TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
o0o
TIỂU LUẬN
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài :
Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp
Giáo viên hướng dẫn : TS. Mai Thu Hiền
Lớp : TCNH 19A
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Quỳnh Chi (STT 10)
Trần Kim Chung (STT 12)
Phạm Thu Giang (STT 18)
Phạm Thu Hòa (STT 28)
Đặng Thị Thu Hương (STT 32)
Nguyễn Huyền Linh (STT 41)
Nguyễn Thị Thùy Linh (STT 42)
Hà Nội, tháng 6-2013
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
MỤC LỤC
2
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
MỤC LỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ
3
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
LỜI MỞ ĐẦU
Khủng hoảng tài chính đang diễn ra ngày càng liên tục với cường độ
mạnh và diễn biến phức tạp gây ra những hậu quả nặng nề đối với các quốc gia
công nghiệp phát triển lẫn các nước đang phát triển. Bên cạnh khủng hoảng tài
chính, ngày nay chúng ta còn đề cập nhiều và nghiên cứu một cách nghiêm túc
hơn đến “Khủng hoảng nợ công”. Gần đây nhất, cuộc khủng hoảng nợ công
Châu Âu xuất phát từ Hy Lạp đã tốn khá nhiều giấy mực của các nhà phân tích.
trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước
quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ,
nhà nước phải trả nợ thay). Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ trả nợ
của chính quyền trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ
chức độc lập được chính phủ bảo lãnh thanh toán.
Qua khái niệm trên, IMF đã chia khu vực công ra thành khu vực công tài
chính và khu vực công phi tài chính. Tuy nhiên, đôi lúc trên thực tế chỉ có số
liệu nợ của khu vực công phi tài chính và nợ của khu vực công tài chính mà
được chính phủ bảo lãnh mới được tính vào nợ công. Điều này làm cho tổng số
nợ của khu vực công như định nghĩa của IMF sẽ không đầy đủ do loại trừ nợ
của ngân hàng trung ương và những khoản nợ không được bảo lãnh của các định
chế tài chính tiền gửi và phi tiền gửi thuộc khu vực công.
Theo Ngân hàng thế giới (WB)
Nợ công là nợ của khu vực công bao gồm các nghĩa vụ nợ của: (1) Chính
phủ trung ương và các bộ; (2) Các cấp chính quyền địa phương; (3) Các thể chế
độc lập nhưng nguồn vốn hoạt động của nó do Ngân sách nhà nước quyết định
(trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước) và trong trượng hợp vỡ nợ nhà nước phải
5
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
trả nợ thay cho thể chế đó; (4) Nợ của Ngân hàng trung ương. Khái niệm nợ
công theo định nghĩa của WB được coi là thước đo toàn diện nhất
Khái niệm theo Luật quản lý nợ công Chính phủ ban hành tháng 2 năm
2009
“Nợ công được hiểu bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và
nợ chính quyền địa phương”. Trong đó:
- Nợ Chính phủ: Là các khoản nợ được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước
hoặc Chính phủ, các khoản nợ do Bộ Tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy quyền
phát hành; nhưng không bao gồm các khoản nợ do NHNN Việt Nam phát hành
nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh: Là các khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức kinh
Thứ nhất, nợ công đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, đảm bảo an sinh xã hội. Những
khoản vay nước ngoài sẽ là nguồn tài trợ bổ sung chủ yếu cho đầu tư phát triển kinh
tế - xã hội của các nước trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển mà không làm
thoái lui đầu tư tư nhân khi chính phủ đầu tư lớn.
Thứ hai, nợ công góp phần huy động vốn cho bù đắp bội chi NSNN. Trong khi việc
tăng thuế và giảm chi tiêu đòi hỏi khoảng thời gian dài, cũng như phải thực hiện
đồng bộ nhiều chính sách, in tiền sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế, việc vay
nợ sẽ góp phần bù đắp kịp thời bội chi NSNN trong khi các nguồn khác chưa kịp đáp
ứng.
Thứ ba, Thông qua vay nợ tạo ra công cụ để điều hành chính sách tiền tệ và điều tiết
thị trường tài chính. Chính phủ các nước sử dụng nhiều hình thức vay mượn khác
nhau, trong đó việc phát hành trái phiếu Chính phủ đã góp phần quan trọng tạo thêm
công cụ để ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ.
Thứ tư, nợ công góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế. Đối với
những khoản nợ nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia vay nợ tiếp cận được
nguồn vốn mà không làm giảm đầu tư hay tiêu dùng trong nước. Hơn nữa, khi tiếp
7
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
cận với các nguồn vốn bên ngoài đòi hỏi sự nỗ lực trong việc cải cách về thể chế,
môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng… của các nước vay nợ. Ngoài ra, các nước
vay nợ có thể tiếp cận đối với máy móc, thiết bị, chuyển giao công nghệ và các kỹ
năng quản lý mới. Điều này tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội nhiều hơn để hội nhập
sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Tác động tiêu cực
Nợ công tác động đến sự tăng trưởng kinh tế và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Nếu nợ công được thực hiện bằng nguồn vay nợ trong nước sẽ đẩy mặt bằng lãi suất
lên cao, kết quả làm tăng chi phí đầu tư, giảm nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và có
thể dẫn đến “hiệu ứng thoái lui đầu tư”. Vay nước ngoài, tác động thoái lui đầu tư có
thể được hạn chế do giảm bớt căng thẳng về lãi suất nhưng lại có thể gây ra sự bất ổn
về tỷ giá, từ đó, khiến cho hoạt động đầu tư bị sụt giảm, điều này tác động làm suy
khu vực. Nếu không có những giải pháp hữu hiệu để trợ giúp sẽ dẫn đến khủng
hoảng tiền tệ và khủng hoảng kinh tế.
Tóm lại, nợ công, ở một mức độ vừa phải là cần thiết trong sự phát triển của một
quốc gia. Thông qua việc sử dụng ngân sách đúng chỗ và hiệu quả nhằm thúc đẩy
kinh tế và ổn định xã hội. Ngược lại, việc quản lý và sử dụng ngân sách không hiệu
quả sẽ làm nợ công ngày càng tăng, ảnh hưởng lớn đến các mục tiêu vĩ mô, gây bất
ổn định chính trị - xã hội.
1.2 KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
1.2.1 Khái niệm
Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo nền kinh
tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia. Nhu cầu chi quá nhiều,
trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hình thức
như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,… để chi, từ đó dẫn đến tình
trạng nợ không có khả năng hoàn trả. Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công
gia tăng. Nợ không trả sớm, để lâu thành "lãi mẹ đẻ lãi con" và ngày càng chồng chất
thêm.
9
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công
Nợ chồng lên nợ và sự tham nhũng của chính quyền
Một trong những nguyên nhân của khủng hoảng nợ là do sự cộng dồn của các
món nợ. Lãi chồng lên lãi, cộng vào gốc và lại tiếp tục bị tính lãi cho khoản gốc mới.
Không có biện pháp nào với thời gian ân hạn dài hơn, lãi suất thấp hơn hoặc các
khoản trả dần lâu hơn thực sự đem lại thành công giúp các nước nghèo thoát khỏi
khối nợ nần chồng chất.
Một lý do khác cho những món nợ khổng lồ là sự tham nhũng và tham ô tiền bạc
của một nhóm người ở các nước đang phát triển. Rất nhiều khoản cho vay đi kèm
cùng các điều kiện bao gồm ưu tiên xuất khẩu…Hệ lụy là nhiều tiền hơn chảy ra
khỏi các nước đang phát triển thay vì được về. Hầu hết các quốc gia có hệ số nợ cao
đều là các nuớc nghèo, trình độ dân trí thấp, chính quyền quan liêu, tham nhũng…
1.2.3 Hậu quả của khủng hoảng nợ công
Hậu quả của những cuộc khủng hoảng nợ là vô cùng to lớn, không chỉ riêng với
những nước đi vay - “con nợ” mà với cả nước cho vay“chủ nợ”.
Đối với các nước vay nợ:
Khủng hoảng nợ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị, xã
hội, y tế, giáo dục… Nền kinh tế bị suy giảm nghiêm trọng: GDP giảm mạnh, sản
xuất đình trệ, thất nghiệp trầm trọng, (tỷ lệ thất nghiệp tại Chi lê năm 1984 là
18,4%), lạm phát cao chưa từng thấy. Tỷ lệ lạm phát trung bình của các nước Mỹ
Latin năm 1982 là 86%; 1984 là 175%, thậm chí mức lạm phát của Bolivia năm này
lên tới 2300%.
Khủng hoảng nợ làm cho tình hình chính trị bất ổn. Trong cuộc khủng hoảng nợ
những năm 1980, có rất nhiều các chính thể cầm quyền bất lực ở một số nước Mỹ La
Tinh đã bị lật đổ trước sức ép của kinh tế trong cuộc khủng hoảng nợ ví dụ như Chi
Lê, Bra- xin…
11
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
Khủng hoảng nợ đẩy các nước đang phát triển vào tình thế lệ thuộc càng sâu sắc
hơn về mặt kinh tế và chính trị vào thế giới tư bản. Các nước giàu càng có dịp mở
rộng hơn nữa quyền bóc lột và cơ hội can thiệp và chính sách đối nội của các nước
đang phát triển, làm xói mòn sự tự chủ về kinh tế và tiến bộ xã hội. Điển hình trong
cuộc khủng hoảng nợ những năm 1980, Mỹ có ý định biến Mỹ La Tinh trở thành
“sân sau” của mình.
Khủng hoảng nợ khiến cho người dân ngày càng nghèo đói. Vào những năm
1970 , những nước nghèo nhất thế giới (khoảng 60 nước có thu nhập thấp nhất theo
WB) gánh chịu một khoản nợ 25 triệu USD. Đến năm 2002, con số này là 523 triệu
USD, trong đó nợ IMF và WB khoảng 153 triệu USD.
Đối với các nước chủ nợ
Nền kinh tế của các nước tư bản chủ nợ trong thời kỳ diễn ra khủng hoảng nợ
cũng thường khá u ám. Theo tính toán của các nhà kinh tế, nếu trong một năm Bra-
xin không trả nợ thì GDP của Mỹ sẽ giảm 2.5 tỷ USD. Cuộc khủng hoảng nợ những
quân giai đoạn 2000-2009, GDP của Hy Lạp tăng khoảng 3,1%. GDP năm 2009 đạt
khoảng 333 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 15360 USD/năm
(khoảng 29000 USD/năm theo PPP).
Hình 1: Biểu đồ về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Hy Lạp (1999-2009)
Nguồn: TradingEconomics.com; NSS
Kinh tế Hy Lạp tăng trưởng hàng năm từ 2004-2007 khoảng 4% do một phần
là chi tiêu cho Thế vận hội Athens 2004 và phần còn lại là sự gia tăng của tín dụng
mà đóng góp đáng kể là sự gia tăng của tín dụng tiêu dung. Năm 2008, tốc độ tăng
trưởng của Hy Lạp chỉ còn là 0,7%. Năm 2009 GDP tăng trưởng âm đạt mức -2,5%
13
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
là kết quả của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, các biện pháp tín dụng và thất bại
của Athens để giải quyết thâm hụt ngân sách ngày càng tăng, gây ra do các nguồn
thu của nhà nước không kịp với nhu cầu chi tiêu của chính phủ, thậm chí một số loại
thuế còn phải chịu áp lực cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Nợ công, lạm phát, thất nghiệp của Hy Lạp luôn ở mức cao so với khu vực
Eurozone. Năm 2009, tình trạng thất nghiệp tăng cao lên đến 9,4% là do những tác
động của khủng hoảng tài chính.
Hình 2: Tỷ lệ thất nghiệp của Hy Lạp (2002-2010)
Nguồn: TradingEconomics.com; European Commission
Đến tháng 2/2009 thủ tướng Hi Lạp thừa nhận rằng nền kinh tế Hi Lạp đang
trong tình trạng cần đặc biệt quan tâm khi bộ trưởng tài chính Châu Âu nhấn mạnh
mối lo ngại về qui mô khoản nợ công rất lớn của đất nước này.
Hình 3: Tổng nợ chính phủ so với GDP (%)
Có thể thấy trong cuốt thập kỷ trước khi khủng hoảng tài chính bắt đầu vào
năm 2008 chính phủ Hy Lạp đã vay mượn rất nhiều từ nước ngoài để bù đắp cho
thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai. Giữa năm 2001 và năm 2008 báo cáo
14
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
thâm hụt ngân sách trung bình của nước này là 5% /năm so với mức 2% trung bình
Chúng ta có thể thấy thâm hụt ngân sách và tỷ lệ nợ so với GDP của Hi Lạp
rất lớn và đứng đầu so với các nước. Các tỷ lệ này cho thấy các tiêu chí của thành
viên EU ở ngay cả Đức cũng không được thực hiện đúng (nợ lớn hơn 60% GDP và
thâm hụt ngân sách 3.5% GDP)
Kể từ cuối năm 2009, niềm tin của các nhà đầu tư vào chính phủ Hiy Lạp trở
nên lung lay. Sau khi công bố tỷ lệ thâm hụt ngân sách quá lớn ở ngưỡng 12,7%
GDP, trái phiếu của Hy Lạp đã bị đánh tụt hạng bởi ba nhà xếp hạng tín dụng hàng
đầu. Các nước có nợ nước ngoài lớn như Hy Lạp là mối quan tâm hàng đầu của các
nhà đầu tư. Nhiều luận điệu về việc chính phủ Hy Lạp đã làm giả các số liệu thống
kê và không minh bạch mức độ nợ thông qua các công cụ tài chính phức tạp cũng
góp phần làm mất lòng tin cho các nhà đầu tư. Trước khủng hoảng nợ, lợi tức trái
phiếu 10 năm của Hy Lạp là 10 đến 40 điểm cơ bản , lớn hơn trái phiếu 10 năm của
Đức. Chênh lệch điểm mua bán cao thể hiện sự mất lòng tin của các nhà đầu tư vào
nền kinh tế Hy Lạp.
16
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
Hình 5: Lợi suất trái phiếu 10 năm của Hy Lạp so với trái phiếu cùng loại của Đức.
Ngày 3/11/2009, Ủy ban Châu Âu (EC) dự báo mức thâm hụt ngân sách của
Hy Lạp là 12,7% trong năm 2009 và 12,2% trong 2010. Ngày 8/12/2009 khủng
hoảng leo thang khi trái phiếu của quốc gia này sụt giảm nhanh chóng sau khi bị tổ
chức Fitch hạ bậc tín nhiệm về nợ dài hạn từ A- xuống BBB+. Lần đầu tiên trong
thập kỷ khi Hi Lạp bị xếp hạng dưới mức A- và đẩy chi phí vay nợ của nước này
tăng lên. Trước những diễn biến xấu, ngày 14/12/2009, Thủ tướng Papandreou tuyên
bố sẽ thẳng tay với nạn tham nhũng, thắt chặt chi tiêu hơn nữa, trong đó đánh thuế
90% lên các khoản thưởng của giới “cá mập” ngân hàng cũng như ra lệnh cấm toàn
bộ việc thưởng tiền cho các quan chức điều hành trong khu vực công. Mười ngày
sau, Quốc hội Hy Lạp thông qua dự thảo ngân sách nỗ lực để cắt giảm thâm hụt ngân
sách 4% và dự báo mức thâm hụt ngân sách của năm 2010 là 9,1%. Trước tình hình
đó hàng nghìn công nhân đã đổ xuống đường phản đối chính sách cắt giảm ngân
vay theo chuẩn IMF nhằm mục đích giúp các nước giải quyết những khó khăn trong
cán cân thanh toán trị giá 15 tỷ euro (khoảng 20 tỷ usd) trong năm sẽ được rót trước
cho Hy Lạp bởi các thành viên EU.Tuy nhiên các nhà đầu tư lại một lần nữa lo ngại
18
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
khi Eurostat đưa ra ước tính về thâm hụt ngân sách của Hy Lạp ở mức 13.6% GDP,
cao hơn báo cáo của chính phủ Hy Lạp đưa ra vào tháng 10/2009. Điều này lại dẫn
đến lo ngại về khả năng thanh toán nợ của Hy Lạp, với 8.5 tỷ euro (khoảng 11.1 tỷ
usd) đến hạn vào giữa tháng 5/2010. Ngày 23/4/2010, chính phủ Hi Lạp đã trịnh
trọng yêu cầu các gói cứu trợ tài chính từ IMF và các nước khác của khu vực châu
Âu. Cộng đồng châu Âu loại trừ Đức đã yêu cầu việc cắt giảm ngân sách của Hy
Lạp cho các năm 2010, 2011 và 2012 phải được thông qua trước khi đưa ra các gói
cứu trợ.
2.2 NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ
Tác nhân bên ngoài và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU đề cập là
tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Để cứu vãn nền kinh tế khỏi
cơn suy thoái, chính phủ Hy Lạp đã tung ra những gói hỗ trợ khổng lồ nhằm kích
thích kinh tế phát triển. Gói hỗ trợ này làm gia tăng chi ngân sách và nợ công một
cách đáng kể. Tuy nhiên thực trạng này diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới
không chỉ có ở Hy Lạp và EU. Do vậy ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu chỉ là tác nhân thêm vào những vấn đề sẵn có trong nội tại nền kinh tế Hy
Lạp.
Tiếp cận vấn đề nguyên nhân khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp có rất nhiều
luồng ý kiến và nhiều cách phân tích vấn đề khác nhau. Bài tiểu luận này, chúng tôi
phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp theo quan điểm của tổ
chức Nghiên cứu cho quốc hội Hoa Kỳ (CRS).
2.2.1 Các nhân tố trong nước
Chi tiêu chính phủ quá lớn trong khi nguồn thu hạn chế
Vào giai đoạn 2001-2007, GDP của Hy Lạp tăng ở mức trung bình 4.3%, so
với mức trung bình của khu vực châu Âu là 3.1%. Tốc độ phát triển kinh tế cao là
Nền công nghiệp của Hy Lạp đang trải qua sự sự giảm sút về cạnh tranh quốc
tế. Các nhà kinh tế cho rằng vấn đề tiền lương và năng suất lao động thấp cũng là
những tác nhân chính. Theo bảng bên dưới, chúng ta có thể thấy rằng mức độ cạnh
20
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
tranh của Hy Lạp rất thấp chỉ xếp thứ 109 về những quốc gia thuận lợi kinh doanh
năm 2009 bị bỏ xa so với các nước trong khu vực và đặc biệt là Ai Len.
Bảng 1: Mức độ cạnh tranh của một số nước châu Âu năm 2009
Country Ranking
Greece 109
Ireland 7
Italy 78
Potugal 48
Spain 62
Nguồn: WB (theo Anne Sibert, Birbeck, University of London and CEPR - The
Greek sovereign debt crisis and the Eurosystem)
Theo một nghiên cứu, mức độ chi tiền công của Hy Lạp đã tăng khoảng 5%
hàng năm từ khi nước này ra sử dụng đồng euro là đồng tiền quốc gia tăng gấp hai
lần tốc độ trung bình của khu vực. Cùng lúc, xuất khẩu từ Hy Lạp đến các bạn hàng
chính chỉ tăng 3.8% /năm, bằng một nửa tốc độ tăng nhập khẩu của các nước này từ
các bạn hàng khác. Hy Lạp muốn thúc đẩy khả năng cạnh tranh và giảm việc thâm
hụt cán cân vãng lai cần tăng năng suất lao động, cắt giảm mức lương, và tăng việc
tích lũy. Theo một số nghiên cứu, chính phủ Papandreou đã bắt đầu hạn chế mức tiền
lương ở khu vực công và hi vọng tăng xuất khẩu thông qua việc đầu tư ở các những
lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh. Trong quá khứ, ngành công nghiệp du lịch và vận tải
biển của nước này là những ngành thế mạnh.
2.2.2 Các nhân tố quốc tế
Tiếp cận các nguồn vốn có mức lãi suất thấp tăng lên
Việc sử dụng đồng euro làm đồng tiền quốc gia năm 2001 dường như là một
tác nhân góp phần tạo nên cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp. Khi hệ thống tiền tệ được
Lạp.
22
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
Ủy ban châu Âu đã bắt đầu những thẩm định về thâm hụt ngân sách đối với
Hy Lạp vào 2004 khi Hy Lạp báo cáo về tình hình thâm hụt ngân sách của nước này
vào năm 2003 là 3.2% GDP. Trong báo cáo của mình ủy ban đã chỉ ra rằng “chất
lượng của các số liệu công là không thỏa đáng”, không chỉ có phòng thống kê của
EU mà của Eurostat cũng không công nhận hay là có những yêu cầu sửa đổi số liệu
do cục thống kê quốc gia của Hy Lạp đưa ra từ năm 2000. Xem xét lại các báo cáo
thống kê từ 2004 đến 2007 cho thấy Hy Lạp đã vượt quá 3% giới hạn mỗi năm kể từ
2000, đạt mức cao nhất là 7.9% GDP năm 2004 . Ủy ban cũng thông báo rằng nợ
công của Hy Lạp trên mức 100% GDP từ khi Hy Lạp ra nhập các nước sử dụng
đồng euro, những con số này đã đẩy mức nợ công lên cao vọt. EU đóng thẩm định
về thâm hụt nợ vào năm 2007 với thông báo thỏa đáng rằng Hy Lạp thâm hụt ngân
sách là 2.6% GDP năm 2006 và 2.4% năm 2007.
Ủy ban kết luận rằng các nhà chức trách về thống kê của Hy Lạp đã nâng cao
thủ tục của mình dẫn đến việc chất lượng của số liệu cao hơn. Hội đồng cũng mở ra
cuộc thẩm tra về thâm hụt quá mức năm 2009 khi thâm hụt năm 2007 của Hy Lạp
được báo cáo là 3.5% GDP và tiến trình này vẫn tiếp tục cho đến nay. Như vậy vấn
đề từ bên ngoài là liên minh tiền tệ nhưng không liên minh tài chính.
2.2.3 Các nhân tố khác
Tác động của khủng hoảng tài chính 2008
Khi khủng hoảng tài chính 2008 diễn ra, các nhà lãnh đạo EU đã tung ra
những gói hỗ trợ khổng lồ nhằm kích thích phát triển kinh tế để vượt qua cơn khủng
hoảng. Chính những gói tài trợ này đã góp phần quan trọng làm cho tăng chi ngân
sách và nợ công đáng kể.
Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính
Đồng tiền chung hệ thống ngân hàng trung ương châu Âu bao gồm Ngân
hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 16 ngân hàng trung ương của các quốc gia
thành viên. ECB điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát.
24
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
thiên đường của hưởng thụ hơn là nơi hấp dẫn nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh. Lợi thế
trong thu hút nguồn vốn nước ngoài của EU cũng bị tác động.
Là một thành viên của EU, trong các hoạt động kinh tế đối ngoại với các quốc
gia ngoài EU, Hy Lạp cũng gặp những khó khăn tương tự. Không chỉ bị tác động bởi
các yếu tố bên ngoài, Hy Lạp còn bị thất thế trong các giao dịch nội khối. Là một
quốc gia nhỏ, nghèo tài nguyên, năng lực cạnh tranh của Hy Lạp giảm. Mặc dù Hy
Lạp thiết lập một tỷ lệ thu thuế và chi phúc lợi và an sinh xã hội ở mức trung bình
của khu vực đồng tiền chung, nhưng nó cũng làm tăng mức thâm hụt ngân sách, tạo
áp lực gia tăng nợ công.
Như vậy, qua sự phân tích về cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp có thể
thấy đây là cuộc khủng hoảng tiêu biểu cho sự chi tiêu không hợp lý của chính phủ,
gây ra nhiều hệ lụy về sự suy giảm cho nền kinh tế, sự bất ổn cho nền chính trị, hệ
thống y tế, giáo dục, an sinh xã hội bị suy giảm, tỷ lệ thất nghiệp cao và làm cho tổng
quan nền kinh tế Hy Lạp rơi vào suy thoái.
2.3 TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG HY LẠP
2.3.1 Đối với chính Hy Lạp
Tác động đầu tiên của khủng hoảng nợ công là làm xếp hạng tín dụng của Hy
Lạp bị hạ xuống rất thấp. Ngày 15/06/2010, Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody’s đã
hạ 4 bậc xếp hạng tín dụng của Hy Lạp xuống mức không đầu tư và cảnh báo, việc
Hy Lạp thâm hụt ngân sách sẽ tạo ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế. Dù được EU và
IFM hứa hẹn “bơm” tiền nhưng 14/07/2011, hãng xếp hạng Fitch đã hạ 3 bậc đối với
mức tín dụng của Hy Lạp từ B+ xuống CCC, thấp nhất trong thang xếp hạng của
Fitch. Ngày 28/07/2011, Standard&Poor (S&P) nhận định rằng Hy Lạp sẽ phá sản
một lần sau khi các quan chức châu Âu thúc đẩy kế hoạch tái cơ cấu nợ xuống gói
cứu trợ 2. Chính vì vậy S&P đã hạ tiếp xếp hạng tín dụng của Hy Lạp từ CCC xuống
CC chỉ trên mức vỡ nợ 2 bậc với đánh giá triển vọng tiêu cực.
Tác động thứ hai đến tình hình tài chính tiền tệ của Hy Lạp chính là làm giá
trái phiếu giảm và lãi suất tăng. Lãi suất trái phiếu tăng cao vì chính phủ phải nâng