nghiên cứu ảnh hưởng của kim loại nặng nên cây rau muống - Pdf 25

MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 1

Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Môi trường xuất hiện cùng với sự hình thành trái đất. Lúc đó môi trường mới
chỉ là môi trường vật lý. Cho đến khi có sự sống xuất hiện thì môi trường sinh thái
được hình thành. Thời kỳ đầu của sự phát triển trái đất, chất thải tự nhiên chưa có
mấy và chất thải nhân tạo thì hầu như chưa xuất hiện vì hoạt động của sự sống
sinh vật, kể cả con người còn rất ít. Mặt khác, môi trường có khả năng tự làm sạch
nên mức độ đó coi như không đáng kể. Theo thời gian, sự phát triển của sự sống
trên quả đất càng hoàn thiện và tăng cao thì chất thải càng nhiều do đó sự ô nhiễm
cũng ngày càng nhiều hơn.
Ngày nay xã hội ngày càng phát triển, hiện tượng đô thò hoá, công nghiệp
hoá càng nhanh thì tỉ lệ chất thải độc hại từ các máy móc, sản xuất công nghiệp và
những ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường ngày càng tăng nhanh do từ các hoạt
động của con người tác động vào nó. Các bệnh lây lan truyền nhiễm (dòch tả,
thương hàn…) do vi sinh vật gây bệnh gây ra, thường những bệnh nguy hiểm như
ung thư, quái thai, AIDS, các dò tật bẩm sinh ở trẻ em do các chất độc hại trong
môi trường đã xuất hiện ngày càng nhiều ở khắp nơi trên thế giới mà nguyên nhân
có thể nghi cho các độc chất ion kim loại nặng.
Hoạt động của con người càng đa dạng thì chất thải và ô nhiễm càng phức
tạp, càng nhiều lên. Ngày nay, việc chất thải không những được đổ ra và làm ô
nhiễm sông, biển mà còn được chôn xuống đất ngày càng phổ biến. Mặt khác,
giữa môi trường nước, môi trường không khí cùng với môi trường đất có một sự
liên quan chặt chẽ với nhau, đặc biệt là giữa môi trường nước và môi trường đất.
Nước ở trên mặt đất, nước ở trong lòng đất, nước và đất giao thoa nhau. Vì vậy, ô
MTX.VN

2+
lên lúa mạnh hơn Pb
2+
.
 Vì thời gian và kinh phí làm đề tài có hạn nên tôi chỉ thực hiện các nghiên
cứu xem xét “Ảnh hưởng của một số độc chất kim loại nặng (Cd
2+
, Hg
2+
) lên quá
trình sinh trưởng và phát triển của cây rau muống trên khu vực đất đỏ bazan tỉnh
Lâm Đồng”. Hy vọng rằng các kết quả nghiên cứu có thể làm căn cứ cho việc
đònh hướng phát triển trồng rau trên các vùng đất bò ô nhiễm, đồng thời góp phần
bảo vệ môi trường nông nghiệp và sức khoẻ cộng đồng.
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 3
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số độc chất kim loại nặng như Cd
2+
, Hg
2+
lên
quá trình sinh trưởng và phát tiển của cây rau muống trên khu vực đất đỏ bazan
tỉnh Lâm Đồng với mục đích:
- Đánh giá, xác đònh sự ảnh hưởng của các độc chất kim loại nặng trong rau trên
từng bộ phận (thân-lá, rễ) của cây rau muống trong từng giai đoạn phát triển và
thu hoạch.
- Xây dựng cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về khả năng tích lũy của các độc

1.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu tổng quan về đất đỏ bazan, tổng quan về tình hình ô nhiễm kim loại
nặng trong môi trường.
- Ảnh hưởng của kim loại nặng đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của thực
vật khảo sát như:
+ Ảnh hưởng của Cd
2+
, Hg
2+
đến tỷ lệ nẩy mầm của cây rau muống.
+ Ảnh hưởng của Cd
2+
, Hg
2+
đến chiều cao cây rau muống trong quá trình sinh
trưởng, phát triển và thời kỳ thu hoạch.
+ Ảnh hưởng của Cd
2+
, Hg
2+
đến chiều dài rễ cây rau muống ở thời kỳ thu hoạch.
+Ảnh hưởng của Cd
2+
, Hg
2+
đến độ ẩm thân-lá và rễ của cây rau muống thời kỳ
thu hoạch.
+ Hàm lượng Cd
2+
, Hg

Để tìm ra giới hạn gây độc của các kim loại nặng trong môi trường đất, trước
tiên chúng ta phải xem xét ảnh hưởng của các kim loại nặng này đến môi trường
đất như thế nào. Các đề tài nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào nghiên cứu ảnh
hưởng của các kim loại nặng trong môi trường dung dòch có chứa các dung dòch
gây nhiễm hay nuôi trồng trong cát nhưng có các dưỡng chất và ion độc cần thiết.
Đó là các nghiên cứu tương đối đơn giản, dễ khảo sát đồng thời cũng cho biết được
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang
6
các kim loại nặng có ảnh hưởng như thế nào trong quá trình sinh trưởng của thực
vật. Tuy nhiên, xét về khía cạnh thực tiễn thì các khảo sát đó có những mặt hạn
chế nhất đònh vì cây trồng nông nghiệp không sống trong môi trường nước mà chủ
yếu sống trong môi trường đất - đây là một hệ thống phức tạp hơn nhiều, bởi vì
những tính chất của đất và các đặc trưng hoá học, lý học, sinh học biến đổi rất lớn
giữa các hệ thống đất khác nhau. Đất là một vật thể gồm chất rắn, chất lỏng (dung
dòch đất) và chất khí. Mối quan hệ giữa đất, không khí, nước ngầm, hệ sinh thái và
con người là tương quan nhân quả mật thiết với nhau. Bất cứ một sự thay đổi, biến
động của một thành phần môi trường nào đó cũng kéo theo sự thay đổi, ảnh hưởng
đến các thành phần môi trường khác - vì thế việc nghiên cứu ảnh hưởng của các
kim loại nặng đến quá trình sinh trưởng của một số cây trồng nông nghiệp là cần
phải được tiến hành. Đây cũng là nội dung nghiên cứu chính của đồ án.
Việc chọn đối tượng nghiên cứu là đất đỏ bazan tỉnh Lâm Đồng vì đất đỏ bazan
là loại đấât có diện tích khá lớn ở nước ta, tâp trung nhiều ở vùng Tây Nguyên và
Trung bộ nước ta. Ở đây các hoạt động về công nghiệp còn ít, các tác động còn ít
hơn so với các loại đất khác.
Cây rau muống là cây sử dụng trong bữa ăn hàng ngày chủ yếu ở nước ta. Các
khu vực sử dụng cho đất nông nghiệp hiện nay đang bò thu hẹp và bò các chất thải
ô nhiễm xâm nhập vào nguồn nước tưới. Cây rau muống lại là cây có khả năng

- Pha chế dung dòch thí nghiệm, gây nhiễm nhân tạo Cd
2+
, Hg
2+
trong đất khảo sát
theo mức độ tăng dần trong các nghiệm thức, có mẫu làm đối chứng vào đất, ủ hạt,
gieo trồng và bón phân.
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của nồng độ độc chất Cd
2+
, Hg
2+
khảo sát đối với toàn
bộ chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây rau muống (quan sát, đo đạc bằng
cách theo dõi và ghi nhận ảnh hưởng của độc chất đến quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây rau muống như: sự nẩy mầm, xuất hiện lá thật, chiều cao cây và
các ảnh hưởng bất lợi khác như: héo lá, vàng lá, sâu bệnh).
- Thu mẫu rau khi rau muống đến thời kỳ thu hoạch (30-32 ngày). Phân tích chỉ
tiêu độc chất Cd
2+
, Hg
2+
trong các bộ phận của rau như thân-lá và rễ.
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 8
- Phân tích chất lượng cây trồng: độ ẩm, chiều cao thân cây trong từng giai đoạn
phát triển, tích luỹ độc chất kim loại nặng trong thân-lá và rễ.
- Ứng dụng các phần mềm vi tính trong xử lý số liệu và văn bản hoá như Exel,
Statgraphic … nhằm đưa ra hệ số tương quan và mức độ tin cậy.

Hình 1
Sơ đồ nghiên cứu của đề tài
Lựa chọn hạt giống
Xử lý hạt giống và ủ
Đất ngoài thực đòa
Đ
a
á
t co
ù
c
h
a
á
t o
â
n
h
i
e
ã
m
(có nồng độ xác đònh trước)
Khảo sát quá trình sinh
trưởng và phát triển của
thực vậtkhảo sát
Khảo sát quá trình sinh trưởng, phát
triển của cây và khả năng tích lũy các
độc chất khảo sát trong các bộ phận cây
Tính toán để đưa ra các

- Làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo, mở rộng nghiên cứu cho những loại cây
nông nghiệp khác.
- Xây dựng thêm bảng số liệu về nồng độ kim loại nặng đạt đến mức kích thích
cũng như kìm hãm về sự phát triển của cây trồng.
- Đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho môn độc học môi trường, tham khảo về
cách bố trí thí nghiệm trong nghiên cứu độc học.
1.8. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Do đều kiện kinh phí còn hạn chế nên chỉ trồng và phân tích được hai lần vì
vậy mà mức độ chính xác còn chưa tuyệt đối do còn có những sai số về tính toán
và phân tích.
1.9. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
- Mở rộng để nghiên cứu với nhiều loại độc chất khác nhau như As, Pb… ở trên
nhiều loại cây khác nhau đặc biệt là cây nông nghiệp như: cải, rau dền, mồng tơi,
đậu, cà rốt, su hào… và các loại cây ăn lá, củ khác.
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 11
- Mở rộng nghiên cứu đối với nhiều loại đất khác nhau như: đất xám, đất thòt, đất
phèn…
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn kim loại nặng trong môi trường đất.
- Từ ngưỡng gây độc đối với thực vật khảo sát ta có thể đưa giới hạn cho phép của
kim loại nặng đó vào trong đất.
1.10. BỐ CỤC CỦA ĐỒ ÁN
Toàn bộ đồ án gồm 85 trang A4 đánh máy (không tính phần mục lục và phụ
lục), gồm 28 bảng biểu, 10 biểu đồ ,12 đồ thò, 5 hình ảnh và 11 tài liệu tham khảo
trong nước và nước ngoài.
Đồ án được bố cục thành những chương sau:
 Chương 1 : Mở đầu
 Chương 2 : Cơ sở lý thuyết

tự nhiên là núi rừng, phía bắc giáp tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông, phía đông giáp tỉnh
Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận phía tây giáp tỉnh Bình Phước và Đồng
Nai.
- Khí hậu: Đà Lạt được mệnh danh là “thành phố của mùa xuân”. Ở đây rất mát
mẻ, nhiệt độ trung bình cao nhất trong ngày là 24
o
C và nhiệt độ trung bình thấp
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 13
nhất trong ngày 15
o
C, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.755mm. Mùa khô từ
tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11. Có nắng trong
tất cả các mùa.
- Tài nguyên: Lâm Đồng là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và
đa dạng. Một số loại khoáng sản có trữ lượng lớn và chất lượng tốt đủ điều kiện để
khai thác với quy mô công nghiệp. Nguồn nguyên liệu nông lâm phong phú về
chủng loại, có thể tổ chức thành những vùng chuyên canh về quy mô lớn phục vụ
cho công nghiệp chế biến. Hệ thống sông, suối, hồ, đập… có tiềm năng lớn để phát
triển hệ thống thuỷ điện từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, đủ khả năng đáp ứng
nguồn năng lượng tại chỗ. Tài nguyên Lâm Đồng rất thích hợp để phát triển các
loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, dâu tằm… và rau hoa. Lâm Đồng
đã hình thành nhiều vùng chuyên canh tập trung và là thò trường tiềm năng về
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm. Lâm Đồng đứng đầu
cả nước về sản xuất chè, rau hoa chất lượng cao, đứng thứ 2 cả nước về sản xuất
cà phê, chiếm tỉ trọng cao về các sản phẩm như: dâu tằm tơ, hạt điều, bò thòt sữa,
mía đường, dược liệu… về lâm sản thì Lâm Đồng có 617815 ha rừng với độ che
phủ 63% diện tích toàn Tỉnh.

ra mỗi năm đất Tây Nguyên bò trôi xuống sông Mê Kông và sau đó đổ ra biển
Đông tới hàng trăm triệu tấn. Đây là lý do khiến cho đất canh tác bò bạc màu
nhanh chóng.
2.1.3. Tính chất đất đỏ bazan vùng Tây Nguyên
Đất đỏ bazan vùng Tây Nguyên là loại đất hình thành trên sản phẩm phong
hoá của đá bazan vùng Tây Nguyên, có diện tích 1,3 triệu ha chiếm 24,07% diện
tích đất tự nhiên. Đất bazan là loại đất có độ phì nhiêu cao ở vùng nhiệt đới, có
khả năng thích nghi với việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su,
cà phê, chè, hồ tiêu… loại đất này có kết cấu tốt, tơi xốp, thoáng khí, có bề dày
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 15
khá, tỷ lệ mùn cao, hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn so với nhiều loại đất khác.
Một số kết quả phân tích cho thấy rằng: đất có thành phần cơ giới từ thòt trung bình
đến thòt nặng, phản ứng chua có pH khoảng 3,8-4,3, hàm lượng mùn tổng số thấp,
hàm lượng đạm tổng số ở tầng mặt trung bình, hàm lượng lân, kali từ trung bình
đến thấp.
2.2 . TỔNG QUAN VỀ KIM LOẠI NẶNG
2.2.1. Khái niệm
Thuật ngữ “kim loại nặng” (heavy metals) đã được công nhận và sử dụng rộng rãi,
mặc dù không dễ dàng đònh nghóa nó. Thuật ngữ này được dùng để chỉ tên nhóm các
kim loại và á kim, nó gắn liền với sự ô nhiễm và tính độc, nhưng cũng có một số
nguyên tố cần thiết cho cơ thể sinh vật khi ở nồng độ thấp.
“ Kim loại độc” (Toxic metals) là thuật ngữ khác với thuật ngữ “kim loại nặng” để
chỉ các nguyên tố không cần thiết, dễ gây kính ứng như Pb, Cd, Hg, As, Ti và U; nó
không dùng để chỉ các nguyên tố thiết yếu cho cơ thể sinh vật như Co, Cu, Mn, Se và
Zn. Sự phân loại kim loại độc dựa trên tỷ trọng nguyên tử (d> 6g/cm
3
) nhưng nó cũng

Trung bình
trong đất
Cd
Hg
Pb
0,13
0,012
3
0,09
0,08
24
0,17
0,19
19
0,11
0,05
14
0,01 – 2
0,01 – 0,5
0,2 – 0,5
0,35
0,06
19
(Nguồn: Tack E. Fergusson. 1987)
Đã có nhiều bằng chứng chứng minh nguy hiểm độc hại của kim loại nặng trong
môi trường đất đến thực vật, động vật ăn thực vật và con người mà biểu hiện rõ là ảnh
hưởng của Pb, Cd, Hg. Nguồn gốc ô nhiễm của kim loại nặng chủ yếu gây ra bởi các
hoạt động của con người, các ảnh hưởng của các tập quán nông nghiệp hoặc từ khai
thác mỏ và từ sản xuất công nghiệp sử dụng đạn chì của thợ săn và sự phóng
thích chì của xe ô tô ngày càng trầm trọng.

Hg, As, Cd
Pb, As, Sb,
Ti
Te

Se, Hg
As, Cd
Pb, Bi, Sb, Ti
Te
Se

As, Cd
Pb, Bi, Sb, Ti
Te

Te, Se, Hg
Cd, Pb, Bi, Ti
(Nguồn: Kabata, 1984)
2.2.3. Tổng quan về độc chất thuỷ ngân (mercury)
Người ta đã sử dụng thuỷ ngân cách đây khoảng 3500 năm. Ngày xưa, người La
Mã đã sử dụng Hg để chế tạo chất màu đỏ của thần sa. Các hợp chất thuỷ ngân là
những chất độc mạnh và nhiễm độc Hg đã được biết từ thế kỷ XVI, nhất là ở những
người dùng thuốc có Hg để điều trò bệnh giang mai.
Thuỷ ngân là kim loại thể lỏng duy nhất ở 0
o
C, màu trắng bạc, tỷ trọng 13,6, M =
200,61. Trong thiên nhiên, Hg có trong các quặng sunfua với hàm lượng 0,1 - 4%, để

)
2
.8H
2
O)], [(Hg(CN)
2
)}, HgS, [Hg(CNO)
2
], Neptal, Merurocrom.
Trước đây một số hợp chất hữu cơ cũng được dùng làm hoá chất trừ dòch hại như trừ
nấm (ví dụ để xử lý nấm ở thóc giống trước khi gieo hạt …) nhưng vì các hoá chất đó
gây nhiễm độc cho người dùng và lưu tồn lâu dài trong môi trường tự nhiên nay đã
cấm sử dụng ở Việt Nam từ năm 1996.
Thuỷ ngân là một trong số các nguyên tố độc chất cho con người và nhiều động
vật bậc cao. Mặc dù Hg có tính độc dưới dạng ion, muối thuỷ ngân có tính độc cao với
các sự nguy hiểm khác nhau. Vài loại thuỷ ngân hữu cơ, đặc biệt như Ankyl Hg thì
được xem như rất độc đối với con người do ảnh hưởng đến hệ thần kinh, đặc biệt là
metyl Hg có ảnh hưởng rất mạnh. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tính độc hại của Hg và
các hợp chất của nó trong môi trường là một vấn đề gần đây mới trở nên nổi cộm.
Trường hợp đầu tiên được biết ở Nhật Bản, trong suốt năm 1950, khi mà người dân
một tỉnh nhỏ Miramata đã bò ngộ độc khi ăn cá có chứa mức Hg metyl cao, hoặc là
một vài trường hợp thú hoang dại bò ngộ độc khi ăn lá cây có chứa nhiều metyl Hg ở
Đức 1948 – 1965.
2.2.4. Tổng quan về độc chất Cadmium (Cd)
Cadmium (Cd) thuộc nhóm (IIB), chu kỳ 5, có khối lượng nguyên tử trung bình
bằng 112,411 (đvc) trong bảng hệ thống tuần hoàn, là một kim loại quý hiếm, được
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 19

Ô nhiễm môi trường do Cd
2+
đã và đang gia tăng nhanh trong những thập niên gần
đây là do hậu quả của việc phát triển công nghiệp ồ ạt và đặc biệt là việc gia tăng sử
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 2
0
dụng Cd trong công nghiệp. Mặt khác do quá trình khai thác các mỏ kim loại gia tăng
và quá trình thải chất thải bừa bãi dẫn đến ô nhiễm Cd trong môi trường là điều khó
tránh khỏi.
2.3. QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT KHẢO
SÁT TRONG TỰ NHIÊN
Hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu quá trình sinh trưởng và phát triển của
cây rau muống. Sau đây chỉ giới thiệu sơ lược về loại cây này
Cây rau muống: sinh trưởng mạnh thích hợp canh tác ở nhiều vùng. Có hai loại rau
muống: rau muống nước và rau muống hạt. Lá dài, hẹp, màu xanh trung bình, thân
trơn láng. Cây sinh trưởng sau 23-25 ngày có thể thu hoạch. Có nhiều loại rau muống
khác nhau và cũng có nhiều phương pháp trồng và canh tác khác nhau.
- Trồng rau muống hạt
Làm đất nhỏ, làm luống rộng từ 1-1,2m, gieo hạt theo hàng, khoảng cách hàng là
15x15cm. Sau khi gieo tưới nước giữ ẩm.
Lượng hạt gieo: 1,5kg/100m
2
Bón thúc bằng nước phân lợn pha loãng hoặc đạm 0.5-0.7kg/100m
2
Nếu chăm sóc tốt thì sau 20-25 ngày cho thu hoạch đợt đầu.
- Trồng rau muống dây
+ Trồng trong ruộng cạn hoặc trong vườn dùng giống rau muống trắng.

chảy khối và chúng có khả năng tích lũy tại bề mặt tiếp xúc rễ cây – đất (xem sơ đồ).
Đất 1) khuếch tán
Rễ cây
Dung dòch 2) di chuyển khối
MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 22
2.4.1.2. Quá trình xâm nhập độc chất kim loại nặng vào trong cây trồng
Quá trình xâm nhập độc chất kim loại nặng vào trong cây trồng gồm có 4 giai
đoạn:
_Độc chất kim loại nặng đi vào vùng tự do của rễ cây
Sự di chuyển của các ion kim loại không bò giới hạn tại bề mặt rễ cây. Tại vùng
màng của các tế bào có khả năng dễ dàng cho dung dòch xâm nhập hay còn gọi là
vùng tự do, tại đây các ion dương có thể khuếch tán tự do (khu vực nước di chuyển tự
do) hoặc bò bẫy vào những tế bào mang điện âm, ví dụ trên màng có gắn nhóm
cacboxylic của các đơn vò polygalacturonic. (Marschner, 1986) [8], ion kim loại có
khả năng tích lũy trong khu vực tự do của rễ cây, một số bò bám dính chặt vào mặt tế
bào rễ. Chúng liên kết mạnh với các nhóm axit cacboxylic theo thứ tự Pb > Cu > Cd
> Zn (Morel và cộng sự, 1985) [8], sự liên kết này đóng một vai trò quan trọng đối với
sự tích lũy các kim loại nặng trong rễ cây và gia tăng lượng hấp thu liên tục của kim
loại nặng vào tế bào rễ. Kim loại được vận chuyển vào khối hình cầu thân rễ
(rhizosphere) – vùng rộng khoảng 1-2 mm giữa rễ và đất xung quanh. Mycorrhizae là
nấm cộng sinh làm gia tăng một cách hiệu quả khu vực hấp thu của rễ và có thể trợ

non. Sự di chuyển của các dung dòch trong mao dẫn rễ là nguyên nhân gây ra các
dòng thở (sự di chuyển khối-dòng chảy khối). Các cation tự do có thể phản ứng với
các nhóm mang điện âm của thành tế bào mao dẫn rễ, đây chính là lý do cản trở sự
vận chuyển của kim loại nặng hay làm quá trình trao đổi bò chậm lại. Ngoài ra, các
nhóm tạo phức với kim loại tự do như các acid hữu cơ, aminoacid trong mao dẫn rễ sẽ
làm giảm mức độ linh động của kim loại nặng và cho phép chúng chuyển vào các
mầm non. Sự xuất hiện của các màng điện trái dấu với kim loại góp phần đẩy nhanh
quá trình đưa độc chất kim loại vào mầm non. MTX.VN
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lê Thò Vu Lan
SVTH: Nguyễn Ngọc Hùng
Trang 24
- Sự tích luỹ kim loại nặng trong các bộ phận của cây trồng [9]
Với sự góp mặt của kim loại trong cây trồng làm biến đổi dò hoá các yếu tố gen
(Catoldo và cộng sự, 1981: Sheppard và cộng sự, 1992) và sự mất linh động của kim
loại trong rễ. Kim loại nặng chiếm trong rễ 80-90% tổng lượng kim loại hấp thu (javis
và cộng sự, 1976). Hầu hết các kim loại được tích lũy trong rễ cây đều ở trong gian
bào và được liên kết vào các hợp chất pectin và prôtein của thành tế bào. Ngoài ra,
một số loài cây có khả năng tích lũy ở phần phía trên của cây (ví dụ: thuốc lá ≥ 80%
Cd trong lá) (Mench và cộng sự, 1989).
Phân bố hàm lượng KLN trong các bộ phận của cây (%)
84.2
7.8
2
1.5
4.5
rễ
thân
Hình 3: Sơ đồ sự chuyển hóa của Cd
2+
[10]
2.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính độc của độc chất Cadmium trong đất
Keo đất cấu tạo bởi 4 lớp từ trong ra ngoài là: nhân, lớp ion quyết đònh thế (thường
là điện tích âm), lớp ion không di chuyển (mang điện trái dấu với lớp ion quyết đònh
thế) và lớp ion có khả năng trao đổi điện tích (với môi trường bên ngoài). Với cấu trúc
này keo đất có khả năng hấp thụ trao đổi ion giữa bề mặt của keo đất với dung dòch
đất bao quanh nó. Sự xâm nhập của độc chất vào môi trường đất được thực hiện thông
qua hoạt tính của keo đất và dung dòch đất.

Cd
2+
tự do
trong cơ thể
Trao đổi với Zn
2+

trong enzyme
Hô hấp Ăn uống
Liên kết tạo thành
metal-tionin
Thận
1% dự trữ trong
thận và các bộ
p
ha
ä


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status