BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
----------------------------
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Cần Thơ là thành phố trung tâm của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là đầu mối
giao thông thủy bộ quan trọng, nơi trung chuyển và điều tiết hàng hóa trong khu vực; diện
tích tự nhiên 1.401km
2
; dân số 1.159.008 người với 03 dân tộc Việt – Hoa – Kh’mer cùng
chung sống; mật độ dân số 827người/ km
2
gồm 05 quận và 04 huyện. Nghị quyết Số 45-
/NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 17/02/2005 “Về xây dựng và phát triển Thành phố Cần Thơ
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” có nêu rõ “ phải xây dựng thành phố
Cần Thơ thành đô thị loại I cấp quốc gia trước năm 2010, thành phố Cần Thơ là cửa ngỏ của
vùng hạ lưu sông Mêkông, là trung tâm công nghiệp, thương mại – dịch vụ, du lịch, trung
tâm giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa”.
Ngày nay, nhu cầu hưởng thụ văn hóa, sáng tạo nghệ thuật và du lịch của các đối tượng
trong công chúng thành phố hết sức phong phú và đa dạng. Các hoạt động giao lưu, xuất
nhập khẩu văn hóa phẩm, hoạt động du lịch và các dịch vụ văn hóa – du lịch phát triển rất
nhanh và phức tạp. Các quận, huyện đều có nhà văn hóa, trung tâm sinh hoạt thanh thiếu
niên, công viên văn hóa, khu du lịch sinh thái cùng hàng trăm thiết chế văn hóa khác hoạt
động ngày càng rộng lớn …Những nơi này đều cần đội ngũ cán bộ có trình độ tay nghề
chuyên môn cao, có năng lực tổ chức quản lý giỏi … Ngoài ra, việc đào tạo đội ngũ giáo
viên Âm nhạc – Mỹ thuật, cán bộ chuyên trách thư viện trong các trường trung học cơ sở,
trung học phổ thông cũng đang là một nhu cầu rất bức xúc.
Đồng bằng sông Cửu Long có bảy trường trung cấp văn hóa nghệ thuật, bốn trường
nghiệp vụ văn hóa nghệ thuật, một tỉnh không có trường trung cấ
p lẫn nghiệp vụ văn hóa
nghệ thuật, một tỉnh đào tạo văn hóa nghệ thuật bậc trung cấp lồng ghép vào một khoa của
trường đại học. Trong đó, trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ là một trong số ít
trường có uy tín trong vùng về việc đào tạo lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Từ khi thành lập và
Công tác quản lý đào tạo ở Trường TC.VHNT Cần Thơ đã mang lại một số hiệu quả
bước đầu, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại ở khâu quản lý việc xây dựng và thực hiện
chương trình đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy và cơ sở vật chất. Nguyên nhân của
những tồn tại này có thể là do lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến hoạ
t động đào tạo,
chưa tạo điều kiện đầy đủ về nhân lực lẫn vật lực phục vụ công tác đào tạo, một số ít Khoa,
Bộ môn chưa phát huy hết vai trò lãnh đạo chuyên môn, một số giáo viên chưa thật sự tận
tâm với nghệ thuật truyền thống…
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết để xác định cơ sở lý luận về việ
c quản lý đào tạo trong nhà
trường.
- Tìm hiểu thực trạng về công tác quản lý đào tạo ở trường Trung cấp Văn hóa Nghệ
thuật Cần Thơ
- Đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo tại trường
TC.VHNT Cần Thơ
6. Phạm vi nghiên cứu
Trường TC.VHNT Cần Thơ đào tạo nhiều loại hình như: chính quy, tại chức, liên kết
đ
ào tạo… nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ chính
quy của trường.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận:
- Quan điểm hệ thống - cấu trúc:
Tiếp cận quan điểm hệ thống -cấu trúc trong nghiên cứu quản lý đào tạo là xem xét các
mối quan hệ biện chứng của các thành tố: mục tiêu, chương trình, phương pháp, phương tiện,
hình thức tổ
chức đào tạo; mối quan hệ giữa dạy và học, giáo viên và học sinh cùng với các
hoạt động quản lý đào tạo ở trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Cần Thơ.
a thực trạng.
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS for Windows xử lý số liệu, tính trị số trung bình, độ lệch chuẩn.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG TRUNG
CẤP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT CẦN THƠ
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có khá nhiều công trình đề cập đến công tác quản lý đào tạo, nhưng phần lớn các
nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia giáo dục, các luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục tập
trung nhiều vào các chiến lượ
c quản lý công tác đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học. Cụ
thể, tác giả Lâm Quang Thiệp – nguyên Vụ trưởng Vụ Đại học – Bộ Giáo dục và Đào tạo có
bài “ Một số giải pháp nhằm đảm bảo chất lượng cho hệ thống giáo dục đại học” [4] trong đó
đề cập đến một số giải pháp về tổ chức, quản lý chất lượng giáo dục đại h
ọc chính quy và
không chính quy.
Tác giả Trần Chí Đáo nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có bài “ Các hướng
đổi mới quản lý đại học Việt Nam trước bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay” [10] đã đề cập đến
một vài dự báo về thế kỷ 21. Những thay đổi lớn về hình thái kinh tế và sự phát triển kinh tế
thế giới trước sự thay đổi lớn về khoa học công nghệ
đòi hỏi phải thay đổi công tác quản lý
giáo dục. Các hướng đổi mới cơ bản đó là sự vận dụng đường lối lãnh đạo của Đảng về giáo
dục đào tạo, về sự đổi mới tư duy trong giáo dục và quản lý giáo dục, nêu cao vai trò và tính
tự chủ của các cơ sở đào tạo trong quản lý.
Tác giả Nguyễn Phúc Châu – trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Trung ương với bài “
Nhận diện những trụ cột của hoạt động quản lý và vận dụng chúng vào đổi mới quản lý nhà
trường” [9] đã xác định những trụ cột của hoạt động quản lý là: thể chế xã hội về lĩnh vực
tác giáo viên trung cấp văn hóa thể thao và du lịch, nhưng kết quả vẫn chưa thống nhất được
chế độ công tác giáo viên giảng dạy lĩnh vực Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tháng 6 năm
2010 Bộ V
ăn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức Hội diễn Văn hóa Văn nghệ giữa các trường
văn hóa nghệ thuật toàn quốc tại Đà Nẵng. Tất cả hoạt động trên đều nhằm định hướng về
chế độ giáo viên và các vấn đề liên quan đến hoạt động của các trường văn hóa nghệ thuật.
Do nhiều nguyên nhân, hội thảo, hội diễn văn hóa văn nghệ cũng ch
ỉ đi vào từng mảng riêng
lẻ của hoạt động quản lý đào tạo lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu tập trung khá nhiều về công tác quản lý giáo
dục đào tạo, quản lý nhà trường nhưng chưa đi sâu nghiên cứu việc quản lý đào tạo tại
trường trung cấp chuyên nghiệp đặc thù về văn hóa nghệ thuật.
1.2. Các khái niệm liên quan đến đề tài
1. 2.1 Quản lý
Khái niệm “quản lý” đã được các nhà khoa học nhận định đa dạng như sau :
Theo tác giả F. Taylor thì “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác
làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [14,
tr.89].
Theo tác giả Henry Fayol thì “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ
chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [14, tr.108].
Theo tác giả
Hoàng Chúng thì “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những
con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên khuyến khích họ trong quá
trình lao động” [12].
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê thì “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học, là
nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiểu quả
tối ưu theo mụ
c tiêu đã đề ra” [26].
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Chính sự phân công,
hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy,
Trong các chức năng thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất [28].
* Mục tiêu của quản lý giáo dục: Mục tiêu là yếu tố cơ bản của hệ thống quản lý. Có
nhiều loại mục tiêu quản lý:
- Mục tiêu lâu dài, mục tiêu trước mắ
t.
- Mục tiêu chung, mục tiêu bộ phận.
- Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể.
* Các nguyên tắc của quản lý giáo dục:
- Tính Đảng: Trước hết là làm cho tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh mà Đảng ta đã cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương chính sách giáo dục trở
thành hệ tư tưởng và quan điểm chỉ đạo duy nhất của toàn bộ công tác giáo dục đào tạo.
- Tính khoa học, thực tiễn: Trong quản lý người quản lý phải nắm được cơ sở khoa
học. Khoa học và quản lý giáo dục phải dựa vào thành tựu của nhiều ngành khoa học khác
nhau: xã hội học, kinh tế học, tâm lý học, luật học …
- Tính tập trung dân chủ: Thực hiện nguyên tắc này là đảm bảo sự thống nhất tổ chức
và trình độ cao của hệ thống đồng thời đảm bảo phát huy cao
độ các khả năng tiềm tàng, trí
tuệ tập thể. Nó thể hiện ở sự kết hợp chế độ thủ trưởng với chế độ dân chủ, tập thể trong
quản lý. Thực chất nguyên tắc rộng rãi này đảm bảo cho kỷ luật chặt chẽ.
- Tính pháp chế: Đây là nguyên tắc cần thiết vì nó giúp điều hành và quản lý bằng
pháp luật cả về mặt tổ chức và hoạt động. Quản lý nhà nước về giáo dục đòi hỏi không
những việc thực hiện nghiêm luật pháp của nhà nước mà còn vận dụng kết hợp những quy
phạm pháp quy với những yếu tố đặc thù của ngành giáo dục để xây dựng và thực hiện một
h
ệ thống quy phạm, quy chế giáo dục.
- Tính hiệu quả: Chất lượng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào hiệu quả tổ chức và
quản lý. Muốn đạt hiệu quả cao, người quản lý phải nắm được những thành tựu mới của
khoa học kỹ thuật, vận dụng các phương pháp khoa học vào quá trình quản lý.
* Các phương pháp quản lý giáo dục
- Phương pháp tổ chức hành chánh
thành chu trình quả
n lý. Cũng có thể đối với một chu trình quản lý nào đó không nhất thiết
thực hiện đầy đủ các chức năng trên. Chu trình này bao gồm các chức năng sau:
+ Soạn thảo và ra quyết định
+ Tổ chức thực hiện quyết định
+ Kiểm tra đánh giá việc thực hiện quyết định
+ Tổng kết
Vì vậy, quản lý trường học là một phương pháp khoa học và phức tạp, vừa tinh vi,
vừa tế nhị đòi hỏi mỗi người hiệu trưởng và tập thể ban lãnh đạo nhà trường phải hợp đồng
chặt chẽ, quán xuyến chung mọi mặt từ chương trình giáo dục về văn hóa, đạo đức đến các
lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kỹ thuật tổng hợp… Từ việc nhận thức chủ trương đường lối của
Đảng, Nhà nước v
ề giáo dục, ban lãnh đạo nhà trường mà chủ yếu là hiệu trưởng sẽ xây
dựng những biện pháp chỉ đạo khoa học, thực tiễn và đầy sáng tạo để tác động vào từng đối
tượng của nhà trường là giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh sao cho mọi người đều tự giác
thực hiện và thể hiện bằng sự tiến bộ về mọi mặt giảng dạy và học tập của nhà tr
ường” [26].
1.2.2 Quản lý giáo dục
Khái niệm quản lý giáo dục cũng được nhận định ở cấp độ vi mô và vĩ mô như sau:
- Ở cấp độ vi mô “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể
giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các l
ực lượng xã hội trong và
ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà
trường” [23, tr 36].
- Quản lý giáo dục hay còn được hiểu là quản lý trường học, quản lý nhà trường là
thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, vớ
i thế hệ trẻ và với từng học sinh [19].
chức và quản lý để đảm bảo cho quá trình đào tạo vận hành đúng mục tiêu đào tạo đã định.
Quản lý hoạt động đào tạo nghĩa là thông qua các chức năng quản lý mà tác động vào các
thành tố của quá trình đào tạo [5].
Quản lý đào tạo có hai chức năng cơ bản sau:
- Duy trì, ổ
n định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng, sản phẩm đào tạo đạt
được các chuẩn mực đã xác định trước.
- Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý đào tạo bao gồm các lĩnh vực quản lý như mục tiêu, nội dung chương trình,
kế hoạch đào tạo, quy trình tổ chức giảng dạ
y như: chiêu sinh, tổ chức lớp, thực hiện chương
trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, nề nếp dạy - học, tổ chức khóa học và thi kết thúc
khóa, đánh giá kết quả học tập, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, kiểm soát các chuẩn mực
đảm bảo chất lượng. Chất lượng đào tạo quyết định sự tồn vong của c
ơ sở đào tạo, vì vậy
quản lý đào tạo chính là quản lý chất lượng [5].
Tổ chức đào tạo một cách hợp lý có ảnh hưởng lớn đến năng suất của hoạt động đào
tạo. Điểm then chốt của việc tổ chức đào tạo là làm sao hoàn thành được mọi nhiệm vụ và
đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra. Việc t
ổ chức đào tạo xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu đào
tạo và căn cứ vào đặc điểm tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên và các điều kiện hoạt động
của nhà trường. Thực chất tổ chức đào tạo một cách khoa học là tìm ra một phương án tối
ưu của hệ thống các hoạt động đào tạo trên cơ sở giải quyết tổ
ng hợp đồng bộ các nhiệm vụ,
mục tiêu đào tạo, các vấn đề về xã hội học, tâm lý học, giáo dục học và điều khiển học.
1.3. Công tác quản lý giáo dục - đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật
Theo nghĩa rộng, giáo dục - đào tạo văn hóa nghệ thuật là quá trình trang bị và nâng
cao kiến thức hiểu biết về văn hóa, nghệ thuật, kỹ n
ăng trong hoạt động nghề nghiệp của lĩnh
vực văn hóa nghệ thuật … cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời
thuật thật sự trở thành nền tảng tinh thần của nhân dân, là động lực, là đòn bẩy kinh tế - xã
hội phát triển.
Riêng đối với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là
đối với Thành phố Cần Thơ
- một thành phố trẻ nhưng cũng phức tạp về văn hóa, xã hội thì vấn đề này càng có ý nghĩa
to lớn.
Công tác quản lý đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đóng vai trò tổ chức, chỉ huy,
phối hợp các lực lượng làm công tác giáo dục đào tạo (trong và ngoài ngành văn hóa nghệ
thuật) nhằm phát triển nền văn hóa nghệ thuật
để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày
càng cao của nhân dân, hướng mọi người đến những giá trị CHÂN – THIỆN – MỸ.
1.4. Nội dung quản lý đào tạo
1.4.1. Quản lý công tác tuyển sinh
Công tác tuyển sinh trong trường trung cấp chuyên nghiệp là khâu cơ bản đầu tiên
của quá trình đào tạo. Quy trình công tác tuyển sinh bao gồm: đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh;
thành lập Hội đồng tuyển sinh; hoạt động thanh tra; nhận hồ sơ đăng ký dự thi; lệ phí đăng
ký dự thi; nhận giấy báo thi; môn thi-thời gian thi; chuẩn bị địa điểm thi; tập huấn về qui chế
tuyển sinh cho các thành viên Hội đồng và các Ban; tổ chứ
c làm đề thi (nội dung đề thi, quy
trình ra đề thi, quy trình bảo mật đề thi) đến công tác tổ chức kỳ thi; công tác chấm thi; chấm
phúc khảo; xác định điểm tuyển chọn, báo điểm cho thí sinh và triệu tập thí sinh đến trường;
cuối cùng là chế độ báo cáo và lưu trữ.
Mục đích công tác tuyển sinh là nhằm lựa chọn được học viên có đầy đủ năng khiếu
cho từng chuyên ngành. Muốn đạt mục đích đ
ó phải công khai rộng rãi đến các đối tượng
tuyển sinh, các tiêu chuẩn tuyển sinh, nội dung chương trình, kế hoạch học tập để người học
chọn ngành học phù hợp với khả năng bản thân và yêu cầu công việc.
Tóm lại, trong công tác quản lý tuyển sinh phải công khai, khách quan, chính xác.
1.4.2. Quản lý công tác đào tạo
1.4.2.1. Quản lý việc thực hiện mục tiêu đào tạo
phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầ
u xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu đào tạo của từng khoa: trong trường văn hóa nghệ thuật, mỗi khoa có đặc thù
ngành nghề đào tạo riêng, do đó cần phải xây dựng mục tiêu đào tạo cụ thể của khoa để làm
cơ sở cho việc xác định mục tiêu đào tạo cho từng ngành học, môn học.
Vấn đề cốt lõi là tất cả các mục tiêu đào tạo c
ụ thể đều phải phù hợp và phục vụ cho
mục tiêu đào tạo tổng quát.
Sau khi xác định rõ mục tiêu đào tạo thì nhà trường cần công bố mục tiêu đào tạo.
Việc xác định mục tiêu đào tạo giúp cho giáo viên định hướng phải dạy cái gì, đánh giá
một cách khách quan và đúng đắn kết quả học tập của học sinh và kết quả giảng dạy của bản
thân, giúp học sinh biết mình ph
ải học những gì để có thể làm những gì sau khi học xong.
Nhà trường phải xác định rõ mục tiêu đào tạo nhằm định hướng cho vận động và phát
triển các thành tố khác của quá trình đào tạo, nó trở thành phương hướng chỉ đạo cho toàn bộ
quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động đào tạo, giúp cho quá trình đào tạo vận hành có chất
lượng và hiệu quả, đảm bảo không đi chệch hướ
ng do có điều chỉnh theo mục tiêu đào tạo đã
được vạch ra.
1.4.2.2 Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo là một trong những tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà
trường. Việc xây dựng và quản lý chương trình đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của cơ sở đào
tạo.
Chương trình khung đào tạo trung cấp chuyên nghiệp nhóm ngành văn hóa nghệ
thuật đã được Bộ Văn hóa Thông tin cũ (nay là Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch) phê duyệt
ban hành. Chương trình đào tạ
o không chính qui sẽ được thiết kế trên cơ sở nghiên cứu
chương trình chính qui để lập kế hoạch và nội dung đào tạo phù hợp.
Các khóa đào tạo của nhà trường (kể cả đào tạo ngắn hạn) đều phải có chương trình
đào tạo, là cơ sở để tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá và quản lý chất lượng đào
trưởng thông qua phòng Đào tạo giao kế hoạch giảng dạy cho các Khoa, Bộ môn, giáo viên
[5].
* Phát triển chương trình đào tạo
+ Quyết định phần mềm của chương trình đào tạo: Chương trình khung đào tạo qui
định 75% -80% là phần cứng, các trường bắt buộc phải thực hiện đầy đủ, 20% -25% được
phép mềm để nhà trường lựa chọn nội dung đào tạo mang tính đặc thù của trường [20].
+ Đảm bảo tiến độ thực hiện chương trình: theo dõi và kịp thời đi
ều chỉnh tiến độ
thực hiện chương trình là nhiệm vụ của Phòng Đào tạo. Tốt nhất việc điều chỉnh được thực
hiện ngay từ cấp bộ môn và thực hiện trong tuần hoặc trong tháng. Các giáo viên, tổ Bộ môn,
Phòng Đào tạo căn cứ vào tiến độ thực hiện kế hoạch môn học, học kỳ, năm học để theo dõi
và điều chỉ
nh kịp thời.
* Quản lý đội ngũ giáo viên
Đối với trường học – cơ sở đào, tạo giáo viên có vai trò rất quan trọng, là lực lượng
quyết định chất lượng đào tạo. Một trường học phải có một lực lượng giáo viên đủ về số
lượng, đạt chuẩn về chất lượng, có cơ cấu đồng bộ mới có điều kiện nâng cao hiệ
u quả đào
tạo.
Quản lý giáo viên là khâu quan trọng trong công tác quản lý đào tạo, nhằm huy động
tối đa lực lượng giáo viên vào việc thực hiện mục tiêu, nội dung, kế hoạch đào tạo, thực hiện
các qui chế, chế độ giảng dạy nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường.
Do đặc thù của ngành văn hóa nghệ thuật, các cơ sở thực hành (sàn múa, phòng mỹ
thuật, phòng luyện thanh…) của h
ọc sinh có mối quan hệ chặt chẽ với công tác phát triển đội
ngũ giáo viên nghệ thuật. Đội ngũ giáo viên dạy nghệ thuật rất hiếm (tính đến năm 2009 cả
khu vực đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 02 Thạc sĩ Âm nhạc, …).Vì thế, rất cần chế độ đãi
ngộ của các cơ quan có chức năng. Bên cạnh đó, việc đào tạo đội ngũ giáo viên tạo nguồn
cho lĩnh vực này đòi hỏi lãnh đạo phải rất tâm huyết với ngành. Thêm vào đó, việc quản lý
đội ngũ “nghệ sĩ”, “họa sĩ” rất “khó” bởi họ là những người rất thoáng, rất “phóng khoáng” –
Quản lý việc mua sắm phải theo các hướng dẫn của các văn bản quy chế hiện hành.
Tuy nhiên, việc quản lý trang thiết bị cần thiết phải đầu tư để xây dựng môi trường sư phạm
khang trang.
Qua thực tiễn của nhiều trường trong những năm qua, việc tổ chức quy hoạch tổng
thể để xây dựng “trường cho ra trường” là việc làm quan trọng.
Trong lĩnh vực văn hóa nghệ
thuật, ngoài việc đầu tư phòng học, thư viện, phòng
máy tính còn phải chú ý tính đặc thù của từng chuyên ngành đào tạo để đầu tư trang thiết bị
thích hợp. Chẳng hạn như, đối với đào tạo ngành Piano – đào tạo theo kiểu một thầy một trò
nhưng phải trang bị phòng học riêng với đàn Piano để việc học tập được thuận tiện. Ngành
đào tạo Thanh nhạc phả
i trang bị phòng cách âm. Ngành đào tạo Diễn viên Múa phải có
trang phục múa, giày múa, sàn tập, phòng tập trang bị kiếng. Ngành Mỹ thuật phải trang bị
phòng vẽ đủ ánh sáng và “xưởng thực tập” cho học sinh.
* Quản lý phương pháp đào tạo
Phương pháp đào tạo bao gồm các cách thức tiến hành hoạt động dạy và học nhằm
đào tạo được sản phẩm giáo dục theo đúng mục tiêu đã xác định. Nói cách khác, phương
pháp đ
ào tạo là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo hoạt động của học sinh
để đạt được mục tiêu đào tạo. Một đặc điểm cần chú ý khi xây dựng phương pháp đào tạo
nhất định là phải cố gắng sử dụng đầy đủ và hợp lý các hình thức tổ chức dạy học để đạt
được chất lượng và hiệu quả cao.
Quan h
ệ giữa phương pháp đào tạo và các nhân tố khác của quá trình đào tạo: quá
trình đào tạo (hiểu theo nghĩa tiếp cận hệ thống) gồm các thành tố cơ bản (mục tiêu, nội
dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá) tương tác với nhau thành một chỉnh thể,
vận hành trong môi trường giáo dục của nhà trường và môi trường kinh tế - xã hội cộng
đồng.
Phương pháp đào tạo là cách thức nhà trườ
ng sử dụng để đào tạo học sinh thành người
đào tạo tại chức, đào tạo từ xa, đào tạo hàm thụ và ứng với mỗi hình thức đào tạo thì có
phương pháp đào tạo thích hợp. Chẳng hạn như, đào tạo tại chức là phương pháp đào tạo
dành cho những người đang làm việc tại cơ quan, xí nghiệp… có nhu cầu học tập để đạt tới
trình độ họ
c vấn chuyên môn, nhất định dưới các hình thức không tập trung. Mỗi khóa học
thường kéo dài gấp rưỡi thời gian so với các khóa học chính quy và do người học tự nhận tài
liệu giáo khoa về tự học là chính.
+Tổ chức dạy:
Đối với giảng dạy, phòng Đào tạo cần cung cấp cho giáo viên chương trình chi tiết
môn học và yêu cầu từng giảng viên phải thực hiện đúng yêu cầu và mục tiêu môn học ghi
trong chương trình chi tiế
t và phải làm lịch giảng dạy và nộp một bộ chế bản điện tử bài
giảng và tài liệu tham khảo photo để cung cấp cho học viên tự nhân bản.
Trên cơ sở lịch trình giảng dạy, cán bộ đào tạo, thanh tra … hoàn toàn có thể kiểm
soát được tiến trình giảng dạy và đánh giá giữa kỳ của từng giảng viên trong học kỳ.
Bài soạn giảng bao gồm các kiến thức cốt lõi của môn học và các câu hỏi bài tập cho
người học chuẩn bị trước khi ôn luyện và bài giảng là giải pháp đảm bảo giảng dạy hiệu quả
nhất chứ không ph
ải giáo trình.
Với mỗi bài soạn giảng cần xác định rõ chủ đề và mục tiêu, GV phải chuẩn bị đầy đủ
các tư liệu phục vụ cho bài giảng đó. Muốn vậy, GV phải biết nguồn tư liệu (khai thác ở đâu)
và mục đích sử dụng (khai thác cái gì) của những tư liệu đó. Các tư liệu phục vụ bài giảng
rất phong phú về chủng loại và đ
a dạng về nguồn gốc, đặc biệt trong tình trạng thông tin phát
triển và phương tiện hỗ trợ cho việc lưu giữ và truyền tải thông tin ngày càng hiện đại. Sau
khi đã có đủ tư liệu, GV nên soạn đề cương khái quát của bài giảng trong những điều kiện
cho phép, nên chuyển hóa thành tài liệu phát cho HS giúp các em thuận lợi trong tiến trình
thực hiện các nhiệm vụ học tập đã xác định. Bài soạn giảng là kế ho
ạch và dàn ý bài giảng
của giáo viên được soạn trước ra giấy để tiến hành dạy học. Trong bài soạn giảng thường ghi
c, phát hiện kịp thời những thiếu sót của người dạy và người học để điều chỉnh và
hoàn thiện quá trình đào tạo.
Kiểm tra – đánh giá có ảnh hưởng hai mặt, nó có thể cản trở cho sự phát triển giáo
dục nếu kiểm tra đánh giá chệch với mục tiêu đào tạo và sử dụng những loại hình không phù
hợp với mục đích kiểm tra. Vì vậy, để thực hi
ện tốt quy trình đào tạo, nhà trường cần chú ý
việc kiểm tra – đánh giá tri thức, kỹ năng kỹ xảo trong quá trình đào tạo để qua đó có thể
đánh giá chất lượng giảng dạy của nhà trường.
Từ kết quả đánh giá có thể dẫn đến hai loại quyết định.
Loại quyết định thứ nhất liên quan đến lợi ích tổng thể của kế hoạch như :
- Kế hoạch có thành công hay không
- Kế hoạch có giá trị để thực hiện hay không
- Kế hoạch này có nên áp dụng lại ở các thời điểm và hoàn cảnh khác hay không.
Đánh giá được thiết kế để dẫn đến loại quyết định này được gọi là đánh giá tổng kết.
Nó thường diễn ra vào cuối kế hoạch.
Loại quyết định thứ hai liên quan đến thay đổi việc thực hiện kế hoạch nh
ư:
- Các mục tiêu kế hoạch đề ra có cần thay đổi hay không, các phương pháp làm việc
hoặc các hoạt động thực hiện kế hoạch có cần thay đổi hay không?
- Có cần thêm thời gian hoặc nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra hay không?
Đánh giá được thiết kế để dẫn tới các quyết định này được gọi là đánh giá tác nghiệp.
Đôi khi đánh giá tác nghiệp được thực hiện vào cuối kỳ kế hoạch, từ đó có thể hướng dẫn
thực hiện các kế hoạch tương tự được triển khai ở những nơi khác. Thông thường đánh giá
tác nghiệp được tiến hành trong quá trình thực hiện kế hoạch, từ đ
ó có thể thực hiện việc
điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch đó.
Cả hai loại đánh giá trên nên được thiết kế từ khi bắt đầu thực hiện kế hoạch hoặc
công việc. Điều này sẽ giúp cho việc thu thập các thông tin phù hợp trong quá trình thực hiện
kế hoạch.
Đánh giá là một phần rất quan trọng của chu trình quản lý.
ọc sau khi nghiên cứu đã đưa ra mô hình
kiểm tra – đánh giá là một hệ thống công việc mà đối tượng được kiểm tra – đánh giá cần
phải thực hiện theo thứ tự, có cấp độ nâng dần từ thấp đến cao, từ dễ dàng đến khó khăn,
phức tạp nhằm xác định khả năng có sẵn, khả năng tiềm ẩn, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của đối
tượng được đánh giá thông qua khả năng của họ trong thực hiện các yêu cầu như thế nào.
Nhờ mô hình này người ta có thể xác định được các chỉ số thông minh, hoặc chỉ số về thái
độ…
Như vậy, đối với hệ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp chuyên ngành đặc thù nghệ
thuật, vấn đề quyết định chọn mã ngành, chọn môn học thích hợp trong phần mềm của
chương trình r
ất quan trọng. Nhà quản lý phải mạnh dạn quyết định dựa trên cơ sở thực tiễn,
đón đầu xu hướng, đặc thù ngành để đề nghị bổ sung, điều chỉnh chương trình một cách
thích hợp. Ví dụ, đối với ngành đào tạo Trung cấp Thanh nhạc – đào tạo trở thành “ca sĩ” thì
chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo không có phân môn Kỹ thuật biểu diễn, nhà
quản lý nên
đề nghị bổ sung phân môn này vào chương trình khung của ngành Thanh nhạc.