bình đẳng với nhau. Việc sử dụng chúng tùy vào mục đích và khả
năng của người dạy và học, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể: Đối tượng học sinh,
thiết bị dạy học và không khí học tập. Trong thực tiễn không một giáo viên có
kinh nghiệm nào lại sử dụng đơn điệu một phương pháp trong hoạt động dạy
học của mình. Nghệ thuật dạy học là nghệ thuật phối hợp các PPDH trong một
bài dạy của một người giáo viên.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước đặt ra cho ngành giáo dục là phải đổi
mới, nâng cao chất lượng dạy và học để sao cho nền giáo dục nước nhà đem lại
kết quả ngang tầm với các nước trong khu vực cũng như các nước tiên tiến trên
thế giới. Trong đó đổi mới các phương pháp dạy học Lịch sử lớp 4 là yêu cầu
cần thiết.
Nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế và để
giúp học sinh theo dõi tiến trình lịch sử một cách hệ thống và ghi nhớ một số sự
Trang 1
kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách chặt chẽ. Qua thực tế giảng dạy, bản thân

của người thầy, người cô. Phải chăng lịch sử bây giờ dài hơn ngày xưa nên học
sinh không tiếp thu được. Kết quả học môn lịch sử ở đơn vị tôi đã có nhiều tiến
bộ nhưng vẫn còn một số em nắm bắt, ghi nhớ kiến thức lịch sử còn thụ động,
mau quên, chưa biết cách quan sát sơ đồ, lược đồ, mô phỏng, tường thuật
lại các sự kiện, thời gian lịch sử.
Như vậy, trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử ở tiểu học nói riêng
người giáo viên phải biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học vào một tiết dạy.
Không được xem nhẹ một phương pháp nào, mỗi phương pháp có những mặt
mạnh và hạn chế riêng, không nên tuyệt đối hóa một phương pháp nào. Để tổ
chức hoạt động dạy học hiệu quả giáo viên cần biết lựa chọn ưu thế của từng
phương pháp phù hợp với mục tiêu, nội dung của từng loại bài học nhằm phát
huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
3. Phạm vi đề tài.
Nghiên cứu về: “Một số phương pháp dạy Lịch sử lớp 4 theo hướng:
Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”
PHẦN II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Thực trạng tình hình.
Chương trình Lịch sử lớp 4 giúp học sinh có những kiến thức cơ bản, thiết
thực về những sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu, phản ánh những vấn đế về sự
phát triển các giai đoạn lịch sử, những thành tự trong sự nghiệp dựng nước và
giữ nước của dân tộc ta khoảng 700 năm trước Công Nguyên đến buổi đầu thời
Nguyễn năm 1858.
Nội dung chương trình Lịch sử lớp 4 gồm 8 giai đoạn:
1. Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng 700 năm TCN đến năm 179). Gồm
2 bài.
2. Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập (Từ năm 179 TCN đến năm
938). Gồm 4 bài, trong đó có 1 bài ôn tập.
3. Buổi đầu đọc lập. (Từ năm 938 đến năm 1009). Gồm 2 bài.
4. Nước Đại Việt thời Lý. (Từ năm 1009 đến năm 1226). Gồm 3 bài.
5. Nước Đại Việt thời Trần. (Từ năm 1226 đến năm 1400). Gồm 4 bài.

vào bài mới. Ví dụ: Bài nào giáo viên cũng chỉ giới thiệu: “ Hôm nay chúng ta
Trang 4
học bài: Trịnh – Nguyễn phân tranh”. Khai thác nội dung khiến thức giáo viên
cũng chưa làm nổi bật được khi nào bắt đầu, khi nào cao trào đỉnh điểm, khi nào
kết thúc…
Ví dụ: Bài: “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ II”,
yêu cầu học sinh tường thuật lại cuộc chiến đấu bảo vệ phòng tuyến trên bờ phía
Nam sông Như Nguyệt của quân ta (theo lược đồ). Thì giáo viên không biết khai
thác kiến thức bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi và hình thức tổ chức cho
học sinh vừa chỉ lược đồ vừa tường thuật.
Việc quan sát biểu đồ, lược đồ cũng không kém phần quan trọng vì kênh
hình gây cho học sinh nhiều hứng thú trong học tập, nhưng đôi khi giáo viên còn
lúng túng khi hướng dẫn học sinh quan sát biểu đồ, lược đồ; lúng túng trong
cách kể chuyện lịch sử hay tường thuật diễn biến một trận đánh…và ít dành thời
gian nghiên cứu bài dạy, dẫn đến hiệu quả của việc giảng dạy chưa cao.
2. Về phía học sinh.
Chương trình tiểu học được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn I từ lớp 1 đấn
lớp 3, giai đoạn II từ lớp 4 đến lớp 5. Môn Lịch sử là môn học hoàn toàn mới mẻ
đối với các em, chính vì thế việc tiếp thu kiến thức về môn học này là hết sức
cần thiết. Qua giảng dạy tôi thấy nhiều em do hoàn cảnh gia đình khó khăn, một
buổi đi học, một buổi các em phải đi làm kiếm tiền giúp gia đình, nên chủ yếu
các em học ở trên lớp là chính. Vì thế việc học của các em gặp nhiều trở ngại.
Đặc biệt chưa nhận thức đúng vai trò của môn Lịch sử. Học sinh chưa ý thức
được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho
mình những phương pháp học đúng để biến tri thức của thầy thành của mình.
Cho nên sau khi học xong bài, các em chưa nắm được lượng kiến thức thầy
giảng, rất nhanh quên. Việc dạy môn Lịch sử không hấp dẫn cho học sinh khiến
các em chỉ học thuộc lòng đối phó, để trả bài, chứ đầu thì trống rỗng.
Khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng khái quát
hóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm mà các nhân vật, mốc lịch

Phương pháp dạy và học bây giờ là hạn chế tối đa việc học thuộc lòng. Để
học sinh dễ hiểu, dễ nắm được những sự kiện, thời gian lịch sử, cần rèn cho học
sinh kĩ năng đọc và phân tích tư liệu. Ví dụ: Các kênh chữ nhỏ trong bài, giáo
Trang 6
viên yêu cầu học sinh đọc thầm, phân tích, giúp các em hiểu những thông tin do
kênh chữ nhỏ cung cấp sau khi đi vào tìm hiểu những sự kiện qua kênh chữ lớn.
Giáo viên dựa vào các câu hỏi trong sách giáo khoa ở giữa bài và cuối bài chuẩn
bị hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa sức giúp cho các em phát huy khả năng nói.
Ví dụ ở bài: “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyến lãnh đạo (năm 938)”.
Các em muốn biết nguyên nhân nào có trận Bạch Đằng , thì các em phải
đọc thầm kênh chữ nhỏ và nắm được thông tin ở đầu bài …
Hoặc bài: “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân” .
Để biết được tình hình nước ta sau khi Ngô Quyền mất, các em đọc thầm
kênh chữ nhỏ nắm chắc nội dung kênh chữ sau đó trả lời câu hỏi:
Sau khi Ngô Quyền mất tình hình nước ta như thế nào ? (Sau khi Ngô
Quyền mất triều đình lục đục, tranh nhau ngai vàng… ).
Hay bài: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)”. Giúp học sinh ghi nhớ
nguyên nhân Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Giáo viên đọc cho học sinh nghe
1 số câu thơ: “Giận thay Tô Định bạo tàn. Nay ta dấy nghĩa diệt loài sói lang !
Một xin rửa sạch nước thù. Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba kẻo oan ức
lòng chồng . Bốn xin vẹn vẹn sở công lệnh này”.
Và bài: “Thành thị ở thế kỉ XVI – XVII”.
Để các em mô tả đúng ba thành thị lớn của nước ta thế kỉ XVI – XVII.
Tôi đưa ra bài tập sau:
Đặc điểm
Thành thị
Dân cư Quy mô thành
thị
Hoạt động
buôn bán

Bản.
Phố cảng đẹp
và lớn nhất
Đàng Trong
Thương nhân ngoại quốc
thường lui tới buôn bán
Tôi tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc kênh chữ SGK hoàn thành bảng thống kê sau:
- Bước 2: Yêu cầu mỗi nhóm mô tả về một thành thị.
- Bước 3: Nhận xét, tuyên dương nhóm mô tả đúng.
Cách học này giúp các em mô tả đúng về thành thị và ghi nhớ kiến thức
đã học.
2. Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong kĩ năng quan sát và
kể lại, trình bày lại diễn biến cuộc kháng chiến qua bản đồ , lược đồ, …
Qua 3 bài đầu của môn Lịch sử - Địa lí đã hướng dẫn cho các em kĩ năng
quan sát, chỉ, mô tả, kể những sự kiện lịch sử trên bản đồ, lược đồ. Vì vậy, một
số bài có bản đồ, lược đồ, giáo viên cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, dễ cho học
sinh quan sát. Phóng to để hấp dẫn, thu hút sự chú ý, giúp các em có ấn tượng
sâu sắc và không bị quên lãng khi học xong.
Giáo viên chuẩn bị một hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa sức, giúp các em
phát huy kĩ năng nói, khả năng diễn đạt khi kể hoặc trình bày, diễn biến theo bản
đồ hoặc lược đồ.
Ví dụ bài: “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất
(năm 981)”. Để học sinh trình bày được diễn biến cuộc kháng chiến,
tôi xây dựng câu hỏi như sau:
1. Quân Tống xâm lược nước ta vào thời gian nào?
2. Chúng tiến vào nước ta theo mấy đường, là những đường nào?
3. Lê Hoàn chia quân thành mấy cánh và đóng quân ở những đâu để đánh giặc?
4. Kể lại hai trận đánh lớn giữa quân ta và quân Tống?
5. Kết quả của cuộc kháng chiến như thế nào?

Trang 9
Các bài Lịch sử lớp 4 đa số bài nào cũng có kênh hình minh họa giúp học
sinh hình dung rõ hơn các sự kiện lịch sử của từng giai đoạn lịch sử. Giáo viên
nắm vững kiến thức lịch sử để qua các hình ảnh giới thiệu cho học sinh. Các em
bằng cặp mắt quan sát, óc phân tích của mình, các em sẽ mô tả, trình bày, nêu
nội dung tranh, làm bài tập, …từ đó giúp các em ghi nhớ sâu sắc những hình ảnh
của lịch sử để lại.
Ví dụ bài: Trịnh – Nguyễn phân tranh . Các em quan sát lược đồ để biết
được địa phận Bắc triều – Nam triều và Đàng Trong, Đàng Ngoài, sông Gianh là
nơi chia cắt đất nước (thế kỉ XVI).
Bài : “Quang Trung đại phá quân Thanh (năm 1789)”. Yêu cầu dựa vào
lược đồ hình 1 Hãy kể lại trận Ngọc Hồi, Đống Đa .
Hay bài: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)” . Các em quan sát lược đồ
hình 1 và nêu nội dung tranh (Vẽ cảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận).
Khi dạy bài: “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo (năm
938)”. Sau khi học xong bài này, nhớ đến Ngô Quyền là nhớ ngay chiến thắng
Bạch Đằng vang dội năm 938.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Ôn tập”: Để ôn lại kiến thức đã học giúp các em nhớ
lâu sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử, cho học sinh làm bài sau:
Nối mỗi sự kiện ở cột A với tên một nhân vật lịch sử ở cột B sao cho đúng:
A B
a. Chiến thắng Bạch Đằng (năm 938). 1. Đinh Bộ Lĩnh
b. Dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất
đất nước.
2. Lý Thường Kiệt
c. Dời đô ra Thăng Long. 3. Ngô Quyền
d. Xây dựng phòng tuyến trên sông
Như Nguyệt
4. Lý Thái Tổ
Tôi tiến hành theo các bước sau:

ra. Tạo cho các em ý thức học tập tích cực.
Hay bài: “Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long (năm 1786)”.
Câu hỏi: Nghĩa quân Tây Sơn tiến quân ra Bắc khi nào ? Ai là người chỉ huy ?
Mục đích của cuộc tiến quân là gì ?
Trang 11
Giáo viên chuẩn bị nội dung bài tập vào bảng phụ như sau :
a. Nghĩa quân Tây Sơn tiến quân ra Bắc vào năm 1771. Do Nguyễn Huệ tổng
chỉ huy để tiêu diệt chúa Trịnh, thống nhất giang sơn.
b. Nghĩa quân Tây Sơn tiến quân ra Bắc vào năm 1786. Do Nguyễn Nhạc
tổng chỉ huy để lật đổ chính quyền họ Trịnh.
c. Nghĩa quân Tây Sơn tiến quân ra Bắc vào năm 1786. Do Nguyễn Huệ tổng
chỉ huy để lật đổ chính quyền họ Trịnh, thống nhất giang sơn.
Tôi tiến hành các bước sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc kênh chữ SGK, suy nghĩ chọn ý trả lời đúng và
viết chữ cái a ( b, c ) vào bảng con.
- Bước 2: Yêu cầu dơ bảng, nhận xét bài làm.
- Bước 3: Nhận xét, tuyên dương học sinh làm đúng.
Cách học này khuyến khích các em giải thích lí do tại sao sai, giúp học
sinh tự tìm ra kiến thức, ghi nhớ kiến thức đã học.
Khi dạy bài: « Nhà Lý dời đô ra Thăng Long » .
Câu hỏi ở giữa bài : Vua Lý Thái Tổ suy nghĩ như thế nào mà quyết định dời đô
về thành Đại La.
Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi như sau :
Điền từ thích hợp ( dân cư không khổ; ở trung tâm đất nước; cuộc sống
ấm no ; từ miền núi chật hẹp) vào chỗ trống để hoàn chỉnh đoạn văn nói về suy
nghĩ của vua Lý Thái Tổ khi quyết định dời đô về thành Đại La.
Vua thấy đây là vùng đất (1) đất rộng lại bằng
phẳng (2) vì ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi. Càng nghĩ,
vua càng tin rằng muốn cho con cháu đời sau xây dựng
được (3) thì phải dời đô (4) Hoa Lư về

Ví dụ : Trường cấp III tại xã Thổ Sơn lấy tên nữ anh hùng của địa
phương : Trường THPT Phan Thị Ràng. Hay đường Nguyễn Trung Trực, đường
Hồng Gấm, Đài truyền hình VTV3 đang chiếu bộ phim : « Huyền sử Thiên
Đô » vào thứ 5, 6 hàng tuần dài hơn 30 tập, nói về thời vua Lý Công Uẩn, các
em và người thân trong gia đình nên xem để hiểu rõ hơn về lịch sử nước và càng
có trách nhiệm, lòng yêu quê hương đất nước.
Trang 13
Khi dạy các tiết giáo dục ngoài giờ lên lớp tôi kể cho các em nghe về nữ
anh hùng Phan Thị Ràng (Chị Sứ); các bà mẹ Việt Nam anh hùng của quê
hương Hòn Đất, và nếu có điều kiện tổ chức cho các em tham quan, được chứng
kiến tận mắt các di tích lịch sử Hòn Đất, hang huyện ủy, mộ chị Sứ, đền thờ
Nguyễn Trung Trực, Có thể tổ chức cho các em kể chuyện về Bác Hồ hoặc một
nhân vật lịch sử mà em biết hoặc thuật lại một sự kiện lịch sử mà em thích nhất
trong chương trình lịch sử lớp 4 đã học.
Vào các ngày lễ lớn khi thông báo cho các em nghỉ học, giáo viên tổ chức
cho các em trao đổi về ý nghĩa ngày lễ đó giúp các em hiểu được : Đó là ngày
gì ? Có ý nghĩa như thế nào ? Các em cần tỏ thái độ như thế nào ? Phải làm gì để
xứng đáng với những cống hiến của những người đi trước ?
Ví dụ : Ngày 2 tháng 9 hàng năm là ngày Quốc khánh : Kỉ niệm ngày mà
Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt nam dân chủ cộng hòa.
(2/9/ 1945). Giáo viên đọc cho học sinh nghe một số câu thơ: « Hôm nay sáng
mồng 2 tháng 9. Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình »(Bài này các em sẽ được
học trong môn Lịch sử lớp 5).
Hoặc ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm là ngày giỗ tổ Hùng Vương
(nhân dân tổ chức hội đền Hùng ở Huy Chương, Lâm Thao, Phú Thọ). Giáo
viên đọc cho học sinh nghe một số câu thơ : « Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày
gỗi Tổ mồng mười tháng ba. Dù ai buôn bán gần xa. Nhớ ngày giổ Tổ tháng ba
mồng mười ».
Hay: Ngày 30 tháng 4 hàng năm (ngày này của năm về trước ngày 30/4/
1975 đất nước ta đánh tan quân xâm lược đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất

nên tôi đã vận dụng những phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh như:
Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong kĩ năng đọc và phân tích tư liệu:
Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong kĩ năng quan sát và kể lại,
trình bày lại diễn biến cuộc kháng chiến qua bản đồ, lược đồ, …
Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong kĩ năng quan sát và phân
tích qua tranh ảnh (Làm bài tập trắc nghiệm) để hiểu và nhớ thời gian lịch sử, sự
kiện và nhân vật lịch sử.
Trang 15
Phát huy tính tích cực hóa của học sinh qua các hình thức tự học tập và
đánh giá.
Qua những phương pháp trên tôi thấy các em đã có hứng thú trong học
tập và ghi nhớ kiến thức lịch sử một cách có hệ thống. Mặc dù chưa được hoàn
thiện nhưng chứng tỏ trong các môn học, môn Lịch sử cần có sự đổ mới về
phương pháp dạy học giúp học sinh phát huy cao tính tích cực trong học tập.
2. Phạm vi áp dụng của đề tài:
Thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh trong lớp đã nắm bắt kiến thức nhanh
và có sự ghi nhớ kiến thức một cách vững vàng.Vì vậy tôi đã cùng giáo viên
trong tổ khối 4 + 5 trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm đồng thời xây dựng chuyên để
này để cùng nhau nâng cao chất lượng dạy và học. Từ đó giúp các em học tập,
sống và làm việc xứng đáng với các thế hệ đi trước.
3. Bài học kinh nghiệm.
Qua việc dạy học bản thân tôi đã rút ra những kinh nghiệm cần có hướng
phấn đấu:
- Giáo viên phải nắm toàn bộ chương trình phân môn Lịch sử. Nắm vững
kiến thức lịch sử trong SGK, Chuẩn kiến thức, sưu tầm tài liệu có liên quan đến
bài giảng. Biết liên hệ thực tế chuyển từ kiến thúc cũ giúp học sinh khai thác
kiến thức mới một cách khoa học, hấp dẫn. Biết tổ chức các hình thức học gắn
với cách xây dựng thiết kế bài tập thực hành, với hình ảnh, lược đồ, mô hình
trong SGK. Giúp học sinh mô tả, trình bày hoặc kể lại những sự kiện lịch sử,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status