THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIẢNG DẠY ỞCÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP CỦA TỈNH KHÁNH HÒA - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIẢNG DẠY
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
CỦA TỈNH KHÁNH HÒA Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ THU MAI DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - CQ : Chính quy
- CBQL : Cán bộ quản lý
- GV : Giáo viên
- HT : Hiệu trưởng
- TX : Thường xuyên
- KTX : Không thường xuyên
- KTH : Không thực hiện
- PHT : Phó hiệu trưởng
- QL : Quản lý
- T-K : Tốt, khá
- TB : Trung bình
- THCS : Trung học cơ sở
- THPT : Trung học phổ thông
- TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
- TTCM : Tổ trưởng chuyên môn
- XS-G : Xuất sắc, giỏi
- Y-K : Yếu, kém

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1.Thế giới đã bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của nền kinh tế tri thức, với xu thế

ách vở, học ở thực tiễn. Học
sinh là người chủ động đi tìm tòi kiến thức, còn người thầy với vai trò hướng dẫn giúp
học sinh tìm tới chân lý của khoa học. Điều đó đòi hỏi các trường trung cấp chuyên
nghiệp phải đổi mới việc giảng dạy cho đáp ứng với giai đoạn mới.
1.3. Khánh Hoà có bốn trường Trung cấp chuyên nghiệp, đã từ lâu các
trường này đã là nơi cung cấp nguồn lao động cho các lĩnh vực ngành nghề k
hác
nhau, đáp ứng phần nào sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương. Tuy nhiên,
việc đào tạo nguồn nhân lực trung cấp chuyên nghiệp của tỉnh chưa thật sự đáp ứng
được nhu cầu lao động thực tế, hiệu quả quản lý giảng dạy còn chưa cao, chưa khai
thác hết tiềm năng nghề nghiệp, các biện pháp quản lý về giảng dạy còn nhiều bất
cập, chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Xuất phát từ các lý do trên, nên đề tài : “Thực trạng và giải pháp quản l
ý giảng
dạy ở các trường trung cấp chuyên nghiệp của tỉnh Khánh Hoà’’ là đề tài góp phần
nâng cao chất lượng quản lý giảng dạy ở các trường TCCN của tỉnh.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý giảng dạy và đề xuất một số giải
pháp quản
lý giảng dạy của các trường TCCN ở Khánh Hoà.
3. Khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Cán bộ quản lý của: Sở giáo dục và Đào tạo và các trường TCCN tỉnh
Khánh Hòa.
- Giáo viên và học sinh các trường TCCN ở tỉnh Khánh Hòa.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng quản lý giảng dạy và giải pháp quản lý giảng dạy ở các trường
TCCN của tỉnh Khánh Hoà.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý

- Tham khảo ý kiến các chuyên gia để đưa ra những giải phá
p hữu hiệu.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu
Gồm 2 bộ phiếu:
Bộ phiếu 1: Phiếu khảo sát thực trạng (dành cho CBQL và GV các trường
TCCN).
Bộ phiếu 2: Phiếu khảo nghiệm các giải pháp quản lý (dành cho CBQL và
GV các trường TCCN).
Tổng số phiếu phát ra là 150 phiếu (CBQL có ký hiệu là A: 50 phiếu; GV có ký
hiệu là B: 100 phiếu). Tổng số phiếu thu vào là 150 phiếu, hợp lệ 150 phiếu.
- Trung học Kinh tế Khánh Hòa : 35 phiếu (CBQL: 10; GV: 25);
- Cao đẳng Nghề Nha Trang : 40 phiếu (CBQL:15; GV:25);
- Cao đẳng y tế Khánh Hòa : 35 phiếu (CBQL: 12; GV:23);
- Cao đẳng Văn Hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang : 40 phiếu
(CBQL : 13 ; GV : 27).
7.2.3. Phương pháp xử lý số liệu

Tính trung bình cộng của từng câu hỏi nội dung quản lý. Sau đó tổng hợp và
tính % để đánh giá các mức độ, sự tương quan của những nội dung thăm dò.
Công thức tính TB cộng như sau :
N
x
M
i
i



150
1

- Phụ lục Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ GIẢNG DẠY
TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo
dục ở các quốc gia.
1.1.1.1. Lịch sử nghiên cứu
Đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà
trường, nhất là trong thời kỳ nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, giáo dục
cũng vận hành theo cơ chế đó. Để tự khẳng định m
ình mỗi nhà trường phải tự đổi
mới việc quản lý giảng dạy.
Công tác quản lý trường học nói chung và quản lý giảng dạy nói riêng đã từ
lâu được nhiều nhà khoa học và giáo dục nghiên cứu.
Những công trình nổi tiếng phải kể đến VA.Xukhomlinki “Một số kinh

cũng như trong cả nước nói chung trong giai đoạn hiện nay.
Nói tóm lại, các tác giả Việt Nam cũng như các nhà nghiên cứu ở nước
ngoài, đều đưa ra những giải pháp quản l
ý việc giảng dạy trong nhà trường. Thật
vậy, làm thế nào để nâng cao chất lượng quản lý giảng dạy TCCN trong giai đoạn
mới thực sự là vấn đề bức xúc, đề tài này chưa được nghiên cứu ở tỉnh Khánh Hòa.
Vấn đề chúng tôi đặt ra ở luận văn này là tìm hiểu thực trạng quản lý giảng dạy
TCCN ở tỉnh Khánh Hoà và từ đó đề xuất những giải phá
p quản lý phù hợp, mang
tính khả thi góp phần nâng cao chất lượng dạy học hệ TCCN tại Khánh Hòa.
1.1.1.2. Giáo dục nghề nghiệp ở các quốc gia
Nhật Bản
Nhật Bản là một đất nước đã bị kiệt quệ sau chiến tranh thế giới thứ hai, với
hai quả bom nguyên tử thả xuống hai thành phố Nagasaki và Hisrôshima năm 1945
làm cho nền kinh tế Nhật Bản suy yếu trầm trọng. Giáo dục Nhật Bản rơi vào t
hời
kỳ khó khăn nhất. Nhưng chỉ sau năm mươi năm, Nhật Bản đã vươn lên đứng hàng
nhất nhì thế giới. Vậy điều gì đã khiến người Nhật làm nên sự diệu kỳ đó?
“ Đi lên bằng giáo dục là chân lý của thời đại” chân lý đó đã đưa người Nhật
đi tới sự vinh quang của công cuộc kiến thiết nước nhà. Người Nhật bước và
o thế kỷ
XXI với tham vọng xây dựng đất nước hùng cường và dẫn đầu thế giới với phương
châm: Tinh thần Nhật Bản, công nghệ phương Tây; “Giáo dục được coi là nền tảng
trong một trăm năm tới của quốc gia” [27, tr.247]. Với 3 cuộc cải cách giáo dục,
Nhật Bản xây dựng đất nước dựa trên sáng tạo và khoa học công nghệ, giáo dục
cũng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Là đất nước có nguồn tài nguyên khan
hiếm, đất liền rất ít, chủ yếu là
những hòn đảo, nhưng người Nhật đã dùng tài
nguyên vô cùng quí giá là “chất xám” để phát triển nền kinh tế.
Hệ thống giáo dục Nhật Bản rất chú trọng đến giáo dục nghề nghiệp. Việc
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống giáo dục của Nhật Bản
Nhìn vào hình 1.1 ta thấy, Nhật Bản rất chú trọng việc đào tạo thợ lành nghề.
Sự phân luồng rõ rệt sau THCS đã phát huy tính ưu việt của nguồn nhân lực. Nhật
Bản đã thành công trong phương diện giáo dục nghề nghiệp với “Chiến lược nguồn

SAU ĐẠI HỌC
(THẠC SỸ,TIẾN SỸ )
ĐẠI HỌC
KỸ THUẬT
(2 NĂM )

sang độc lập và sáng tạo’’[27, tr.251].
Hàn Quốc
Hàn Quốc là quốc gia có nhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hoá với
Việt Nam. Hàn Quốc có lịch sử giáo dục lâu đời. Khổng giáo ảnh hưởng mạnh mẽ
đến giáo dục Hàn Quốc.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nền giáo dục Hàn Quốc đã có sự phát triển
phi t
hường về tốc độ trên diện rộng dù nguồn tài nguyên thiên nhiên thiếu thốn. Hàn
Quốc đã xây dựng một hệ thống giáo dục mới phù hợp với kỷ nguyên tin học và
toàn cầu hoá. Quan điểm cơ bản của hệ thống là xây dựng một “Xã hội giáo dục
sống động và mở cửa”[14], có hình ảnh mẫu người tương lai: Tự tin - sáng tạo - có
đạo đức, với hệ thống giáo dục ng
hề nghiệp suốt đời; tăng cường hướng nghiệp ở
trường phổ thông; gắn cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp (tạo điều kiện
học suốt đời, bằng con đường học nghề có thể lên đại học, dễ dàng học tập để
chuyển đổi nghề nghiệp, nhiều cơ hội học tập cho đối tượng t
hiệt thòi…).
Ở Hàn Quốc giáo dục đại học theo hướng chuyên biệt hoá và đa dạng hóa,
mỗi trường đại học là cái nôi của sự phát minh khoa học, là nơi chuyển giáo dục
khoa học công nghệ vào thực tiễn đời sống. Hệ thống giáo dục quốc dân ở Hàn
Quốc thể hiện rất rõ quan điểm đào tạo người lao động có trình độ và có tay nghề.
Hàn Quốc đào tạo những ngành nghề mà x
ã hội đang cần, đào tạo theo yêu cầu, đào
tạo gắn liền giảng dạy với thực tiễn sản xuất. Học sinh vừa học vừa làm, mỗi nhà
trường là một đơn vị sản xuất và kinh doanh do đó học sinh ra trường đều dễ dàng
có việc làm vì đã trải qua thực tế.
Tỷ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp ra trường đạt 70% đến 80% thông
qua sự giới th
iệu của nhà trường và qua việc tham dự các kỳ thi tuyển được công bố
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

công nghệ mới vừa học vừa lắp đặt, vừa sử dụng. Nhanh chóng tạo ra sự nhảy vọt
về khoa học kỹ thuật, cập nhật kịp thời công nghệ mới hiện đại, ứng dụng sáng tạo
vào hoà
n cảnh cụ thể của nước nhà. Có chính sách đãi ngộ và sử dụng người tài.
3, Thương mại hóa giáo dục, giáo dục được coi là một dịch vụ và dịch vụ
này cần được tự do hoá trong thương mại, giáo dục có thể nhập khẩu hoặc xuất
khẩu. Các trường học vừa là nơi dạy học, là nơi nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh.
4, Có mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp trong hợp tác
đào tạo, do đó tạo ra được sản phẩm có chất lượng được xã hội chấp nhận.
5, Đào tạo theo nhu cầu, đào tạo những ngành nghề mà xã hội đang cần.
6, Đẩy mạnh việc liên kết đào tạo để tận dụng được điểm mạnh trong liên kết
nâng cao chất lượng dạy và học; mời GV, chuyên gia
trong nước cũng như nước
ngoài về dạy. Xây dựng trường lớp chuẩn, hiện đại đáp ứng nhu cầu du học của học
sinh các nước trên thế giới.
1.1.2. Giáo dục nghề nghiệp ở Việt nam
Ngay từ những năm đầu lập nước, Bác Hồ đã rất quan tâm đến sự nghiệp
trồng người, Người nói:“Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm
phải trồng người” hoặc “Mỗi người phải biết một nghề để sinh hoạt…ai lãnh đạo
trong ngành hoạt động nà
o thì phải biết chuyên môn về ngành ấy”. Quan điểm về
giáo dục nghề nghiệp của Bác còn được thấm nhuần bởi tư tưởng của các sĩ phu yêu
nước thức thời, như Nguyễn Tư Giản từng nói: “Kẻ sĩ cũng phải tham gia công việc
đồng áng bởi vì ngồi mà ăn không là xấu…ngồi không làm
lụng chân tay lười
biếng, thân thể bạc nhược…Nhà trường không phải dạy cho người ta hư văn mà
phải cung cấp cái học hữu dụng, phải vừa học, vừa biết làm ruộng. Đó là cách kết
hợp học và hành [27, tr.113].
Nguyễn Trường Tộ viết “Học là cái gì ? học tức là học cái chưa biết để mà
biết để mà làm việc, làm việc gì? làm

Trung cấp chuyên nghiệp có nhiệm vụ đào tạo khoảng 80% đội ngũ lao động
cho đất nước. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta rất cần có nhiều thợ lành nghề có
trình độ TCCN. Hiện nay hệ thống trung cấp chuyên nghiệp có hơn 300 trường với
khoảng 12 nghìn giáo viên; 165 trường đại học có hệ tr
ung cấp chuyên nghiệp, hơn
một triệu học sinh vào học. Với chủ trương xã hội hoá, đa dạng hoá các loại hình
đào tạo, các trường trung cấp chuyên nghiệp dân lập, bán công, tư thục ra đời ngày
càng nhiều và đáp ứng với nhu cầu của người học.
Năm học 2006- 2007 vừa qua, tổng số học sinh tăng vọt lên đến trên 300.000
học sinh. Đây là con số lớn nhất từ trước tới nay. K
hoảng 5 năm đến 10 năm nữa
quy mô lực lượng lao động kỹ thuật sẽ tăng lên gấp bội, có như vậy mới đáp ứng
được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đội ngũ giáo viên được đào tạo từ nhiều nguồn: các trường công nhân kỹ
thuật, các trường đại học, các trường sư phạm kỹ thuật và những người có tay nghề
cao, nhâ
n viên kỹ thuật, các nghệ nhân. Thực tế chỉ có khoảng 65% giáo viên có
trình độ ĐH, CĐ trở lên còn lại là trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật, số giáo
viên dạy lý thuyết chiếm 50%, trong khi đó yêu cầu đối với các ngành nghề kỹ thuật
đòi hỏi có đội ngũ chuyên sâu về thực hành nhiều hơn. Cả nước hiện nay chỉ có
khoảng 10.000 giáo viên như vậy còn thiếu hơn 6000 giáo viên. Đội ngũ giá
o viên
chưa được cập nhật kiến thức hiện đại.(nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Xã hội còn chưa quan tâm đến mảng dạy nghề, tâm lý làm “thầy” chứ không
làm “thợ” còn ăn sâu vào tư tưởng của mỗi người. Chỉ những học sinh học yếu,
nghèo hoặc không có chỗ học, hoặc học tạm để chờ thi đại học mới chịu học TCCN,
khiến tỉ lệ thầy - thợ ở Việt Nam mất cân đối nghiêm
trọng.
Trong xu thế toàn cầu hoá, giáo dục sẽ là chìa khoá để cạnh tranh và thành
công trong thế giới phẳng, từ đó giáo dục cũng sẽ phẳng. Nghĩa là giáo dục sẽ trở

Là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng QLGD nhằm đạt được
mục tiêu giáo dục đã định.
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể
quản lý nhằm
huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, v.v.v một cách có
hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu
phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội”[21, tr.36].
Đặc trưng của quản lý giáo dục: Kết quả của Giáo dục là sản phẩm có tính
đặc thù, nên quản lý phải chú ý ngăn ngừa sự rập khuôn máy móc trong việc tạo ra
sản phẩm cũng như không cho phép tạo ra sản phẩm hỏng.
1.2.1.3 Chức năng
của quản lý: Lao động quản lý là dạng lao động đặc biệt
gắn liền với quá trình lao động tập thể và sự phân công xã hội. Hoạt động quản lý
thông qua sự tác động của chủ thể đến đối tượng quản lý.
Theo tác giả Phạm Thanh Liêm: “Chức năng quản lý là một hệ thống được
quy định một cách khách quan bởi những phân công và hợp tác lao động của đối
tượng quản lý và sự phân công của lao động quản lý” [ 24, tr. 25].
Bao gồm : Kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

- Kế hoạch hoá: Là chức năng cơ bản nhất, chức năng này định hướng
toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý, là cơ sở để nhà quản lý huy động tối đa
các nguồn lực phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu và căn cứ để kiểm tra, đánh

giá quá trình thực hiện mục tiêu và là căn cứ để kiểm tra, đánh giá quá trình thực
hiện nhiệm vụ của tổ chức của đơn vị mình.
- Tổ chức: Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu sao cho
phù hợp với mục tiêu.
- Chỉ đạo: Là hướng dẫn cụ thể theo một định hướng nhất định, liên kết
động viên người dưới quyền hoà
n thành nhiệm vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức.

Hoạt động dạy là sự truyền thụ những tri thức khoa học, những kỹ năng và
phương pháp hành động [10, tr. 29].
Dạy học xuất hiện ngay từ khi loài người mới sinh ra. Có xã hội là có giáo
dục, có dạy học. Dạy học bao gồm 2 quá trình: dạy và học .
Giảng dạy là quá trình hoạt động của thầy, thông qua sự hướng dẫn, tr
uyền
đạt tri thức đến với học sinh, người học sinh chủ động nắm kiến thức.
1.2.3.2. Khái niệm về quản lý giảng dạy
Quản lý giảng dạy: Là quản lý giáo viện thực hiện nhiệm vụ cơ bản: đó là
quá trình người quản lý phải hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra đánh giá các
hoạt động của giáo viên: thầy là trực tiếp, trò là gián tiếp; Thông qua việc quản lý
hoạt động của thầy mà quản lý hoạt động của trò.
(Luận văn ở đây chỉ nghiên cứu hoạt động giảng dạy của thầy trong quá trình
tương tác với trò nhằm đạt được mục tiêu đề ra).
1.3. Khái niệm trường trung cấp chuyên nghiệp
Trung cấp chuyên nghiệp là một cấp học quan trọng nhằm đào tạo người
lao động có kiến t
hức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm
việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc [8].
1.3.1. Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung cấp chuyên nghiệp
Theo quyết định số 24/2000/QĐ- BGD ĐT ngày 11 tháng 7 năm 2000 của
Bộ trưởng BGD&ĐT về việc ban hành Điều lệ trường t
rung học chuyên nghiệp đã
quy định:
1.3.1.1. Vị trí.
Trường TCCN là cơ sở giáo dục nghề nghiệp sau trung học cơ sở và trung
học phổ thông. Đào tạo chương trình liên thông dạy nghề, cao đẳng và đại học trong
hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học trung gian giữa phổ thông và đại học, cao
đẳng, trường TCCN có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
1.3.1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn

chính phủ;
14, Được nhà nước giao đất, được thuê nhà, được miễn giảm thuế và vay tín
dụng theo quy định của pháp luật;
15, Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Mục tiêu đào tạo của trường trung cấp chuy
ên nghiệp
Là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một
nghề ở trình độ trung cấp, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác
phong công nghiệp, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng
công nghệ vào công việc, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có
khả năng tìm
việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc
phòng, an ninh [8].
1.3.3. Đặc điểm của trường trung cấp chuyên nghiệp
Trường TCCN nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, chịu sự quản lý nhà
nước của cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân cấp của nhà nước.
Hệ thống trường TCCN gồm: trường TCCN trung ương và trường TCCN địa
phương, loại hình tổ chức: trường công, tư thục.
Cấp quản lý trường trung cấp chuyên nghiệp :
- Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quản lý việc giao chỉ tiêu kế hoạch hàng năm, mở
ngà
nh mới, quản lý chương trình khung các ngành nghề đào tạo, quản lý bằng cấp.
- Bộ Lao động Thương binh xã hội: Quản lý dạy nghề.
- Sở Giáo dục và Đào tạo: Quản lý trực tiếp chương trình, kế hoạch đào tạo TCCN.
Trường trung cấp chuyên nghiệp là một cơ sở đào tạo ngành nghề mang tính
đặc thù, nên vừa làm nhiệm vụ dạy học, vừa là nơi nghi
ên cứu khoa học, vừa là nơi
sản xuất, vừa làm nhiệm vụ kinh doanh. Các trường đều đào tạo nhiều cấp học theo
hướng đa dạng hoá các hình thức dạy học: chính quy, tại chức, từ xa, liên kết đào

ó tay nghề ở trình độ trung cấp, có
đạo đức nghề nghiệp.
Quản lý giảng dạy TCCN là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của người
giáo viên.
Theo điều lệ trường TCCN giáo viên có tiêu chuẩn và nhiệm vụ sau[4]:
* Tiêu chuẩn của GV TCCN như sau:
1, Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
2, C
ó bằng tốt nghiệp đại học;
3, Có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm ( trừ giáo viên tốt nghiệp ở các trường sư phạm );
4, Có sức khoẻ để giảng dạy.
* Nhiệm vụ của GV:
1, Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ
và có chất lượng chương trình giáo dục, kế hoạch giảng dạy của nhà trường;
2, Tham gia thực nghiệm
, nghiên cứu khoa học, viết giáo trình, đổi mới
phương pháp giảng dạy;
3, Thực hiện các quy định của pháp luật, của điều lệ và quy chế đào tạo;
4, Rèn luyện đạo đức, không ngừng học tập và bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn, năng lực sư phạm và phẩm chất đạo đức;
5, Hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn và các nhiệm vụ khác của nhà trường
Vì là các trường dạy nghề đặc thù nên cũng tuân theo Điều Luật dạy nghề sau:
Điều 58 Luật dạy nghề quy định :
1, Giáo viên dạy nghề là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy l
ý
thuyết vừa dạy thực hành ở các cơ sở nghề
2, Trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề như sau:
Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại
học Sư phạm Kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là
người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status