Cơ chế hợp tác an ninh
NHÓM 13
Chủ đề:
Mô hình quan hệ đối tác chiến lược giữa nước lớn với nước lớn
và nước lớn với nước nhỏ ( lấy cụ thể 2 mô hình quan hệ đối tác
chiến lược Trung Quốc- Mỹ và Việt Nam- Trung Quốc)
Mục lục
I, Lý thuyết Error! Bookmark not defined.
1, Khái niệm về quan hệ đối tác chiến lược Error! Bookmark not defined.
2, Các mô hình quan hệ đối tác chiến lược Error! Bookmark not defined.
3, Lý do hình thành mô hình đối tác chiến lược Error! Bookmark not defined.
II. So sánh mô hình quan hệ đối tác chiến lược giữa nước lớn- lớn( Trung- Mỹ) và
nước lớn với nước nhỏ( Trung- Việt) Error! Bookmark not defined.
1. Điểm giống nhau Error! Bookmark not defined.
1.1. Tính thiết thực: Error! Bookmark not defined.
1.2. Tính ổn định lâu dài: Error! Bookmark not defined.
quan hệ đối tác chiến lược giữa nước lớn với nước lớn và nước lớn với nước nhỏ. Do thời
gian có hạn cũng một phần do kiến thức còn hạn hẹp. Chúng tôi hy vọng với việc nghiên
cứu 2 mô hình trên sẽ làm rõ một số khía cạnh về mô hình đối tác chiến lược như: khái
niệm, mục đích, các mô hình đối tác chiến lược. Đặc biệt nhấn mạnh vào những điểm
chung và những điểm khác biệt cơ bản giữa 2 loại hình quan hệ đối tác chiến lược nước
lớn- nước lớn và nước lớn- nước nhỏ. I, Lý thuyết
Nếu như trước chiến tranh lạnh các nước chủ yếu hợp tác với nhau dựa trên mô hình
những liên minh, cộng động an ninh, tổ chức an ninh, qua đó đánh giá qua khả năng có
thể trợ giúp nhau về quân sự để răn đe hoặc trừng phạt một liên minh đối lập, tăng cường
sức mạnh quân sự bằng biện pháp hợp lực thì sau chiến tranh lạnh các nước hợp tác lại
với nhau trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thông qua việc xây
dựng các hình thức hợp tác thích hợp và đều bị ràng buộc bởi những hình thức hợp tác đó.
Các hình thức hợp tác mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu, khiến cho việc hợp tác trở
nên chặt chẽ.
1, Khái niệm về quan hệ đối tác chiến lược
Về lý thuyết, các mối quan hệ đối tác chiến lược đều là dạng quan hệ hợp tác với mức độ
phát triển cao hơn hợp tác thông thường và mở rộng hoặc đi sâu thêm trên nhiều lĩnh vực
khác nhau.
Có thể định nghĩa mối quan hệ đối tác chiến lược như sau : Đối tác chiến lược chỉ mối
quan hệ hợp tác quan trọng vừa có tính hướng vào những mục tiêu cụ thể vừa có hàm ý
về mong muốn quan hệ lâu dài
Nếu coi hợp tác là một quá trình thì việc các nước hợp tác với nhau sẽ đem lại những lợi
ích hữu hình như kinh tế, thương mại, an ninh…Tuy nhiên, ở mức độ vô hình, hợp tác sẽ
1. Điểm giống nhau
1.1. Tính thiết thực:
Thực tế cho thấy, tính thiết thực ở chỗ khi xác lập quan hệ hai nước là quan hệ đối tác
hay đối tác chiến lược của nhau, các nước đều xác định sẽ đi vào hợp tác trong những
việc cụ thể và trên một hoặc nhiều lĩnh vực nhằm thực hiện những mục tiêu riêng của
từng nước và từng kiểu cặp quan hệ. Đầu tiên các nước có thể sẽ phát triển quan hệ theo
chiều rộng mà trước hết là trên cơ sở “xây dựng lòng tin” và dần dần từng bước đi vào
phát triển theo chiều sâu nâng tầm quan hệ thành đối tác chiến lược.Trong quá trình hợp
tác, các nước đều thực hiện những lợi ích chiến lược riêng phục vụ những lợi ích của
từng quốc gia trên cơ sở đàm phán hòa bình, hợp tác hữu nghị chia sẻ với những lợi ích
chung của cả hai quốc gia. Kể cả với mô hình đối tác chiến lược hai nước lớn hay giữa
một nước lớn với một nước nhỏ, hai nước đều xây dựng mối quan hệ với nhau một mặt
đem lại lợi ích cho cả đôi bên( mục tiêu chung) như tăng vị thế và ảnh hưởng, mặt khác
mỗi nước đều những lợi ích chiến lược riêng như mục tiêu phát triển.
Tính thiết thực trong quan hệ hợp tác thể hiện rõ nhất trong nhu cầu hợp tác về kinh tế
giữa các nước. Thay vì xu thế đối đầu, hợp tác là cầu nối tạo ra bầu không khí đối thoại
giữa các nước trên các lĩnh vực chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng,…Dù là mô hình
quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước lớn với nhau; nước lớn- nước nhỏ hay nước
nhỏ- nước nhỏ đều cho thấy hợp tác về kinh tế là sự cần thiết, đem lại lợi ích cho nhau,
ràng buộc và kiềm chế lẫn nhau trong những vấn đề quốc tế và khu vực. Thêm vào đó,
với mô hình quan hệ đối tác giữa một nước lớn và một nước nhỏ, yếu tố lợi ích kinh tế là
rất quan trọng với sự phát triển của nước nhỏ và nước lớn đã lợi dụng con bài kinh tế để
tìm cách mở rộng tầm ảnh hưởng của mình.
Sự phân tích hai là cặp quan hệ Mỹ –Trung và Việt- Trung sau đây sẽ cho minh chứng
rõ nhận định này.
1.1. Tính ổn định lâu dài:
Các bên tiến hành những dự án hợp tác cụ thể nhưng đều có ý định duy trì quan hệ lâu
dài và phát triển quan hệ đi vào chiều sâu vì khi hợp tác với nhau, bên cạnh những lợi ích
hữu hình về kinh tế, thương mại, an ninh còn có những lợi ích vô hình chẳng hạn như hợp
Mỹ hùng cường, đảm bảo vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ và ngăn không cho bất kỳ một
quốc gia, thế lực nào nổi lên đe dọa vai trò bá chủ cả Mỹ. Tuy nhiên, bản thân Mỹ cũng
nhận thấy thế và lực trong cán cân lực lượng toàn cầu không còn được như trước nữa.
Thêm vào đó, xu thế toàn cầu hóa đã làm gia tăng phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia
và tính chất dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, Mỹ ngay lập tức đã chủ trương áp
dụng phương thức “tiếp cận mềm” tìm kiếm sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với đồng
minh và các nước lớn khác trong việc duy trì an ninh thế giới và bảo đảm sự phát triển
ổn định của nền kinh tế toàn cầu, trong đó Mỹ đóng vai trò đầu tàu lãnh đạo.
Trong quan hệ với Trung Quốc, một sự kiện có tác động thúc đẩy sự hợp tác chiến lược
giữa hai nước lớn là sự kiện làm trấn động nước Mỹ và toàn thế giới 11/9. Sau đợt bị tấn
công khủng bố nghiêm trọng làm thiệt hại lớn về người và của này, nó cho thấy Mỹ rất
cần sự hợp tác của các nước trong cuộc chiến chống khủng bố .Vì vậy, Mỹ đang điều
chỉnh chiền lược theo hướng mềm dẻo hơn, chú trọng hơn đến thái độ và lợi ích của nước
khác, đặc biệt là trong quan hệ với các đối tác lớn Nga và Trung Quốc.Với Trung Quốc,
Ngày 19-10 , chủ tịch Giang Trạch Dân hội đàm với tổng thống Bush , trao đổi ý kiến về
những vấn đề quan trọng như quan hệ Trung- Mỹ và chống khủng bố v v đi đến nhận
thức chung quan trọng . Hai bên nhất trí đồng ý cùng nhau ra sức phát triển quan hệ hợp
tác mang tính chiến lược . Bush tuyên bố Trung Quốc là đối tác chứ không dùng “đối thủ
chiến lược”, tỏ thái độ sẵn sang trao đổi thông tin về tiến trình thực hiện chương trình
phòng thủ tên lửa quốc gia.
Theo đánh giá của Mỹ, Trung Quốc là một cường quốc đang ngày càng có tiếng nói
chính trị và kinh tế quan trọng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một đối thủ sẽ là
người cạnh tranh nguy hiểm đối với vai trò bá chủ thế giới của Mỹ. Mục tiêu chính trong
chính sách của Mỹ đối với quốc gia này là kiềm chế, nhằm ngăn chặn sự nổi lên của
Trung Quốc trở thành mối đe dọa đến vai trò lãnh đạo của Mỹ.Tuy nhiên, biện pháp
ngoại giao của Mỹ với Trung Quốc có sự thay đổi từ thời B.Clinton đến thời tổng thống
Bush và nay là nhà lãnh đạo mới Obama. Chính quyền B.Clinton chủ trương kiềm chế
Trung Quốc thông qua phương thức tiếp cận mềm dùng đối thoại, tiếp cận toàn diện với
Trung Quốc, thúc đẩy hợp tác kinh tế, lôi kéo quốc gia này vào các công việc quốc tế và
định chế toàn cầu do Mỹ lãnh đạo, đồng thời thúc đẩy dân chủ nhân quyền thực hiện ý đồ
vị trí vai trò rất quan trọng trong các vấn đề quốc tế. Duy trì quan hệ ổn định với Mỹ giúp
Trung Quốc một mặt thực hiện được mục tiêu phát triển đất nước, mặt khác giúp trung
Quốc có vị thế cao hơn trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ với các nước phương
Tây nói riêng. Điều đó giải thích tại sao từ 1989 đến nay Trung Quốc luôn tỏ ra mềm
mỏng và có nhiều nhượng bộ với Mỹ về những vấn đề cụ thể như dân chủ, nhân quyền,
bán vũ khí cho Iran nhằm đạt được mục tiêu lớn là cải thiện quan hệ với Mỹ, hy sinh
"tiểu cục" để đạt được "đại cục"
Hiện nay Trung Quốc thực hiện “chiến lược ngoại giao nước lớn” với nội dung là duy trì
quan hệ hợp tác giữa các nước lớn trên thế giới , lợi dụng các quan hệ này để tạo ra điều
kiện bên ngoài có lợi cho sự phát triển kinh tế Trung Quốc ,đồng thời tiếp tục tham gia
vào các thể chế quốc tế để thay đổi luật chơi của các tổ chức này hiện do Mỹ và các nước
phương tây chi phối .
Trong chính sách đối thoại của mình Trung Quốc coi quan hệ ổn định với Mỹ có ý nghĩa
chiến lược quan trọng. Cũng cần thấy rằng, sau sự sụp đổ của Liên Xô, Mỹ là siêu cường
duy nhất trên thế giới, Trung Quốc quan hệ ổn định với Mỹ mang đến cho Trung Quốc
cơ hội để vươn lên trở thành 1 cường quốc toàn diện có tầm vóc toàn cầu. Xét về mối
quan hệ đối ngoại, về mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước phương Tây luôn chịu
sự chi phối của quan hệ Trung –Mỹ. Quan hệ tốt đẹp với Mỹ sẽ là bước căn bản loại bỏ
“vành đai đen”bao vây Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn, thúc đẩy quan hệ Trung
Quốc với các nước lớn khác, nâng cao vị thế tại khu vực. Ngoài ra quan hệ Trung –Mỹ
còn được dùng như biện pháp nhằn cân bằng quan hệ trong tam giác Mỹ-Trung-Nhật.
Trung Quốc coi phát triển quan hệ với Mỹ là một phương cách nhằm nâng cao vị thế của
Trung Quốc trong quan hệ tam giác này .Về chính trị nội bộ duy trí mối quan hệ tốt đẹp
với Mỹ còn có thể tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc duy trì sự ổn định của đất
nước. Về kinh tế Mỹ là 1 nước có tiếng nói quan trọng trong các tổ chức tài chính và
thương mại quốc tế như IMS, WTO, WB… có tác dụng trực tiếp hoặc dán tiếp tới sự
phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Nói tóm lại, Trung Quốc và Mỹ có những lợi ích song trùng, nhưng về mặt chiến
lược, lợi ích của hai bên lại không phù hợp với nhau. Mục tiêu của Mỹ là duy trì địa vị
lãnh đạo thế giới, không để cho các nước cạnh tranh vai trò này của Mỹ. Trong khi đó,
mạnh, dễ đe dọa an ninh những cũng không muốn Việt Nam quá yếu, dễ bị nhân tố bên
ngoài lợi dung gây bất ổn an ninh phương Nam của Trung Quốc. Chủ trương xây dựng và
phát triển quan hệ hữu nghi với Việt Nam nhằm đảm bảo an ninh cho mình trước các mối
đe dọa khác.
Quan hệ hợp tác ổn định với Việt Nam nằm trong chiến lược ngoại giao dầu lửa cùng với
sự phát triển kinh tế cao với tốc độ trung bình hàng năm 8- 10% hiện nay, nhu cầu nhập
khẩu dầu lửa của Trung Quốc ngày càng gia tăng. Việt Nam nằm trên tuyến đường giao
thông huyết mạch giữa Châu Á- Thái Bình Dương và Ấn độ Dương- nơi có nhiều tuyến
đường ống dầu chạy qua. Ổn định quan hệ với Việt Nam cũng là phương cách Trung
Quốc đảm bảo an ninh dầu lửa của mình. Việc giải quyết vấn đề Biển Đông hay “tam gác
tranh chấp cùng khai thác” ở nơi được xem là có trữ lượng dầu mỏ lớn là một trong
những mục tiêu hướng tới trong quá trình xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác Trung
Quốc- Việt Nam.
Vị thế của ta trong khu vực ngày nâng cao. Là nước lớn trong khối ASEAN, vai trò và
tiếng nói ngày được củng cố, quan hệ hợp tác ổn định và toàn diện với ta tạo điều kiện
thuận lợi cho Trung Quốc thực hiện chính sách khu vực của Trung Quốc.
Quan hệ đối tác với Việt Nam là biện pháp nhằm phá thế bao vây” của Mỹ và các nước
phương Tây. Thuyết về “mối đe dọa Trung Quốc” đặt các nướcc đặc biệt Mỹ trước tính
toán “ một trong những biện pháp mới để tác động đến hành xử của Trung Quốc là ủng
hộ sự phát triển năng động và dân chủ của các quốc gia xung quanh Trung Quốc, sự phát
triển kinh tế của Việt Nam cũng sẽ phục vụ cho lợi ích của Mỹ liên quan tới Trung Quốc.
Với sự lớn mạnh về mọi mặt, Việt Nam đang ngày một trở thành yêu tố quan trọng trong
chính sách khu vực của M. Việt Nam giữ khoảng cách với Trung Quốc là mục tiêu mà
Mỹ mong muốn nhằm kiềm chế Trung Quốc. Giữ quan hệ tốt với ta là một nhân tố quan
trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc.
Quan hệ hữu nghị, hơp tác với Việt Nam giúp Trung Quốc tạo dựng một hình ảnh tốt đẹp
trong khu vực. Đối với các nước trong khu vực, cùng với những tuyên bố về trỗi dậy hòa
bình, xây dựng mối quan hệ đối tác với ta giúp Trung Quốc giảm bớt những hoài nghi
của các nước láng giềng xung quanh về chính sách bá quyền của Trung Quốc, cũng như
gây lại lòng tin và tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.
phát triển quan hệ với Trung Quốc là biện pháp nhằm nâng cao vị thế và uy tín của Việt
Nam trong khu vực và trên trường quốc tế. Trung Quốc giữ vai trò là một “chỗ dựa tâm lí”
về cân bằng sức mạnh cho Việt Nam trong hội nhập khu vực và quốc tế.
Cũng nhận thấy rằng, cả hai nước cùng chung định hướng phát triển XHCN, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng Sản đều đang thực hiện đổi mới, cải cách mở cửa. Trung Quốc là
1
Theo số liệu trên báo Duy thực.
nước đi trước vào 1978, Việt Nam cải cách 1986. Do đó, Trung Quốc là tấm gương để
Việt Nam học hỏi kinh nghiệm, thực hiện mục tiêu phát triển của mình.
2.2. Đặc điểm mô hình quan hệ
2.2.1. Mô hình quan hệ Trung- Mỹ: vừa phối hợp và cạnh tranh trong
cùng tồn tại .
Nói về mối quan hệ đối tác chiến lược giữa TQ- Mỹ. Trong CTL, về thực chất giữa
Trung Quốc và Mỹ đã từng có mối quan hệ đồng minh chiến lược. Nhưng sau khi Liên
Xô sụp đổ (1991), đối thủ chủ yếu của mối quan hệ đồng minh chiến lược đó không còn,
quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ trải qua nhiều thăng trầm, hợp tác và xung đột trong
cùng tồn tại hòa bình. Giữa hai nước vừa có đấu tranh gay gắt lại vừa duy trì được sự
phối hợp chặt chẽ trên một số mặt, vừa có xung đột về lợi ích chiến lược lại vừa có hợp
tác trên cơ sở lợi ích chung.
Nếu như trong thời kỳ CTL, quan hệ hợp tác chiến lược Mỹ - Trung chủ yếu gói gọn
trong lĩnh vực an ninh, thì sau CTL, mối quan hệ đó được mở rộng, phức tạp và đa dạng
hơn, phát triển thành hệ thống lớn, tương đối ổn định với nội dung bao hàm nhiều nhân tố
như chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự Tính chất quan hệ cũng đa dạng hơn: hợp tác,
phối hợp, cạnh tranh, cảnh giác, đối kháng, thậm chí xung đột lẫn nhau. Nói một cách cụ
thể, tính chất của quan hệ hợp tác chiến lược Mỹ - Trung đã chuyển từ hợp tác là chính
sang vừa hợp tác vừa đối lập, mà mặt đối lập có phần được nhấn mạnh hơn. Những năm
đầu thập niên 90, trong cục diện quốc tế ở bước quá độ, Mỹ chưa coi Trung Quốc là đối
thủ cạnh tranh chủ yếu. Chỉ khoảng 4-5 năm trở lại đây, tính không rõ ràng trong quan hệ
chiến lược giữa các cường quốc dần mất đi, Mỹ mới coi Trung Quốc là một đối thủ cạnh
Mỹ vẫn coi Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng; chính sách "Tây hoá", "phân hoá" và đe dọa
về chính trị - quân sự đối với Trung Quốc sẽ không thay đổi. Tuy nhiên, giữa hai nước
vẫn sẽ tồn tại không gian hợp tác an ninh chiến lược và phòng ngừa khả năng xuất hiện
xung đột quân sự trực tiếp vì điều đó có hại cho cả hai nước cũng như cho quá trình định
hình cục diện quốc tế mới. Như vậy, vừa hợp tác vừa xung đột là xu thế chính trong mô
hình quan hệ của các nước với nhau sau chiến tranh lạnh nhưng đặc biệt thể hiện ở mô
hình hợp tác giữa các nước lớn. Điều này được minh chứng rõ nét qua mô hình quan hệ
TQ- Mỹ.
b) Mô hình quan hệ giữa TQ- VN
Trong quan hệ quốc tế, quan hệ “ đối tác chiến lược” là mối quan hệ đối tác mang tính
chất lâu dài, ổn định và sự bình đẳng giữa hai bên luôn là nguyên tắc cơ bản nhất. Bình
đằng luôn là nguyên tắc nền tảng duy trì mối quan hệ giữa hai bên. Tuy nhiên, trên thực
tế: “Mọi quốc gia đều bình đẳng nhưng có một số quốc gia bình đẳng hơn”. “Đối tác
chiến lược” nghe có vẻ bình đẳng nhưng liệu có bình đẳng thực sự? Chúng ta hãy tìm
hiểu mô hình quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ giữa nước lớn- nước nhỏ cụ thể là
mô hình quan hệ đối tác chiến lược TQ- VN để phần nào làm rõ mỗi băn khoăn này.
Với TQ, lợi ích luôn là số một, TQ không muốn chia sẻ lợi ích với nước khác đặc biệt là
nước láng giềng trong khu vực như VN; cũng không muốn ta hùng mạnh đối trọng với
TQ bởi vậy TQ dè dặt trong vấn đề hợp tác với ta, luôn sử dụng vấn đề Biên giới trên
biển đặc biệt là vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa để ép ta chấp nhận yêu cầu chính trị của
TQ. Mặc dù cũng đã kí những hiệp định về biên giới lãnh thổ trên bộ cũng như Vịnh Bắc
Bộ nhưng trên thực tế, tranh chấp vẫn xẩy ra thường xuyên giữa hai nước. Trên lĩnh vực
kinh tế, cũng còn bộc lộ những mặt hạn chế như sự phát triển giữa các lĩnh vực hợp tác
không đồng đều, quan hệ chính trị đi trước, tốt đẹp hơn nhiều so với quan hệ kinh tế-
thương mại và an ninh. Thêm vào đó, thâm hụt và cạnh tranh thương mại giữa hai nước
càng tăng lên. Vấn đề hàng lậu, hàng kém phẩm chất từ TQ tràn quan lãnh thổ VN. Đây
là vấn đề bức thiết, đòi hỏi hai nước cần tập trung giải quyết sớm để tránh ảnh hưởng đến
sự phát triển chung.
Thực tế cho thấy, trong ưu tiên chính sách của Trung Quốc, Mỹ và các nước phát triển
vẫn được đặt ở vị trí hàng đầu. Vì những điểm hạn chế về tiềm lực nên VN chưa thể là
2
Đỗ tiến sâm, viện nghiên cứu TQ, tạp chí n.c TQ, 5/2002, t34.
1. Đánh giá chung về hai mô hình
Đối tác chiến lược là mô hình được các quốc gia sử dụng rất phổ biến kể từ sau chiến
tranh lạnh cho tới nay. Mục đích hai bên là cùng nhau hợp tác thực hiện những mục tiêu
chung, xây dựng những cơ chế giải quyết tranh chấp, biện pháp thúc đẩy quan hệ và
phương pháp đánh giá tiến bộ cũng như chia sẻ thành tựu hợp tác. Mối quan hệ đối tác
bao gồm sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại và thỏa thuận về những mục tiêu chung.
Theo lí thuyết là thế nhưng trên thực tế mô hình quan hệ đối tác chiến lược còn những
mặt hạn chế như bình đẳng là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ hợp tác nhưng thực chất
“đối tác” trong mô hình quan hệ đối tác chiến lược đã thực sự đã bình đẳng?; các bên đã
thực sự thỏa thuận và hợp tác cùng tiến tới mục tiêu chung, giải quyết các vấn đề tồn tài
hay chưa? v.v còn là những câu hỏi ngỏ cho chúng ta suy ngẫm.
Phân tích hai mô hình điển hình trong quan hệ quốc tế: lớn- lớn và lớn- nhỏ ở trên đã
phần nào khái quát được những nét cơ bản về đối tác chiến lược; đặc điểm quan hệ của
mô hình quan hệ Đồng thời cũng thấy được những mặt tích cực và một số mặt còn hạn
chế trong mô hình.
2. Một số điểm hạn chế và triển vọng của mô hình
So với trước khi thiết lập mối quan hệ đối tác và khi sau thiết lập các nước trong các mô
hình cụ thể đã đạt được những lợi ích chung cũng như mục đích riêng từng nước tuy
nhiên mô hình quan hệ vẫn bộc lộ một số điểm hạn chế biểu hiện ở những vấn đề tranh
chấp, xung đột giữa các bên. Những vấn đề còn tồn tại đó trực tiếp ảnh hưởng tới mối
quan hệ hai nước, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới an ninh khu vực và an
ninh toàn cầu. Với những mâu thuẫn tranh chấp nổi bật đó, trong tương lai mô hình quan
hệ đối tác chiến lược liệu có hiệu quả hay sẽ tiến triển như thế nào? Phần này, chúng tôi
xin chỉ ra một số hạn chế tồn tại giữa các nước ở hai mô hình và đưa ra dự đoán về triển
vọng về mối quan hệ giữa hai nước.
2.1. Vấn đề Đài Loan trong mô hình quan hệ giữa TQ- Mỹ
Vấn đề Đài Loan là vấn đề nội bộ của Trung Quốc nhưng lại rất nhạy cảm trong quan hệ
Trung- Mỹ. Từ năm 1979 đến nay, sự căng thẳng về vấn đề này luôn thể hiện nhiệt độ
giữa các nước lớn vẫn phát triển theo những bước thăng trầm khác nhau. Đây cũng là
phương hướng phát triển quan hệTrung- Mỹ trong thời gian tới.
2.2. Tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ Viêt- Trung
Ngoài tranh chấp phân định biên giới trên bộ 1999 đã kí và phân định Vịnh Bắc Bộ 2000
thì tranh chấp chủ quyền với Biển Đông là vấn đề tồn tại lâu và gây nhức nhối. Tranh
chấp chủ quyền trên Biển Đông không chỉ liên quan tới 2 nước mà còn liên quan tới Đài
Loan, Philippine, brunay, Malaisia, Indonesia. Thực tế, quần đào Hoàng Sa đã thuộc về
TQ, và quần đảo Trường Sa đang còn trong quá trình tranh cãi. TQ vẫn tiếp tục chính
sách “gặm nhấm” để thâu tóm dần quần đảo Trường Sa. Tuy VN có đầy đủ bằng chứng
chứng mình hai quần đảo thuộc chủ quyền và sẵn sàng đàm phán để giả quyết tranh chấp
nhưng do lập trường khác biệt giữa hai nước cùng những hành động thiếu thiện chí của
TQ như nhiều lần đi ngược lại các cam kết như làm trái với các nguyên tắc trong bộ quy
tắc ứng xử trên biển Đông( nhiều lần cho tàu khoan hoạt động trong vùng biển Việt Nam).
Thực tế cũng cho thấy tình thế tranh chấp ngày một phức tạp nhất là sau sự kiện 26/5 vừa
qua: TQ cắt cáp tàu Bình minh của Việt Nam khi đang trong quá trình thăm dò dầu khí.
Trước những phản ứng quyết liệt từ Việt Nam, TQ đã khẳng định việc cắt cáp là do lỗi từ
phía ta. Tới vụ việc gần đây nhất, ngày 9/5, TQ tiếp tục cắt cáp tàu Việt Nam và cho rằng
VN đã hành động sai, VN ngang ngược làm rùm beng vấn đề tranh chấp BĐ giữa hai
nước nhằm kích động các nước phương Tây chống lại TQ và phê phán ta vi phạm hiệp
định giữa hai nước v.v…
Thực sự khó có thể sự đoán được quan hệ chiến lược giữa VN- TQ thời gian tới sẽ diễn
biến ra sao. Nguyên tắc 16 chữ: “ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài,
hướng tới tương lại và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” có hiệu quả và
phát huy tác dụng nhằm giúp kiềm chế hai bên, giải quyết tranh chấp bằng con đường
đàm phán? Khuôn khổ quan hệ VN- TQ: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định
lâu dài, hướng tới tương lai còn nhiều nhân tố cản trở. Chúng tôi cho rằng, khả năng hai
nước vừa hợp tác vừa cạnh tranh trong phát triển và đấu tranh trong giải quyết các vấn đề
biên giới lãnh thổ vẫn là hai nhân tố chính quan trọng chi phối quan hệ hai nước đặc biệt
là vấn đề tranh chấp Biển Đông.
Kết luận
3. Lý thuyết quan hệ đối tác chiến lược
II. Sách tiếng anh
1. Building strategic model between US and China
2. Gerrit W. Grong Bih jawlin (Edt)- American Relations at a time of Change. Centre
of Strategic and International Studies- Washington, D.C1994.
3. Richard Bernstein & Ross H.Muro: Coming Battle with China. Alfred A. Knof,
USD,1997.
1. Các trang Web
1. Alan McLennan, “ Building Stragegic partnership”, www.gadens.com.au
2. http://www.hocvienngoaigiao.org.vn/nr040730095659/nr040730100743/nr050517
174020/ns050530173243
3. http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter4/chapter40301.htm
4. http://portal.laocai.gov.vn/nhdltntq/content/1010005_050.htm