!"#
$%
&'%()*$+
,-./0.
#1*1
20%*3*45
2#))))))))))))))))))))))))))))))))))))))0
2.%6
!"#))))))))))))))))))))))))))))))))).7
27% "8
!"#
)))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))9:
#1 ;<
* Hội đồng quản lý tài sản nợ - tài sản có
= Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
DTBB Dự trữ bắt buộc
HĐV Huy động vốn
Ngân hàng Nhà nước
# Ngân hàng thương mại
Rủi ro thanh khoản
Tổ chức tín dụng
( Tài sản có
( Tài sản nợ
( Tổng tài sản
( Đô la Mỹ
Việt Nam đồng
#1=-+
khỏi, đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có phản ứng dây
chuyền, lây lan. Vì vậy, để hoạt động ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và
hiệu quả thì cần phải kiểm soát và hạn chế được rủi ro thông qua công tác quản trị
rủi ro trong kinh doanh ngân hàng.
Trong các loại rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, rủi ro thanh khoản (RRTK)
là một trong những thách thức lớn nhất, nguy hiểm nhất của ngân hàng. Một ngân
hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán, tức là phải
đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh
toán đột xuất. Một khi rủi ro thanh khoản xuất hiện thì không chỉ nó ảnh hưởng đến
bản thân NHTM mà còn ảnh hưởng đến cả một nền kinh tế - xã hội. Chính vì ảnh
hưởng lớn, vừa mang tính cục bộ vừa mang tính toàn cầu của loại rủi ro này, quản
trị rủi ro thanh khoản trở thành một vấn đề thường trực mang tính sống còn cho
ngành ngân hàng cũng như cả nền kinh tế.
Thực tế trong vài năm gần đây, với sự phát triển của thị trường tài chính cũng
như sự bùng nổ của thị trường xuyên quốc gia đã khiến nguy cơ phá sản của các
NHTM do mất an toàn thanh khoản trở nên thường trực hơn bao giờ hết. Khủng
hoảng thanh khoản trong hệ thống các tổ chức tín dụng tại nhiều nước trên thế giới
với sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng lớn trong vài năm gần đây đã dóng lên
hồi chuông báo động cho cơ chế quản trị rủi ro thanh khoản còn bị xem nhẹ.
Tại Việt Nam, chưa bao giờ vấn đề an toàn thanh khoản lại được Ngân hàng nhà
nước (NHNN) và các Tổ chức tín dụng (TCTD) đặc biệt quan tâm như hiện nay, với sự
ra đời của hàng loạt các chính sách, các quy chuẩn mới được ban hành nhằm đổi mới
và thắt chặt an toàn công tác quản trị rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng.
Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những
ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam và cũng là một trong những ngân hàng có định
1
hướng triển khai quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế sớm nhất. Trong xu thế chung
của thế giới và của Việt Nam, với định hướng của mình, đánh giá và củng cố lại
công tác quản trị rủi ro thanh khoản là một việc nên làm và cần làm đối với BIDV
hiện nay.
ASX@N.% Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam.
ASX@N7% Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
GE[Q\@
3
20%*3*45
2#
0)0) AYF@F^WULJ_BE`S@NE`a@NAaVEJb@NBHI#
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng là một trong những ngành hình thành lâu đời nhất. Ở giai
đoạn đầu hoạt động của mình, ngân hàng mới chỉ thực hiện nghiệp vụ đơn
giản phục vụ nhu cầu xã hội là giữ hộ của cải và thanh toán hộ. Đến nay, hoạt
động của ngân hàng đã được hình thành và phát triển mạnh trên nhiều lĩnh
vực kinh doanh, dịch vụ và công nghệ ngày càng hiện đại thông qua sự phát
triển không ngừng của nền kinh tế xã hội. Ngân hàng trở thành một trung gian
tài chính không thể thiếu được của nền kinh tế. Nó đóng vai trò môi giới cho
sự gặp gỡ giữa cung - cầu tiền tệ thông qua huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ
dân cư và các tổ chức trong xã hội, tiến hành cho vay lại với các cá nhân, tổ
chức có nhu cầu về vốn, góp phần đẩy mạnh tốc độ vòng quay vốn, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, qua đó đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế của
đất nước.
Tại Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép
khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh
hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng.
Tại Việt Nam, theo quy định luật các Tổ chức tín dụng (công bố ngày
26/12/1997) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín
dụng (có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004): Ngân hàng là loại hình tổ chức
tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
2
Nếu ngân hàng hoạt động tốt, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng
và phát triển bền vững. Ngược lại, khi ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến những người gửi tiền, ngoài ra sẽ gây hiệu ứng dây chuyền, lây lan
rất lớn và tác động xấu đến đời sống kinh tế xã hội. Do hoạt động kinh doanh
của ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, cho nên việc giám sát
các hoạt động ngân hàng phải thật chặt chẽ thường xuyên bằng luật định.
Những quy chế giám sát phổ biến là: Quy chế về phân phối tín dụng; Quy chế
về thành lập và cấp giấy phép kinh doanh cho các NHTM; Quy chế về an toàn
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng; Quy chế về bảo vệ nhà đầu tư.
Trong các quy định của Luật Đầu tư thì đầu tư thành lập các NHTM được xếp
vào loại đầu tư có điều kiện.
c) Thứ ba, các sản phẩm, dịch vụ của NHTM mang tính tương đồng, dễ
bắt chước và gắn chặt với yếu tố thời gian
NHTM cung cấp rất nhiều sản phẩm, dịch vụ phong phú đa dạng cho
khách hàng, nền kinh tế. Tuy nhiên, các sản phẩm của các NHTM thường
tương đồng hoặc giống nhau, đặc biệt là các sản phẩm truyền thống như: các
sản phẩm huy động vốn, sản phẩm cho vay, sản phẩm thanh toán. Nếu một
NHTM vừa triển khai một sản phẩm, dịch vụ nào đó hiệu quả thì ngay lập tức
có thể bị các ngân hàng khác thực hiện theo, hay gọi là “ bắt chước”. Khái
niệm sản phẩm, dịch vụ mới của NHTM phải được hiểu là sản phẩm, dịch vụ
mà trên thị trường chưa có hoặc đưa ra thị trường trước các đối thủ cạnh tranh.
Thời gian cũng là yếu tố quan trọng việc thực hiện giá trị của sản phẩm,
đồng thời cũng là một trong những yếu tố quyết định giá cả của sản phẩm
dịch vụ ngân hàng. Để tăng khả năng cạnh tranh, các NHTM phải xây dựng
những sản phẩm, dịch vụ mang tính khác biệt.
d) Thứ tư, khách hàng của NHTM rất đa dạng
Khách hàng của NHTM đông đảo và đa dạng, có ở mọi đối tượng và
3
tầng lớp của xã hội. Không chỉ các doanh nghiệp sản xuất có nhu cầu về vốn,
thanh khoản khi đáp ứng các tiêu chí sau: Có sẵn số lượng để mua hoặc bán, có sẵn
thị trường để giao dịch, có sẵn thời gian để giao dịch, giá cả hợp lý.
Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung: thanh khoản là lượng tiền và tương
đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu.
Dưới góc độ quản trị ngân hàng: thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng
đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao
dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính
khác trong thời kì cụ thể.
1.2.1.2. Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng
Thanh khoản tại thời điểm xác định có thể được đánh giá qua chỉ tiêu về trạng thái
thanh khoản ròng (NLP) hay khe hở thanh khoản, dựa trên cơ sở đầu vào (tổng cung
thanh khoản) và đầu ra (tổng cầu thanh khoản) của các luồng tiền tại thời điểm đó.
Cung thanh khoản: là khả năng cung ứng tiền của ngân hàng nhằm đáp ứng
nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm các tài sản thanh khoản hiện tại, việc
bán tài sản thanh khoản, khả năng huy động vốn mới và thu hồi các khoản phải thu
đến hạn (cho vay, đầu tư tiền gửi, đầu tư giấy tờ có giá đến hạn, và các khoản phải
thu khác).
Trong các nguồn cung thanh khoản trên, luồng tiền thu về từ huy động vốn
tiền gửi chiếm khối lượng lớn và là nguồn cung thanh khoản mới chủ yếu của ngân
hàng.
Cầu thanh khoản: là nhu cầu thanh toán hợp lệ của khách hàng mà ngân hàng
có nghĩa vụ đáp ứng, bao gồm yêu cầu chi trả từ tài khoản tiền gửi, cam kết giải
ngân vốn vay và các nghĩa vụ thanh toán khác (trả lãi, mua lại cổ phiếu, chi phí
cung ứng dịch vụ và chi phí lãi, thanh toán cổ tức cho cổ đông…).
Trong các nhu cầu thanh khoản mà ngân hàng phải đối mặt trên, lượng tiền
cần để giải ngân cho các hợp đồng tín dụng chiếm số lượng lớn.
Trạng thái thanh khoản ròng (NLP): là chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu
5
thanh khoản tại một thời điểm. Tại thời điểm đó, nếu NLP lớn hơn 0, tức là cung
thanh khoản dư thừa để đáp ứng cầu thanh khoản, ngân hàng thặng dư thanh khoản,
tuần hoàn chúng để sử dụng cho vay và đầu tư có kỳ hạn dài hơn. Điều này làm mất
cân xứng giữa ngày đáo hạn của các tài sản và nguồn vốn nên dòng tiền vào bên tài
sản thường không trùng khít để trang trải dòng tiền ra bên nguồn vốn. Thực tế là
ngân hàng luôn có một tỷ lệ đáng kể tài sản có có đặc điểm là phải hoàn trả tức thời
nếu người gửi tiền có nhu cầu như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn có thể
rút trước hạn…Vậy nên, NHTM luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt hoặc
thặng dư thanh khoản.
− Sự nhạy cảm của tài sản đối với sự biến động lãi suất: là do các tài sản tài
chính có tính nhạy cảm với sự biến động của lãi suất. Lãi suất thay đổi ảnh hưởng
lớn tới tâm lý của người gửi tiền, họ ưa thích lãi suất cao, và đồng thời tác động đến
quyết định của những con nợ, những người muốn lãi suất thấp. Trường hợp lãi suất
tăng, khách hàng sẽ có nhu cầu rút tiền để gửi vào nơi có lãi suất cao hơn còn các
con nợ sẽ rút hết hạn mức tín dụng với lãi suất thấp đã thỏa thuận và giảm tối đa
việc vay mới để tránh trả lãi nhiều hơn. Khi lãi suất giảm thì phản ứng ngược lại.
Trong cả hai trường hợp, biến động lãi suất ảnh hưởng đến cả dòng tiền gửi lẫn cho
vay, cuối cùng đến thanh khoản NH. Ngoài ra, việc lãi suất tăng cũng làm tăng thị
giá của tài sản tài chính đem bán và tăng chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ.
− Tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi NHTM phải luôn
sẵn sàng đáp ứng cầu thanh khoản: Bất kỳ một sự trục trặc nào về thanh khoản đều
có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng và nếu NHTM không giải quyết ngay
khó khăn này, khách hàng gửi tiền có thể đồng loạt kéo đến ngân hàng để rút tiền,
trạng thái thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và NHTM có thể bị phá sản. Mặt khác,
trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên TSN luôn có một tỷ lệ nhất định các
khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng có có thể rút trước hạn.
Đây là những TSN mà NHTM có thể nghĩa vụ phải trả ngay lập tức nếu khách hàng
có nhu cầu rút, vì thế NHTM luôn luôn phải sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
− Nguyên nhân bên tài sản nợ: rñi ro thanh kho¶n cã thÓ ph¸t sinh bÊt cø lóc
7
nào khi những ngời gửi tiền thực hiện rút tền ngay lập tức. Khi những ngời gửi rút
tiền đột ngột, buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung hoặc bán bớt tài sản thanh khoản
Nghip v th trng m l hot ng ca NHTM mua hoc bỏn cho NHTM
8
trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước, trái phiếu của chính NHNN. Khi
muốn tăng cung tiền, NHNN mua trái phiếu từ các NHTM, số tiền mà NHNN trả
cho NHTM làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh
khoản cho NHTM. Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, NHNN bán trái phiếu cho
các NHTM, số tiền mà NHNN thu về làm cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồng
thời cũng làm giảm cung thanh khoản của NHTM.
Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc là biện pháp điều chỉnh mà NHNN bắt buộc
các NHTM phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại NHNN. Nếu tỷ lệ bắt
buộc quy định cao, có nghĩa lượng tiền cho dự trữ sẽ gia tăng, theo đó cầu thanh
khoản của NHTM tăng và ngược lại.
Áp dụng lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất mà NHTM áp dụng khi
NHNN chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá từ NHTM. Nếu lãi suất này
thấp, tức chi phí vay tiền từ NHNN rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các NHTM có
thể dễ dàng huy động để đáp ứng cầu thanh khoản.
− Ngoài ra, những sự cố khách quan khác cũng có thể là yếu tố làm gia tăng
RRTK cho NHTM. Điều này đã từng xảy ra đối với Ngân hàng thương mại Á Châu
năm 2003. Vào tháng 8, năm 2003, khi có tin đồn Tổng giám đốc ACB bỏ trốn,
khách hàng đã ồ ạt kéo đến các điểm giao dịch của ACB để rút tiền. Mặc dù đây là
tin đồn thất thiệt nhưng việc rút tiền đồng loạt của khách hàng đã gây khó khăn trầm
trọng cho ACB. NHNN đã phải hỗ trợ khẩn cấp nhiều trăm tỷ đồng để ACB có đù
nguồn chi trả cho khách hàng rút tiền. Mất một thời gian đáng kể, sự cố mới được
giải quyết.
Nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng làm gia tăng RRTK:
− Cơ cấu huy động và cho vay tập trung lớn vào một hoặc một nhóm khách
hàng (rủi ro tập trung): Ngân hàng tập trung tín dụng vào một số khách hàng lớn
hoặc tỷ trọng tín dụng cho một ngành, một địa phương nào đó chiếm phần lớn trong
tổng dư nợ hoặc trong tổng huy động có một khách hàng chiếm tỷ trọng lớn, đến
khi họ rút một cách bất ngờ thì dẫn đến rủi ro thanh khoản.
Quản trị rủi ro không có nghĩa là né tránh mà là đối diện với rủi ro để lựa chọn
10
mức giới hạn rủi ro có thể chấp nhận được nhằm tăng tối đa khả năng sinh lợi cho
ngân hàng.
1.3.2. Bản chất của công tác quản trị rủi ro thanh khoản NHTM
Các dòng tiền vào và ra liên tục và không bao giờ hoàn toàn cân bằng nhau
nên NH luôn luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản.
Theo đó quản trị RRTK là đảm bảo sự cân đối của các dòng tiền.
Luôn tồn tại sự đánh đổi giữa thanh khoản và khả năng sinh lời. Điều này
nghĩa là khi NH chọn mục tiêu thanh khoản bằng cách duy trì trạng thái thanh
khoản thặng dư tức là có một lượng vốn không được đưa vào đầu tư sinh lời, lượng
vốn này càng lớn thì lợi nhuận tiềm năng càng giảm. Ngược lại nếu NH chọn mục
tiêu lợi nhuận cao bằng cách sử dụng tối đa các nguồn vốn có được vào đầu tư kiếm
lời có thể sẽ đẩy NH vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản gây bất lợi cho hoạt động
NH.
Tóm lại, thanh khoản của ngân hàng liên quan trực tiếp đến an toàn và sinh
lợi. Duy trì an toàn thanh khoản - tức khả năng đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh
khoản là mục tiêu quan trọng và xuyên suốt trong hoạt động ngân hàng. Để duy trì
nó, ngân hàng phải chấp nhận một khoản chi phí nhất định. Ngân hàng luôn phải
cân nhắc sự đánh đổi giữa mức độ an toàn của thanh khoản và khả năng sinh lời. Để
gia tăng an toàn thanh khoản, chi phí cũng gia tăng. Do vậy, mục đích của
QTRRTK không phải là nhằm né tránh rủi ro mà là đối diện với nó, phòng ngừa,
kiểm soát và hạn chế được RRTK đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng với mức
chi phí thấp nhất có thể. Từ đó, đề ra các chiến lược kinh doanh, phát huy lợi thế
cạnh tranh, đo lường vốn tối thiểu và khả năng thanh toán, giúp lãnh đạo ra quyết
định, giúp các phòng ban liên quan định giá lại các khoản mục kinh doanh, báo cáo
và kiểm soát rủi ro, quản lý danh mục đầu tư.
1.3.3. Tổ chức quản trị rủi ro thanh khoản
Tổ chức quản trị RRTK phản ánh việc ngân hàng tổ chức, sắp xếp các nguồn
lực của ngân hàng nhằm quản lý RRTK bao gồm:
hàng, tuy nhiên lí tưởng nhất vẫn là thuộc khối tài chính hoặc khối nguồn vốn.
12
+ Khối Nguồn vốn dưới sự chỉ đạo của Ban điều hành, có thể bao gồm (nhưng
không giới hạn) các phòng kinh doanh (kinh doanh trên thị trường vốn, thị trường
ngoại hối, thị trường tiền tệ) và bộ phận ALM. Các phòng kinh doanh là nơi chịu
trách nhiệm thực hiện kinh doanh vốn, tiền tệ của ngân hàng, qua đó cung cấp số
liệu thường xuyên cho bộ phận ALM.
+ Bộ phận quản lý rủi ro: thực hiện kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả của các
chính sách, khung QLRR; đảm bảo tính tuân thủ của quy trình QLRR và chất
lượng, nội dung các phương pháp đo lường.
1.3.4. Các tín hiệu thị trường để nhận biết rủi ro thanh khoản
Điều kiện tiên quyết để quản trị rủi ro là phải nhận dạng được rủi ro. Nhận
dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, bao gồm: Việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động
và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả
dự báo những loại rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có các biện
pháp kiểm soát, tài trợ cho từng rủi ro phù hợp.
Không một ngân hàng nào có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng dự trữ
thanh khoản của họ là hợp lý và đủ để không bị rơi vào tình trạng RRTK nếu chưa
vượt qua những thử thách của thị trường. Những thử thách này được biểu hiện qua
những dấu hiệu nhận dạng sau:
- Lòng tin của công chúng: Sự tin tưởng của công chúng là một trong những
dấu hiệu quan trọng để đánh giá khả năng thanh khoản của một ngân hàng tốt hay
xấu. Nếu công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng yếu kém, không duy trì đủ
lượng tiền mặt hoặc không có khả năng hoàn trả các khoản tiền mà khách hàng yêu
cầu ngay lập tức thì điều này sẽ xói mòn lòng tin của công chúng vào ngân hàng.
Một khi uy tín sụt giảm, ngân hàng sẽ mất dần những khách hàng là người gửi tiền,
khả năng khách hàng rút tiền với số lượng lớn là rất cao, dễ đẩy NH vào tình trạng
RRTK cao. Ngược lại, nếu một ngân hàng có được sự tin tưởng của người gửi tiền
thì điều này có nghĩa rằng khách hàng đã đặt niềm tin vào khả năng hoàn trả cả gốc
bán tài sản. Dựa vào tần suất bán tài sản theo phương thức này suy đoán tính trầm
14
trọng của tình hình thanh khoản.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: Cho vay là một trong
những hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng vì hoạt động này tạo nhiều lợi
nhuận nhất và kéo theo các nghiệp vụ khác phát triển. NH cần nắm rõ tình hình cấp
tín dụng để kịp thời phát hiện những trường hợp không thể giải quyết cấp tín dụng
hoặc giải ngân cho khách hàng mặc dù đáp ứng đủ các điều kiện và có hệ số tín
nhiệm cao. Điều này xảy ra có thể là do NH đang phải chịu áp lực về thanh khoản.
- Vay vốn từ ngân hàng trung ương (NHTW): NHTW giữ vai trò là người cho
vay cuối cùng đối với các NHTM. Cho nên, khi một ngân hàng có dấu hiệu buộc
phải đi vay NHTW với khối lượng lớn và thường xuyên thì ngân hàng đó cần phải
xem xét lại chính sách quản lý thanh khoản của mình để lấy lại niềm tin của công
chúng.
Nếu như xuất hiện bất cứ một dấu hiệu thị trường nào nêu trên đây mà không
có các biện pháp củng cố khả năng thanh khoản kịp thời thì nguy cơ ngân hàng đó
rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản là không nhỏ. Các nhà quản trị ngân
hàng cần phải tập trung xem xét lại một cách các chính sách và thực tiến công tác
quản lý thanh khoản của ngân hàng để giải quyết xem những thay đổi gì cần phải
thực hiện để cải thiện khả năng thanh khoản và lấy lại niềm tin nơi công chúng.
1.3.5. Đo lường rủi ro thanh khoản
Công việc lượng hóa RRTK một cách chính xác là một thử thách lớn với
các nhà quản trị. Tuy vậy, dựa vào một số các giả thuyết, các nhà quản trị có thể
ước lượng gần đúng mức độ rủi ro tại thời điểm nhất định bằng nhiều công cụ
khác nhau. Trong số đó, ngân hàng có thể lựa chọn một hoặc một nhóm các
phương pháp sau :
a. Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn
Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn bắt đầu từ hai thực tế đơn
giản: (i) khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm, (ii) khả năng
thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng. Theo đó, phương pháp này
Khe hở thanh khoản = Nguồn cung TK - Nhu cầu TK = Δ(tiền gửi) - Δ(cho vay)
16
Khe hở thanh khoản lớn hơn 0, ngân hàng thăng dư thanh khoản. Khe hở
thanh khoản nhỏ hơn 0, ngân hàng thâm hụt thanh khoản. Khe hở thanh khoản bằng
0, ngân hàng có trạng thái thanh khoản lí tưởng, tuy nhiên đây là trường hợp hiếm
khi xảy ra trên thực tế.
b. Phương pháp tiếp cận cấu trúc nguồn vốn
Đối với phương pháp này, các nhà quản lý không quan tâm đến các nguồn
cung thanh khoản mà chỉ quan tâm đến nhu cầu thanh khoản, tức là thực thiện ước
lượng dự trữ thanh khoản kì kế hoạch cho hai nhu cầu chính là hoàn trả các khoản
tiền gửi, tiền vay và giải ngân cho các khoản tín dụng. Trong đó, nguồn vốn được
chia thành các nhóm dựa trên khả năng bị rút ra khỏi ngân hàng với mức dự trữ
thanh khoản được tính cho từng nhóm theo tỉ lệ dự trữ khác nhau. Có thể chia thành
3 nhóm:
- Nhóm nguồn vốn nóng gồm các khoản tiền gửi, tiền vay rất nhạy cảm với
lãi suất hoặc được dự tính chắc chắn sẽ bị rút khỏi NH trong kỳ kế hoạch.
- Nhóm nguồn vốn kém ổn định gồm các khoản tiền gửi, tiền vay của NH mà
một phần đáng kể (25%-30%) được dự tính sẽ bị rút trong kì kế hoạch.
- Nhóm nguồn vốn ổn định gồm các khoản tiền gửi, tiền vay của NH được tin
tưởng chắc chắn, ngoài một bộ phận không đáng kể, sẽ ít có khả năng bị rút ra trong
kì.
Tương ứng với từng nhóm nguồn vốn cần xác định mức dự trữ phù hợp. Yêu
cầu dự trữ thanh khoản đối với mỗi nhóm vốn được tính dựa vào tỉ lệ dự trữ thanh
khoản của từng nhóm. Tỉ lệ dữ trữ này được xác định tỉ lệ nghịch với mức độ ổn
định của nguồn vốn, thường ở mức 90%-95% nguồn vốn nóng còn lại sau khi trích
DTBB, 30% nguồn vốn kém ổn định sau khi trích DTBB và 15% nguồn vốn ổn
định sau khi trích DTBB.
Cầu thanh khoản cho tiền gửi của khách hàng và tiền vay của ngân hàng
được tính bằng tổng yêu cầu thanh khoản của các nhóm nguồn vốn trên. Dự trữ
thanh khoản cho tiền gửi, tiền vay = 95% (vốn nóng- DTBB)+ 30% (vốn kém ổn