TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
Môn học: Tài chính quốc tế
Đề tài: “Phân tích tình hình kinh tế thế giới hậu khủng
hoảng”
Giáo viên: TS. MAI THU HIỀN
Lớp TCNH – 19A
Nhóm thực hiện: - Nguyễn Như Trinh
- Đậu Huy Ngọc
- Ngô Hoài Nam
- Đào Thị Thu Thủy
- Trần Thị Thu Nga
1
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I. NHỮNG HỆ LỤY VÀ CHUYỂN ĐỔI TRẬT TỰ TOÀN CẦU
CHƯƠNG II. VỊ THẾ MỚI CỦA CÁC NỀN KINH TẾ LỚN TRÊN THẾ GIỚI
CHƯƠNG III. KẾT LUẬN VÀ THÔNG ĐIỆP ĐỐI VỚI VIỆT NAM
2
LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới đã trải qua một cơn chấn động mạnh với cuộc suy thoái từ năm 2008 đã
suýt tạo ra một cuộc Đại khủng hoảng thứ hai trên quy mô toàn cầu. Đợt suy thoái
quy mô ớn này, bên cạnh việc để lại những hậu quả nghiêm trọng, đã tạo ra những
tranh luận nghiêm túc về kinh tế học hiện đại với những trận chiến giữa các luồng
tư tưởng. Cuộc khủng hoảng kinh tế lần này đã để lại những hệ lụy nặng nề cho
toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung và các nền kinh tế bị ảnh hưởng nói riêng.
Trong phạm vi môn học, nhóm thực hiện tiểu luận cố gắng mô tả những tác động
lâu dài của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua để thấy được kết cấu mong
manh và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới. Tất cả các nước
tại mọi nền kinh tế đều phải đối mặt với những hậu quả này và phải chật vật tìm
kiếm những giải pháp và điều chỉnh những kế hoạch trung và dài hạn.
giúp các nước tăng trưởng trở lại.
Cuộc khủng hoảng rồi sẽ là quá khứ, thế giới cũng sẽ thay đổi. Sẽ có các quy định
mới, những điều chỉnh chính sách để thay đổi tình trạng thất bại và sự không hoàn
hảo của nền kinh tế thế giới vừa qua. Từ hậu quả của cuộc suy thoái, người ta rồi
sẽ thành công trong việc tạo ra một cấu trúc mới hiệu quả hơn để thúc đẩy tăng
trưởng và ổn định.
CHƯƠNG I. NHỮNG HỆ LỤY VÀ CHUYỂN ĐỔI TRẬT TỰ TOÀN CẦU
1.1. Những hệ lụy của cuộc khủng hoảng
Điểm nổi bật của nền kinh tế thế giới trong thập kỷ vừa qua là cuộc khủng hoảng
nặng nề diễn ra sau sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế toàn cầu lên đến đỉnh cao
vào năm 2007. Sự “rơi tự do” của nền kinh tế Mỹ vào năm 2008 – 2009 đã kéo
theo hàng loạt hệ lụy trong đó có khủng hoảng nợ ở châu Âu. Kinh tế thế giới phát
triển mạnh nhưng không vững chắc trước năm 2007 chủ yếu bắt nguồn từ chính
sách vĩ mô nới lỏng thái quá của chính phủ Mỹ sau cuộc khủng hoảng công ty
internet, thường được gọi là “dot.com” vào năm 2000. Sự mất cân đối vĩ mô toàn
cầu đã tạo điều kiện cho các dòng tài chính dịch chuyển với khối lượng chưa từng
thấy trong lịch sử, vượt qua tầm hiểu biết và kiểm soát của giới chính sách, châm
ngòi cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, sau đó lan ra các nước phát triển và kéo
theo sự suy giảm về kinh tế trên toàn thế giới.
Vấn đề của nền KTTG ngày nay mang tính cơ cấu hơn là những biểu hiện mang
tính chu kỳ. Việc đầu tư quá nhiều gây ra dư thừa về năng lực sản xuất thường kéo
theo kết quả là suy thoái. Nhưng đó là sự giảm sút tạm thời về sản lượng như một
phản ứng của việc tái định giá hoặc khấu hao sản lượng dư thừa. Thường là sau khi
những sai lầm này được chỉnh sửa, nền kinh tế sẽ tăng trưởng bình thường và thời
4
gian của các đợt suy thoái này thường là một năm. Khác với chu kỳ kinh tế, các
vấn đề cơ cấu thường diễn ra trong một thời gian dài trong cả thời kỳ tăng trưởng
kinh tế nhanh cũng như tăng trưởng chậm. Ví dụ, tỷ lệ thất nghiệp cao ở khu vực
sử dụng đồng Euro (Eurozone) hay thâm hụt cán cân thanh toán của Mỹ và việc
không tạo thêm việc làm trong nhiều năm ở Nhật Bản.
Hình 1.1. Tăng trưởng GDP thế giới và một số nền kinh tế chủ chốt,
giai đoạn 2004-2012 (%)
Nguồn: worldbank.org
Thất nghiệp tràn lan
Sự trì trệ trở lại của nền kinh tế toàn cầu đã bắt đầu tác động nghiêm trọng đến thị
trường lao động. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO 2011), vừa qua chỉ có 50%
số việc làm cần thiết được tạo ra. Thị trường lao động tại các nước phát triển chỉ có
thể trở lại mức trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu sau ít nhất 5 năm nữa. Điều đó
chỉ có thể xảy ra nếu nền kinh tế toàn cầu tạo ra khoảng 80 triệu việc làm trong hai
năm tới.
Việc chính phủ nhiều quốc gia phải thực hiện các chính sách thắt chặt ngân sách
với mục tiêu đối phó với khủng hoảng tài chính hiện hữu trong năm 2011 đã dẫn
tới khủng hoảng việc làm với hơn 200 triệu người là nạn nhân. Theo cơ quan thống
kê của EU (Eurostat 2012), tỷ lệ thất nghiệp tại Eurozone đã lên tới mức kỷ lục
trên 10,2 % trong quý IV của năm 2011. Tỷ lệ thất nghiệp được điều chỉnh theo
mùa của 27 nước EU đạt mức 10% vào 3 tháng cuối năm 2011 và lên mức 10,2 %
trong 2 tháng đầu năm 2012, tương đương với hơn 27,7 triệu người không có việc
làm ở 27 nước EU và gần 17,4 triệu người tại 17 nước sử dụng đồng Euro.
Bảng 1.1. Tỷ lệ thất nghiệp tại một số quốc gia và khu vực 2008 – 2012 (%)
2008 2009 2010 2011 2012
Các nền kinh tế phát triển
5,8 8,0 8,3 7,9 7,9
Mỹ 5,8 9,3 9,6 9,1 9,0
Khu vực Euro 7,7 9,6 10,1 9,9 9,9
Nhật Bản 4,0 5,1 5,1 4,9 4,8
Anh 5,6 7,5 7,9 7,8 7,8
Canada 6,2 8,3 8,0 7,6 7,7
Hàn Quốc 3,2 3,7 3,7 3,3 3,3
Nguồn: IMF, 2012
Thất nghiệp sẽ làm trì trệ hơn nữa tiến trình phục hồi kinh tế sau khủng hoảng kinh
Quốc gia % GDP Quốc gia % GDP
Mỹ 93,2 Hy Lạp 142,8
Eurozone 85,1 Bồ Đào Nha 93,0
Trung Quốc 17,1 Singapore 97,2
Nhật Bản 220,3 Iceland 96,2
7
Đức 83,2 Italia 119
Pháp 81,7 Canada 84
Anh 80 Bỉ 96,8
Nguồn: CIA Factbook 2011
Hiện tại, Mỹ - con nợ lớn nhất thế giới với tổng số nợ đã tăng lên trên 500 tr USD
mỗi năm kể từ năm tài chính 2003, với mức tăng 1000 tỷ USD năm 2008, lên 1,9
nghìn tỷ trong năm 2009, và 1,7 nghìn tỷ USD trong năm 2010. Tổng số nợ công
cộng đã đạt mức 100% GDP và món nợ này là một trong những lý do được đưa ra
bởi Standard & Poor’s hạ cấp triển vọng tín dụng Hoa Kỳ xuống mức AA+ từ mức
AAA vào ngày 06/8/2011, lần đầu tiên trong lịch sử của quốc gia này.
Năm 2011, cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu diễn biến hết sức phức tạp. Sau
khi từ Hy Lạp lan sang Ireland và Bồ Đào Nha, “bệnh nợ công” đã tấn công những
nền kinh tế chủ chốt của Khu vực đồng euro là Pháp, Italia và Tây Ban Nha. Sự trợ
giúp của IMF chưa đủ để dập tắt nguy cơ khủng hoảng nợ công biến thành khủng
hoảng xã hội và thể chế trong khu vực.
1.2. Chuyển đổi trật tự toàn cầu
Các nền kinh tế mới nổi tiếp tục tăng trưởng và các nước phát triển bị đình đốn thì
con đường thoát khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay bằng hai tốc độ trái ngược đang
thúc đẩy quá trình tiếp cận giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển,
giúp cơ cấu lại luồng lưu thông thương mại và tài chính thế giới và đặc biệt là đang
đặt ra một trật tự thế giới mới.
Trong khi các nền kinh tế mới nổi tiếp tục tăng trưởng nhờ biết đối phó với khủng
hoảng và gần như lấy lại được tốc độ tăng trưởng có được trước khi diễn ra vụ
ngân hàng Mỹ Lehman Brothers bị đổ bể, thì các quốc gia phát triển bị chìm ngập
nhân đã tăng lên 9% tại thị trường Nhật Bản, thị trường cổ phiếu thu hẹp chỉ còn
12%, tín dụng ngân hàng tăng lên 44%, nợ chính phủ tiếp tục duy trì ở mức cao.
Quy mô thị trường vốn quốc tế đã tăng liên tục từ năm 2002. Cho vay và cấp tín
dụng là hoạt động chủ yếu, tiếp theo là giao dịch trái phiếu. Đầu tư trực tiếp chỉ
chiếm 20% năm 2007 nhưng đứng khá vững trong năm 2008 – khi khủng hoảng
kinh tế xảy ra. Trong khi đó, sự giảm sút đột ngột của dòng vốn cho vay và cấp tín
dụng năm 2008 là nguyên nhân cơ bản dẫn đến giảm sút thị trường vốn toàn cầu.
Thị trường bất động sản đạt mức cao nhất trong năm 2007 với tổng giá trị thị
trường lên tới 90 nghìn tỷ USD, tuy nhiên thị trường này đã giảm xuống 87,4
nghìn tỷ vào năm 2008. Sự tăng trưởng liên tục của thị trường bất động sản từ
1990 cho đến 2007 chính là nguyên nhân tạo nên các bong bóng bất động sản gây
ra các cuộc đổ vỡ tài chính nghiêm trọng.
9
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2009, hệ thống tài chính thế giới
được nhận định có sự cải biến tổng thể. Cơ chế kiểm soát rủi ro, an toàn về vốn, cơ
chế kinh doanh các sản phẩm tài chính phái sinh đã được nhìn nhận lại và đòi hỏi
những sự thay đổi cơ bản trong hoạt động của các định chế tài chính trên toàn thế
giới. Mặc dù các dấu hiệu phục hồi là khá rõ rệt, sự phục hồi của tài chính thế
giứoi hiện nay được đánh giá là chưa bền vững.
Rõ ràng nền kinh tế thế giới đang hoạt động vượt ra ngoài số lượng của cải thực
có. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thế giới đã tăng gần 8 lần trong vòng 30
năm, từ 10,1 nghìn tỷ USD vào năm 1980 lên 78,9 nghìn tỷ USD vào năm 2011.
Trong khi đó, quy mô tài sản tài chính của thế giới đã tăng gần 18 lần, từ 12 nghìn
tỷ USD vào năm 1980 lên 212 nghìn tỷ năm 2010 (McKinsey 2011). Mặc dù,
không thể so sánh một cách giản đơn về GDP toàn cầu với quy mô tài sản tài chính
toàn cầu, nhưng có thể thấy rằng trong 30 năm qua, quy mô của nền kinh tế thực
ngày càng nhỏ lại so với nền kinh tế “ảo”. Nói cách khác, hệ thống tài chính toàn
cầu đã vượt xa và đang tiếp tục tăng mạnh so với hệ thống vật chất của nền kinh tế
thực.
Vai trò động lực tăng trưởng của các nước đang phát triển
kinh tế bị khủng hoảng nặng nề của các nước phương Tây. Trung Quốc vẫn tiếp tục
là tâm điểm của kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng luôn được duy trì ở mức
cao trên 8%. Dự trữ ngoại hối của nước này lớn nhất thế giới với mức trên 3,2
nghìn tỷ USD và là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Và mặc dù đã có nhiều kêu gọi “tái
cân bằng” lại nền kinh tế toàn cầu nhưng đà xuất khẩu của Trung Quốc không suy
giảm mà chỉ chuyển hướng từ thị trường Mỹ và Châu Âu sang Mỹ Latinh và châu
Phi. “Công xưởng thế giới” vẫn tiếp tục sản xuất ra hàng hoá vật chất cho thế giới
nên gia tăng nhu cầu với tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu thô trên thế giới,
tạo ra áp lực khiến giá cả tăng cao.
Trong những năm qua, các nước công nghiệp hoá đã phải đối phó với hệ quả của
cuộc khủng hoảng như vấn đề nợ công lan rộng và thất nghiệp tăng cao. Tăng
trưởng kinh tế của các nước này sẽ không còn tạo đà cho các nền kinh tế đang phát
triển như trong thời kỳ bùng nổ trước khủng hoảng.
Trong lúc đó, những nền kinh tế mới nổi, từng được xem là rất dễ tổn thương, lại
có khả năng chống chọi bền bỉ. Các nền kinh tế mới nổi đã tăng cường đối phó
bằng chính sách tiền tệ và tài khoá đã ít nhiều có hiệu quả và trở thành động lực
cho nền kinh tế thế giới trong giai đoạn khủng hoảng. Nhưng những biện pháp
mang tính đối phó khẩn cấp này không thể kéo dài. Vì vậy, liệu các nước này có
chuyển tiếp sang một mô hình tăng trưởng cao khác nhưng bền vững không, trong
khi các nền kinh tế phát triển còn đang chật vật.
11
Tăng trưởng cao và ổn định tài chính ở các nền kinh tế đang phát triển giúp tạo
điều kiện cho việc điều chỉnh quy mô lớn ở các nước công nghiệp hoá. Đồng thời,
điều này có ý nghĩa dài hạn vì nếu các nền kinh tế đang phát triển duy trì mức tăng
trưởng như hiện nay thì nền kinh tế toàn cầu sẽ biến đổi với việc chưa đầy một
thập kỷ nữa, các nước đang phát triển sẽ đóng góp hơn 50% vào GDP toàn cầu.
Trong giai đoạn khủng hoảng, nhiều nước đang phát triển đã có đệm bảo vệ giảm
sốc với dự trữ ngoại tệ lớn, thạng dư ngân sách và cán cân thanh toán, và các ngân
hàng đã vốn hoá cao độ. Các nước này không bị cạn kiệt ngân sách hay thanh
khoản tài chính – vì thế cũng không mất đi khả năng phản ứng với những cú sốc
phải có những giải pháp ngắn hạn thỏa đáng, nhưng mặt khác những khó khăn này
là kết cục của những tương quan mất cân bằng kinh tế toàn cầu và vì vậy, chúng
chỉ có thể giải quyết khi các cân bằng kinh tế toàn cầu được thiết lập.
Với tình hình kinh tế ảm đạm từ năm 2008, những cảm nghĩ về một nước Mỹ suy
tàn và khủng hoảng đã lại xuất hiện khi nhìn vào những khoản thâm hụt tài khóa
lớn của Mỹ mà nếu kết hợp với mức tăng trưởng liên tục của Trung Quốc, Ấn Độ,
Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ và các nền kinh tế khác thì dường như báo trước một sự dịch
chuyển quan trọng và không thể đảo ngược của sức mạnh kinh tế toàn cầu.
Nhưng một đợt suy thoái hay thậm chí một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng,
không nhất thiết đồng nghĩa với việc khởi đầu của sự kết liễu một siêu cường. Như
đã biết, Mỹ đã chịu những cuộc khủng hoảng nặng nề và kéo dài trong những thập
niên 1890, 1930 và 1970. Mỗi lần như thế, nước Mỹ lại hồi phục trong thập niên
tiếp theo và thực sự lại đạt đến vị thế mạnh hơn so với các cường quốc khác, hơn
cả trước thời khủng hoảng. Những thập niên 1910, 1940 và 1980 đều là những cao
điểm của sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trên toàn cầu.
Tổn thương sau khủng hoảng
Khủng hoảng tài chính ở Mỹ bắt đầu là sự đổ vỡ của thị trường bất động sản và
chính từ sự đổ vỡ này đã gây ra những hệ lụy to lớn cho nền kinh tế Mỹ, mà trước
hết là khu vực tài chính, với sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng lớn, và sau đó là
các ngân hàng công nghiệp có liên quan đến khu vực nhà đất và toàn bộ nền kinh
tế Mỹ. Sự sụp đổ của thị trường Bất động sản làm cho nhiều người dân Mỹ rơi vào
cảnh nợ nần và họ phải chuyển sang xu thế tiết kiệm để thanh toán các khoản vay
nợ ngân hàng. Việc chuyển từ tiêu dung sang tiết kiệm đã làm thay đổi căn bản
tổng cầu của nền kinh tế và làm cho nhiều ngành công nghiệp gặp khó khăn, thu
hẹp và giãn nợ.
Hình 2.1. Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ theo quý, 2008 – 2012 (%)
13
Nguồn: Bureau of Economics Analysis
Gói kích thích kinh tế năm 2009 trên thực tế đã đem lại một số tác dụng tích cực
cho quá trình phục hồi của nền kinh tế Mỹ với tốc độ tăng GDP tương đối khả
nền kinh tế Mỹ, song nếu nợ công vượt ngưỡng 100% GDP và tồn tại trong thời
gian dài sẽ ảnh hưởng đến những mất cân đối lớn khác của nền kinh tế, trước hết là
khả năng trả nợ của Chính phủ và tiếp sau là các vấn đề về cân bằng tài khoản
vãng lai và các cân bằng khác. Trong điều kiện hiện nay của Mỹ, việc gia tăng nợ
công làm trầm trọng thêm vấn đề thâm hụt thương mại và cản trở lớn cho việc
phục hồi nền kinh tế.
Hình thái dân số lành mạnh
Vào ngày 14 tháng 8 năm 2012, những người làm ở Tổng cục Thống kê Mỹ đã ăn
mừng vì dân số Mỹ đã chạm mốc 314.159.265 người. Con số này tương đương với
số Pi. Đây là hiện tượng chỉ xảy ra một lần trong nhiều thế hệ. Con số này cũng
cho thấy Mỹ là quốc gia có dân số lớn thứ 3 thế giới và đông nhất trong số nền
kinh tế phát triển với hơn 82% dân số sống ở đô thị, so với mức 50,5 % của toàn
thế giới vào năm 2008.
Mức sinh cao và dân nhập cư không những làm dân số của Mỹ tăng lên mà còn
làm thay đổi biểu đồ dân số. Theo phân phối tuổi hiện tại ở Mỹ, số người lớn da
trắng đông hơn so với các nhóm người khác, và trong số những người da màu, trẻ
em nhiều hơn so với người lớn. Hiện nay, tại những khu vực có người nhập cư
đông nhất ở Mỹ, như các thành phố Los Angeles và Houston, một nửa số người
Mỹ Latinh là trẻ em dưới 14 tuổi. Như vậy, khi mà số trẻ em Mỹ Latinh này đến độ
tuổi sinh sản trong một hai thập kỷ tới thì số người Mỹ Latinh ở Mỹ sẽ tăng lên
nhanh chóng.
Trong tương lai Mỹ sẽ có một xã hội trẻ trung hơn với nhiều dân tộc hơn, và như
vậy sẽ năng động hơn. Một bằng chứng đơn giản nhất là tuổi trung vị ở Mỹ và
châu Âu đang ngày càng mở rộng và tuổi trung vị ở châu Âu có xu hướng tăng lên
nhanh hơn nhiều. Điều này cho thấy một thực tế về sự lão hóa dân số ở châu Âu và
sự ổn định ở Mỹ vì hiện tại, tuổi trung vị của Mỹ là 36,9 (US Census, 2010) và của
27 nước EU là 40,9 (Eurostats 2012).
Vai trò toàn cầu không thay đổi
Nhìn chung người ta cảm nhận rằng sự kết thúc của thế thống trị mà nước Mỹ đang
nắm giữ, nếu nó đến, không có nghĩa nước Mỹ mất đi vị thế hiện tại đối với quốc
một tương lai ảm đạm của châu Âu. Do không thể có sự tăng trưởng kinh tế đột
biến trong nhiều năm tới, hàng triệu người dân châu Âu đang phải đối mặt với một
thập kỷ suy giảm mức sống, giảm các phúc lợi và kéo dài tuổi thọ…
Kinh tế tăng trưởng chậm chạp
Các nước châu Âu hầu hết chỉ đạt tăng trưởng kinh tế thấp hoặc tăng trưởng âm.
Nền tài chính của nhiều nước đang bị suy yếu nghiêm trọng và sẽ phải mất nhiều
16
năm mới có thể phục hồi. Các ngân hàng gặp nguy hiểm trước khả năng khu vực
đồng tiền chung châu Âu bị tan vỡ. Hơn thế nữa, ngay cả nếu liên minh tiền tệ
sống sót được qua cơn khủng hoảng thì các quốc gia châu Âu vẫn phải đối mặt với
vấn đề chi phí quá cao nhưng thiuu bền vưng cho các dịch vụ công.
Tăng trưởng của kinh tế khu vực đồng tiền chung châu Âu không theo kịp Mỹ,
nước công bố tăng trưởng GDP quý III/2011 đạt 0.6%. Kinh tế Anh quý III/2011
tăng trưởng 0.5%. GDP của Đức có mức tăng trưởng dự báo cả năm là 0.5%. Pháp
công bố GDP quý 3/2011 tăng trưởng 0.4%. Hà Lan bất ngờ công bố GDP quý
III/2011 sụt giảm 0.3% trong khi trước đây kinh tế Hà Lan tăng trưởng thuộc loại
tốt nhất khu vực. Đây có thể coi như hậu quả trực tiếp từ các biện pháp thắt chặt
ngân sách cũng như tác động từ khủng hoảng nợ của Eurozone.
Liên minh châu Âu đã dự báo tăng trưởng năm 2011 từ 1.8% xuống còn 0.5%
trong năm 2012. Nền kinh tế khu vực này đang tăng trưởng chậm lại và có nguy cơ
rơi vào một cuộc suy thoái mới. Mặc dù đã có dấu hiệu tạm lắng nhưng vấn đề nợ
công cao đã tác động đến hoạt động sản xuất của các nhà máy, có thể tăng trưởng
chậm lại và có nguy cơ rơi vào một cuộc suy thoái mới. Mặc dù đã có dấu hiệu tạm
lắng nhưng vấn đề nợ công cao đã tác động đến hoạt động sản xuất của các nhà
máy, có thể tăng trưởng kinh tế sẽ đảo ngược.
Hình 2.2. Tăng trưởng GDP khu vực đồng Euro, 2008 – 2011
Nguồn: Eurostat
Cơn bão nợ công trở thành cuộc khủng hoảng của liên minh tiền tệ
Cuộc khủng hoảng tài chính của châu Âu đã biến thành một cuộc khủng hoảng tài
chính công ngăn cản mọi sự phục hồi kinh tế ở Eurozone. Vô số biện pháp được
năng kiếm được việc làm.
Trong suốt thập kỷ này, áp lực về ngân sách cho hệ thống y tế, hưu trí và giáo dục
sẽ ngày càng gia tăng. Một số nhóm xã hội nhất định sẽ dễ bị rơi vào vòng nghèo
khổ và bạo lực. Các quỹ hưu trí mất đi do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của các
thị trường tài chính, lợi ích của các lao động trẻ bị cắt giảm trong tương lai, kích
động một cuộc xung đột thế hệ với những người lớn tuổi hơn. Bất bình đẳng thu
nhập gia tăng, bởi vì người giàu thì càng giàu và người nghèo càng nghèo hơn, sự
bất bình đẳng trong công việc và thu nhập sẽ ảnh hưởng nhiều đến phụ nữ và thanh
thiếu niên. Các trường đại học và trường phổ thông của nhà nước sẽ có chất lượng
giáo dục thấp hơn.
Một vấn đề khác đang nổi lên su một thập kỷ nhưng không được chú ý là tỷ lệ sinh
giảm sút ở khu vực này. Trong số 15 nước có số liệu báo cáo cho tới năm 2012
(Eurostat 2012), 11 nước có tỷ lệ sinh giảm trong năm 2011 theo cách tính tỷ lệ
18
sinh là số trẻ em mà một người phụ nữ có thể có trong suốt cuộc đời mình. Ở
những nước bị tác động mạnh mẽ nhất bởi cuộc khủng hoảng đồng euro có tỷ lệ
suy giảm lớn nhất.
Tỷ lệ sinh của Tây Ban Nha giảm từ 1,46 vào năm 2008 xuống khoảng 1,38 vào
năm 2011. Tỷ lệ sinh của Latvia giảm từ 1,44 xuống dưới 1,20. Sự gia tăng sinh đẻ
trong 10 năm trước đã bị xóa sạch chỉ trong 3 năm. Sự giảm lớn cũng đã xảy ra ở
các nước Bắc Âu không có tình trạng thất nghiệp tăng nhanh hay những cắt giảm
mạnh chi tiêu của nhà nước. Tỷ lệ sinh của Na uy giảm từ 1,95 xuống 1,88 trong
những năm 2010 – 2011; của Đan Mạch giảm từ 1,88 xuống 1,76. Nhưng bất kể
các nước có tỷ lệ sinh cao như Anh hay thấp như Hungary, xu hướng là giống
nhau: sự gia tăng sinh sản trong 10 năm đã kết thúc vào khoảng năm 2008 khi cuộc
khủng hoảng kinh tế tác động lớn, và bắt đầu trượt dài vào năm 2011.
Cuộc suy thoái cũng đã tác động đến tỷ lệ kết hôn và tỷ lệ sinh của những công dân
bản địa. Nếu các cặp đôi trẻ chờ cho đến khi họ có một thu nhập đảm bảo trước khi
xây dựng gia đình và có con, sẽ có một sự liên hệ giữa việc lập gia đình và tình
trạng thất nghiệp (đặc biệt là thất nghiệp trong nam giới).
Bảng 2.3. So sánh Trung Quốc với một số quốc gia khác
Nền
kinh tế
Tỷ lệ trong GDP
toàn cầu ($ và tỷ giá
năm 2004)
Tỷ lệ phát triển thực
trung bình hàng năm (%)
Đóng góp trung bình cho
tăng trưởng toàn cầu
2004 2020 1995-2004 2005-2020
1995-2004 2005-2020
Trung Quốc 2,4 7,9 9,1 6,6 12,8 15,8
Ấn Độ 1,7 2,4 6,1 5,5 3,2 4,1
Mỹ 28,4 28,5 3,3 3,2 33,1 28,6
Nhật Bản 11,2 8,8 1,2 1,6 5,3 4,6
Đức 6,6 5,4 1,5 1,9 3,0 3,3
Brasil 1,5 1,5 2,4 3,6 1,5 1,7
Toàn cầu 100 100 3,0 3,2 100 100
Nguồn: Bảng 1.1. trong Winters A. and Shahid Yusuf (2007)
Với dân số lớn nhất thế giới, trên 1,3 tỷ người, Trung Quốc đã trở thành một nước
lớn và có ảnh hưởng trong nền kinh tế toàn cầu trong khi mức thu nhập trên đầu
người còn tương đối thấp. Hiện nay, Trung Quốc có sức ảnh hưởng ngày càng tăng
đến rất nhiều lĩnh vực như giá cả và tiêu thụ lương thực, năng lượng và các tài
nguyên thiên nhiên khác, khối lượng và kết cấu thương mại, các dòng vốn.
20
Khi Trung Quốc trở nên giàu có hơn thì những gì giúp họ tăng trưởng trong giai
đoạn trước sẽ trở nên bão hòa. Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng
cho thấy từ nay đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại,
không cao như giai đoạn trước đó. Sự tăng truwongr đó đã “đến ngưỡng”.
tế Trung Quốc có thể bị giảm sút nặng nề (World Bank 2012a).
Trung Quốc hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó
có sự chuyển đổi sâu sắc về mô hình, và tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại đáng kể.
Hàng loạt các vấn đề xã hội tạo ra sức ép trong quá trình phát triển tiếp theo của
Trung Quốc. Mỗi thách thức kinh tế - xã hội của một quốc gia đều đòi hỏi sự can
thiệp sáng tạo và phi ý thức hệ của nhà nước đối với thị trường. Trung Quốc có lịch
sử lâu dài trong việc nuôi dưỡng các lực lượng thị trường đồng thời vẫn đặt chúng
dưới sự kiểm soát, phục vụ xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc sẽ chấp
nhận “sự lựa chọn không có lựa chọn”, đó là kết hợp giữa “con rắn” của nền kinh
tế thị trường với “con nhím” của lịch sử truyền thống để tiếp tục phát triển một
cách ổn định, gắn kết xã hội.
CHƯƠNG III. KẾT LUẬN VÀ THÔNG ĐIỆP ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho nền kinh tế thế giới suy giảm
nghiêm trọng mà hậu quả rõ nét nhất là hàng chục triệu người mất việc làm. Tổ
chức Lao động quốc tế (ILO) ước tính số lượng thất nghiệp toàn cầu tăng hơn 50
triệu người vào cuối năm 2012, với khoảng 200 triệu người lao động lam vào đói
nghèo cùng cực (ILO, 2012). Điều đó đã làm người ta phải suy nghĩ lại về mô hình
kinh tế thị trường tự do đã phát triển rộng khắp mà hệ quả của nó là sự lạc quan
thái quá của các chính phủ và người dân làm người ta chi tiêu nhiều hơn những gì
được tạo ra và không tuân thủ kỷ luật thị trường. Những tranh luận về cuộc khủng
hoảng cũng làm cho người ta cho rằng thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng
hoảng về mô hình phát triển trong dài hạn.
Sau thời điểm khủng hoảng, người ta nhìn nhận hệ thống thế giới đang diễn ra một
sự điều chỉnh quyền lực toàn cầu. Các nước đang phát triển đã trở thành động lực
của tăng trưởng toàn cầu, rõ ràng nhất là từ những năm 1990. Nhưng bản thân các
nước này cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi cuộc khủng hoảng. Thế giới toàn cầu hóa
nay đã kết nối: Mỹ đã làm tổn hại các quốc gia khác nhưng bản thân việc phần còn
lại của thế giới thị tổn thương cũng đe dọa tới sự phục hồi của Mỹ.
Bức tranh kinh tế toàn cầu đó tạo ra sự nhận thức đang gia tăng trong chính các
nền kinh tế phát triển rằng sức mạnh kinh tế đang dịch chuyển sang phí Đông, khi
riêng sẽ giảm cả trên khối lượng thực lẫn khối lượng danh nghĩa.
Tính bất định, khó dự báo của các khuynh hướng toàn cầu đang đưa đến cho nền
kinh tế Việt Nam những rủi ro không nhỏ, trong lúc năng lực đối phó của đất nước
vẫn chưa đủ mạnh. Những biến động về giá cả lương thực và năng lượng trên thế
giới cùng với giá vàng và USD vừa qua là thí dụ điển hình cho thấy những rủi ro
lớn đối với nền kinh tế Việt Nam khi hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.
Biến động kinh tế thế giới cũng làm tăng sức ép cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp Việt Nam ngày một nhiều hơn trên cả thị trường trong nước và quốc tế. Ở
23
nước ngoài, Việt Nam phải đối mặt với các hàng rào kỹ thuật mới ngày càng tinh
vi hơn. Ở trong nước, nhiều sự hỗ trợ của chính phủ trước đây bị bãi bỏ. Đồng thời
việc gia tăng sự hiện diện của doanh nghiệp nước ngoài cũng làm cho không gian
phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam hẹp lại, đặc biệt nếu còn trong chờ vào
chính sách bảo hộ nhằm khai thác thị trường trong nước.
Áp lực cạnh tranh trong nước và quốc tế cho thấy Việt nam cần nỗ lực hơn nữa
trong việc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài song song với
việc điều chỉnh cơ cấu xuất khẩu và đầu tư theo hướng tăng cường khai thác các lợi
thế cạnh tranh một cách bền vững, chú trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao,
hàm lượng trí tuệ cao, thay cho các sản phẩm sơ chế và tài nguyên thiên nhiên. Để
làm được điều này, trước hết cần thay đổi cách nghĩ về lao động rẻ là lợi thế cạnh
tranh bởi đó đã không còn là nhân tố quyết định mà về lâu dài, lợi thế cạnh tranh sẽ
thuộc về các yếu tố công nghệ và tri thức.
Sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới với dấu mốc quan trọng là việc
gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, đã đem sự cạnh
tranh đến tận cửa ngõ đất nước. Cho đến nay, Việt Nam đã có những thay đổi bao
gồm hạ thấp các rào cản thuế quan và xóa bỏ nhiều hàng rào phi thuế quan, mở cửa
ngành dịch vụ và phân phối, cải cách pháp lý và thể chế cho phù hợp với các quy
định của WTO. Những thay đổi này giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường, mang lại kết quả tích cực cho quá trình tăng trưởng.
Tuy nhiên, cơ hội luôn đi cùng thách thức. Trước tiên, giảm thuế nhập khẩu từ mức
trưởng. Mặc dù có nhiều khó khăn trong ngắn hạn nhưng Việt nam vẫn có đầy đủ
những nhân tố tạo ra sức mạnh nội lực, tính dẻo dai, khả năng thích ứng giúp giảm
thiểu tính dễ bị tổn thương của nền kinh tế trước những biến động hay cú sốc từ
bên ngoài. Những bước hội nhập vừa qua đã tạo lập nền tảng để Việt Nam tiếp tục
đẩy mạnh hội nhập sâu rộng hơn trong những thập kỷ tiếp theo, theo cách thức đa
phương, đa tuyến, đa tầng, kết hợp hội nhập song phương, tiểu vùng, khu vực và
toàn cầu cũng như trong các lĩnh vực của nền kinh tế.
Bối cảnh chiến lược quốc tế và khu vực đang đặt Việt Nam trước những thách thức
không nhỏ. Cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn đòi hỏi Việt nam phải
có những đối sách hết sức quan trọng, mềm dẻo và khôn khéo để duy trì mối quan
hệ cân bằng, tạo thế đan xen lợi ích, tránh bị rơi vào thế đối đầu, hay lệ thuộc. Do
Việt nam đứng ở một vị trí địa – chiến lược quan trọng nên việc lựa chọn chiến
lược đối tác sẽ là rất khó khăn, một mặt không thể trung tính và cần có thái độ rõ
ràng, mặt khác cũng không thể “nhất biên đảo”. Việc tìm ra cách tiếp cận hợp lý,
chia sẻ lợi ích và tranh thủ mọi cơ hội hợp tác để thúc đẩy hoạt động thương mại –
đầu tư, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo dựng hình ảnh thân thiện luôn đặt ra
trong nỗ lực duy trì mối quan hệ cân bằng với các nước lớn. Chính vì vậy, Việt
Nam cần tìm kiếm và tạo dựng một không gian phát triển để cải thiện đáng kể vị
thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Trên cơ sở
25