tiểu luận tài chính quốc tế thành tựu đạt được, những hạn chế và giải pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam và của việt nam ra nước ngoài - Pdf 25

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong một vài thập niên trở lại đây, người ta đã được chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ của
hoạt động đầu tư quốc tế (ĐTQT) trên phạm vi toàn cầu. Nó cùng với thương mại quốc tế là hai
xu hướng nổi bật nhất trong nền kinh tế thế giới. ĐTQT được chia ra thành hai loại hình đầu tư cơ
bản: Đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Trong đó, đầu tư trực tiếp, hay còn gọi là đầu tư trực tiếp
nước ngoài (ĐTTTNN - Foreign Direct Investment - FDI) là một hình thức di chuyển vốn quốc tế,
trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử
dụng vốn .
Thực chất, ĐTTTNN là việc các công ty nước ngoài đầu tư vốn vào nước sở tại, nhằm xây
dựng các cơ sở sản xuất và làm chủ toàn bộ hoặc từng phần cơ sở đó. Nói khác đi, đây chính là
hình thức mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh, và điều đó cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành dự án đầu tư có toàn bộ hoặc một
phần số vốn của họ.
Trong hoạt động ĐTTTNN, nước đi đầu tư được gọi là nước chủ nhà, còn nước tiếp nhận
vốn đầu tư được gọi là nước sở tại.
Hoạt động ĐTQT nói chung và hoạt động ĐTTTNN nói riêng hình thành không chỉ đơn
thuần là do mong muốn của các nhà đầu tư hay của các quốc gia đi đầu tư, mà đó chính là một xu
hướng khách quan.
II. Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1. Đối với nước đầu tư:
Bằng đầu tư ra nước ngoài, họ tận dụng được những lợi thế về chi phí sản xuất thấp của
nước nhận đầu tư ( do giá lao động rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tại chỗ thấp) để hạ giá
thành sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu của nước
nhận đầu tư, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép các công ty này kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm
mới được chế tạo ra trong nước. Thông qua đầu tư trực tiếp, các công ty của các nước phát triển
chuyển được một phần các sản phẩm công nghiệp ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống của chúng
sang các nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng như sản phẩm mới ở các nước này, nhờ đó mà tiếp
tục duy trì được việc sử dụng các sản phẩm này, tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư.
1

cần đến nguồn vốn FDI của nước ngoài và coi đó là một nguồn lực cần khai thác để hoà nhập vào
cộng đồng quốc tế. Mặc dù vậy, đầu tư trực tiếp của nước ngoài không phải bất cứ lúc nào và ở
đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư. Nó chỉ
2
có thể phát huy tác dụng trong môi trường kinh tế chính trị, xã hội ổn định và đặc biệt là Nhà
Nước của nước nhận đầu tư biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình.
III. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Trong thực tiễn, hoạt động ĐTTTNN có nhiều hình thức tổ chức khác nhau, trong đó có 3
hình thức phổ biến là:
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng.
- Doanh nghiệp liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Mỗi hình thức có những đặc trưng riêng, cụ thể từng hình thức như sau:
1. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng:
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hay còn gọi là hợp đồng hợp tác kinh
doanh là hình thức mà các bên đối tác (bên nước ngoài và bên nước sở tại) sẽ hợp tác kinh doanh
với nhau theo một hợp đồng kinh doanh.
Hình thức này không hình thành nên một pháp nhân ở nước sở tại, mà nhà đầu tư nước ngoài
được phép thành lập văn phòng đại diện của mình. Các hoạt động sản xuất kinh doanh của các
bên được tiến hành theo nội dung và các điều lệ của hợp đồng.
Theo Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư
trong đó bên Việt Nam và bên nước ngoài cùng nhau thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bên
về việc cùng phối hợp với nhau trong sản xuất hoặc tiêu thụ một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó
với sự quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Thông thường, hình thức này chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng số vốn ĐTTTNN. Do
hình thức này khó thực hiện trên thực tế và hiệu quả đem lại thường không cao.
2. Doanh nghiệp liên doanh:
Nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lập công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định
của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan;

IV. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Những yếu tố tác động đến hoạt động ĐTTTNN có thể là những yếu tố nằm ngay bên trong
nước sở tại (yếu tố chủ quan), cũng có thể là những yếu tố từ bên ngoài (yếu tố khách quan)
4
1. Yếu tố chủ quan:
Thực chất những yếu tố chủ quan chính là những yếu tố thuộc về môi trường đầu tư ở nước
sở tại, dưới cách này hay cách khác, chúng tác động một cách mạnh mẽ lên dòng vốn ĐTTTNN.
Nó thể hiện ở những điểm sau:
-Thứ nhất là những yếu tố thuộc môi trường kinh tế. Trong đó bao gồm: chiến lựợc phát
triển kinh tế của nước sở tại; cơ cấu kinh tế; thể chế kinh tế của nền kinh tế (thể chế kinh tế thị
trường, cơ chế tập trung hay nền kinh tế hỗn hợp); trình độ phát triển kinh tế; quy mô của nền
kinh tế (thu nhập bình quân, GDP…)v.v. Những yếu tố trên có thể tạo thuận lợi, hoặc gây rủi ro
cho nhà đầu tư nước ngoài. Những trường hợp xảy ra rủi ro là do suy thoái kinh tế, lạm phát, cán
cân thanh toán thâm hụt. Vì vậy một môi trường kinh tế phát triển và ổn định là động lực lớn thu
hút vốn ĐTTTNN.
-Thứ hai là những yếu tố thuộc về môi trường chính trị, như thể chế chính trị (thể chế quân
chủ, cộng hoà, hay xã hội chủ nghĩa); những chính sách phát triển kinh tế (chính sách tài chính –
tiền tệ, chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái, chính sách dự trữ ngoại tệ chính sách tài khoá…).
Hoạt động ĐTTTNN phải đối mặt với 3 loại rủi ro về chính trị, đó là: việc tịch thu hành chính,
các quy định không mong đợi, những quy định ngoài ý muốn. Người ta cũng đã đưa ra được 8
tiêu thức đánh giá rủi ro chính trị, đó là: sự ổn định của hệ thống chính trị; sự xung đột nội bộ sắp
xảy ra; sự đe doạ từ bên ngoài; mức độ kiểm soát hệ thống kinh tế; sự tin cậy của quốc gia như
một đối tác kinh doanh; sự bảo đảm hiến pháp; hiệu quả của quản lý hành chính; những mối quan
hệ về lao động.
-Thứ ba là những yếu tố thuộc môi trường luật pháp. Những yếu tố này ảnh hưởng đến
phương thức thâm nhập thị trường của nhà đầu tư (xuất khẩu hay ĐTTTNN); ảnh hưởng đến việc
lựa chọn lĩnh vực đầu tư; ảnh hưởng đến sự hoạt động an toàn của nhà đầu tư ở nước sở tại…
Nguồn luật quan trọng nhất tác động lên hoạt động ĐTTTNN là luật đầu tư nước ngoài, vì vậy,
các quốc gia không ngừng hoàn thiện hệ thống luật pháp, đặc biệt là luật đầu tư nước ngoài theo
hướng có lợi cho nhà đầu tư đê tắng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, do đó nó sẽ tạo ra sức hút lớn đối với vốn ĐTTTNN. Một số
nước lớn như nước Mỹ, Trung Quốc đã chứng tỏ được lợi thế về thị trường, và do đó trở thành
những trung tâm hút vốn lớn trên thế giới.
- Thứ chín là độ mở của nền kinh tế so với khu vực và thế giới. Nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư vào nước sở tại không chỉ với mục đích chiếm lĩnh thị trường này, mà còn dựa vào nước sở tại
như là một điểm tựa để xâm nhập các thị trường. Vì vậy các nhà đầu tư nước ngoài luôn tìm kiếm
những nước có cơ chế thông thoáng, tự do hoá về mậu dịch và đầu tư. Do đó, các quốc gia hiện
nay luôn hướng đến chính sách tự do hoá một cách toàn diện, hội nhập vào nền kinh tế thế giới
một cách sâu, rộng như là một chiến lược tăng sức hút với vốn ĐTTTNN.
6
- Thứ mười là sức mạnh và sự ổn định của đồng nội tệ. Nếu nhà đầu tư đi đầu tư bằng Đô la
Mỹ sau đó định giá bằng đồng nội tệ bị mất giá trị thì sẽ dẫn đến giảm giá trị vốn đầu tư cũng như
lợi nhuận khi chuyển về nước. Vì vậy, nếu đồng tiền của nước sở tại bất ổn định và dao động
nhiều thì sẽ gây rủi ro lớn cho nhà đầu tư và hạn chế dòng vốn ĐTTTNN. Ví dụ như cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ Châu á năm 1997 đã làm cho đồng tiền của các nước Châu á bị mất giá so
với đồng Đô la Mỹ, và lập tức các nhà đầu tư liên tiếp rút vốn khỏi các thị trường này, khiến cho
vốn ĐTTTNN ở Châu á giảm liên tục trong những năm 1996,1997, 1998.
- Cuối cùng là các chính sách quản lý vĩ mô của nàh nước. Yếu tố này thường ảnh hưởng
gián tiếp đến hoạt động ĐTTTNN. Ví dụ như sự can thiệp quá sâu của Nhà nước luôn tạo ra cảm
giác không an toàn cho nhà đầu tư và làm giảm mức độ cạnh tranh trên thị trường. Chủ đầu tư
nước ngoàI luôn muốn duy trì sự đIều tiết tối thiểu của Chính phủ nước sở tại đối với các công ty
tư nhân. Đồng thời, niềm tin của họ sẽ tăng lên khi chính sách quản ý vĩ mô của Nhà nước ổn định
và có thể dự báo được, vì “luật chơI không thay đổi giữa cuộc chơI”. Bên cạnh đó, một Chính phủ
trung thực và có hiệu quả, có khả năng duy trì trật tự luật pháp của nước sở tại cũng là chỗ dựa
tinh thần vững chắc cho nhà đầu tư. Vì vậy, các chính sách quản lý vĩ mô khi đưa ra cần phảI hợp
lývà tạo thuận lợi cho nhà đàu tư, bảo vệ môI trường cạnh tranh và giảm thiểu tiêu cực trong thi
hành luật pháp.
Bên cạnh những yếu tố chủ quan trên là những yếu tố thuộc môi trường bên ngoài nước sở
tại hay là những yếu tố khách quan.
2. Yếu tố khách quan:

hội. chúng ta đang sống trong giai đoạn chứng kiến những sự thây đổi nhanh chóng trong tổng thể
nên kinh tế, kĩ thuậ, công nghệ, và những biến đổi khác trong chính trị, xã hội, tất cả đem lại chi
thời đại một sắc màu riêng.
Để hội nhập với nền kinh tế thế giới, chúng ta cũng phải có những sự chuyển mình để
không bị gạt ra khỏi vòng quay của sự phát triển, trong bối cảnh đó, xu hướng mở cửa, hợp tác
kinh tế với các nước là một quan điểm nổi bật của chính phủ ta. Thể hiện điều này ngày
19/12/2987 quốc hội ta đã thông qua luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, cho phép các tổ chức, cá
nhân là người nước ngoài đâu tư vào việt nam. Qua đó đã thu hút một lượng vốn lớn thúc đẩy nên
kinh tế phát triển, tuy nhiên quá trình đó còn gặp nhiều thách thức, cần có sự nỗ lực từ hai phía.
Tính đến cuối năm 2007 cả nước có hơn 9500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng
vốn đăng kí khoảng 98 tỷ USD
Trong 3 năm 1988-1990,việt nam mới thực thi luật đầu tư trực tiếp nước ngoài nên kết quả
thu hút vốn ĐTNN còn ít (214 DA với tổng vốn dăng kí là 1,6 tỷ ) ĐTNN chưa tác động đến tìn
hình kinh tế xã hội đất nước
Trong thời kì 1991-1995 vốn ĐTNN đã tăng lên (1409 dự án với tổng vốn đăng kí là 18,3
tỷ USD) có tác đọng tích cực đến tình hình kinh tế xã hội đất nước. trong thời kì 1991-1996 là
thời kì bùng nổ ĐTNN tại việt nam với 1781 DA với tổng vốn đăng kí là 28,3 tỷ USD. Đây là giai
đoạn đàu tư kinh doanh tại việt nam bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư tự do chi phí đầu tư kinh doanh
thấp so với một số nước trong khu vực ,săn lực lượng lao động với nhân công rẻ thị truờng mới vì
vậy ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng có tác đong lan toả tới các thành phần kinh tế khác và đóng
góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội cảu đất nước
Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng kí gấp 5,5 lần năm 1991(1,2 tỷ USD ). Năm
1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng kí tăng 45% so với năm trước
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đằn kí hơn 13tỷ USD
,nhưng vốn đăng kí năm sau ít hơn năm trước,chủ yếu là các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Trong
thời gian này có nhiều dự án phải tạm dừng hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính
(đa số từ Hàn Quốc và Hồng Kông)
Từ năm 2000-2003 dòng vốn đầu tư nước ngoài vào việt nam bắt đầu phục hồi. vốn đăng
kí cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD tăng 215 so với năm 1999, năm 2001 tăng 18,2% so với
năm 2000 , năm 2002 vốn đăng kí giảm chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 tăng 6% so

16 Pháp 383 3,616,989,735 1,633,297,895
17 Vương quốc anh 161 2,671,277,101 1,593,747,066
18 Liên bang nga 93 2,071,256,462 1,766,876,481
10
19 Thuỵ sỹ 93 2,401,107,391 1,368,845,657
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư)
Trong 5 tháng đầu năm 2013 đã có 40 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt
Nam. Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,693 tỷ USD,
chiếm 43,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư
đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,359 tỷ USD, chiếm 27,7% tổng vốn đầu tư; Liên bang Nga
đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,015 tỷ USD, chiếm
11,9% tổng vốn đầu tư;
3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo các ngành kinh tế:
- Nếu so với số vốn đầu tư đăng kí thì khu vực CN chế biến, chế tạo có tỷ trọng vốn
thực hiện cao nhất (52,3%), tiếp đến là khu vực kinh doanh bất động sản 22.1% và khu vực hành
chính và dịch vụ hỗ trợ có tỷ trọng vốn thực hiện thấp nhất (0.1%)
- Nếu so với tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện trên cả nước thì
khu vực hai chiếm tỷ trọng cao nhất (68,64%) tiếp đến là khu vực 3 (24,64%) và thấp nhất là khu
vực một (6,72%)
- Đối với những nghành kinh tế cụ thể thì trật tự được sắp xếp như sau: nếu so với số
vốn đầu tư đăng kí thì công nghiệp dầu khí và tài chính ngân hàng là những nghành có tốc độ thực
hiện vốn đầu tư nhanh hơn cả ; còn các nghành khác như xây dựng khu đô thị mới, ngành giao
thông vận tải và bưu điện là những nghành có tỷ lệ vốn thực hiện so với tổng số vốn đầu tư thấp
nhất . nếu so với tổng số vốn thực hiện trong nghành công nghiệp nặng và công nghiệp dầu khí đã
chiếm tới 42,51%. Trong khi đó, tổng số vốn đầu tư đã được thực hiện trong nhóm các nghành
thuỷ sản, xây dựng đô thị mới, văn hoá, y tế, giáo dục cũng chỉ đạt 2,75%.
- Vấn đề tương đối nổi bật về lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện
trong các khu vực kinh tế là sự tồn tại một khoảng cách đáng kể (bằng 10,21 lần) giữa lượng vốn
đầu tư thực hiện trong khu vực cao nhất (khu vực hai) so với khu vực thấp nhất (khu vực một), và
khoảng cách lớn hơn nhiều (gần 44 lần) khi ta so sánh giữa nghành có vốn đầu tư nước ngoài thực

5,790 4.7%
5
SX, pp điện, khí, nước,
đ.hòa 88
7,500,878,70
5
1,688,14
6,203 3.5%
6
Thông tin và truyền
thông 853
3,954,254,59
6
2,210,96
5,758 1.8%
7 Nghệ thuật và giải trí 139
3,630,012,94
6
1,075,33
5,590 1.7%
8 Vận tải kho bui 357
3,511,180,78
1
1,072,37
2,000 1.6%
9
Nông,lâm nghiệp;thủy
sản 496
3,266,745,88
9

4
315,50
6,760 0.6%
15
HĐ chuyên môn,
KHCN 1381
1,127,529,92
4
563,10
3,167 0.5%
16 Dịch vụ khác 124
740,634,02
2
155,65
6,437 0.3%
17 Giáo dục và đào tạo 163
495,134,26
8
142,65
3,135 0.2%
18
Hành chính và dịch vụ
hỗ trợ 117
193,687,21
8
100,75
3,637 0.1%
Tổng số 14,865
216,643,263,93
9

11 Quảng Nam 79 4,984,233,719 1,229,309,806
12 Quảng Ninh 101 4,270,011,054 1,230,929,220
13 Bắc Ninh 327 4,262,608,885 900,700,765
14 Quảng Ngãi 26 3,928,108,864 659,308,987
15 Đà Nẵng 247 3,686,754,776 1,667,974,058
16 Long An 470 3,588,229,856 1,462,144,940
17 Kiên Giang 36 3,103,731,163 1,466,984,465
18 Dầu khí 50 2,768,691,815 2,401,691,815
19 Vĩnh Phúc 151 2,722,966,491 775,606,951
20 Hưng Yên 253 2,192,187,792 832,306,858
21 Thái Nguyên 33 2,164,414,337 202,541,405
22 Thừa Thiên-Huế 68 1,988,994,938 484,299,035
23 Bình Định 57 1,724,350,000 1,297,843,000
24 Bắc Giang 111 1,692,886,697 1,204,648,320
25 Tây Ninh 200 1,627,481,286 999,278,795
26 Nghệ An 33 1,546,352,134 251,896,913
27 Bình Thuận 102 1,439,509,568 394,035,900
28 Tiền Giang 52 1,145,713,528 396,889,732
29 Khánh Hòa 90 1,036,627,763 314,767,088
30 Ninh Bình 31 976,697,545 274,854,214
31 Lào Cai 34 839,162,822 265,752,357
32 Cần Thơ 60 804,361,858 724,975,364
33 Bình Phước 104 780,623,000 441,114,380
34 Cà Mau 7 780,600,000 6,500,000
13
35 Ninh Thuận 29 772,141,566 253,969,678
36 Hậu Giang 14 680,679,853 395,777,472
37 Hà Nam 59 531,467,490 174,633,165
38 Lâm Đồng 114 494,836,064 231,938,738
39 Phú Thọ 80 455,202,066 255,915,205

án
Tổng vốn đầu tư đăng ký
(USD)
Vốn điều lệ (USD)
I
Đồng bằng sông
Hồng
4,159 49,602,674,874 16,251,380,702
1 Hà Nội 2,509 21,345,142,897 7,693,008,722
2 Vĩnh Phúc 151 2,722,966,491 775,606,951
3 Bắc Ninh 327 4,262,608,885 900,700,765
4 Quảng Ninh 101 4,270,011,054 1,230,929,220
14
5 Hải Dương 279 5,421,716,056 1,625,456,490
6 Hải Phòng 374 7,356,540,879 2,481,390,413
7 Hưng Yên 253 2,192,187,792 832,306,858
8 Thái Bình 32 251,262,206 87,684,582
9 Hà Nam 59 531,467,490 174,633,165
10 Nam Định 43 272,073,579 174,809,322
11 Ninh Bình 31 976,697,545 274,854,214
II
Trung du và miền
núi phía Bắc
391 6,157,521,503 2,337,184,524
12 Hà Giang 8 13,306,886 9,313,012
13 Cao Bằng 15 43,625,000 35,200,000
14 Bắc Cạn 7 17,905,667 8,437,667
15 Tuyên Quang 9 120,816,236 24,693,840
16 Lào Cai 34 839,162,822 265,752,357
17 Yên Bái 19 99,976,995 65,769,111

15
42 Đắc Lắc 5 146,368,750 11,168,750
43 Đắc Nông 6 19,659,000 9,051,770
44 Lâm Đồng 114 494,836,064 231,938,738
V Đông Nam Bộ 8,434 98,131,981,952 34,835,970,415
45 Bình Phước 104 780,623,000 441,114,380
46 Tây Ninh 200 1,627,481,286 999,278,795
47 Bình Dương 2,274 18,482,319,607 6,604,489,740
48 Đồng Nai 1,124 18,236,844,307 7,524,029,207
49 Bà Rịa-Vũng Tàu 291 26,321,464,396 7,335,356,440
50 TP Hồ Chí Minh 4,441 32,683,249,356 11,931,701,853
VI
Đồng bằng sông
Cửu Long
791 10,904,609,280 4,958,882,453
51 Long An 470 3,588,229,856 1,462,144,940
52 Tiền Giang 52 1,145,713,528 396,889,732
53 Bến Tre 32 261,491,518 157,700,879
54 Trà Vinh 31 130,263,596 76,640,596
55 Vĩnh Long 23 113,474,240 80,664,240
56 Đồng Tháp 17 46,880,537 40,970,537
57 An Giang 21 129,590,190 60,951,817
58 Kiên Giang 36 3,103,731,163 1,466,984,465
59 Cần Thơ 60 804,361,858 724,975,364
60 Hậu Giang 14 680,679,853 395,777,472
61 Sóc Trăng 10 30,043,000 16,763,000
62 Bạc Liêu 18 89,549,941 71,919,411
63 Cà Mau 7 780,600,000 6,500,000
VI
I

USD; dự án tăng vốn mở rộng sản xuất thêm 870 triệu USD của Công ty TNHH Wintek Việt
Nam tại Bắc Giang và dự án của Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam tại Khu công
nghiệp Bắc Ninh với số vốn là 830 triệu USD; dự án Cty TNHH Sản xuất lốp xe Bridgestone VN
tại Hải Phòng với tổng vốn đầu tư 574,8 triệu USD; dự án Công ty sản xuất toàn cầu LIXIL Việt
Nam tại Đồng Nai với tổng vốn đầu tư 441 triệu USD;
Trong 5 tháng đầu năm 2013, không kể dầu khí ngoài khơi, các nhà đầu tư nước ngoài đã
đầu tư vào 44 tỉnh thành phố. Trong đó, với sự điều chỉnh tăng 2,8 tỷ USD vốn đầu tư của dự án
lọc hóa dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với 2,8 tỷ USD
vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 32,9% tổng vốn đầu tư. Thái Nguyên đứng thứ 2 với tổng
vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,033 tỷ USD, chiếm 23,9% vốn đăng ký. Bình Định đứng
thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 1,009 tỷ USD.
II. Thực trạng đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài
Lũy kế tính đến 31/12/2012 đã có 719 dự án đầu tư ra nước ngoài vào 59 quốc gia vùng
lãnh thổ với tổng vốn đầu tư được cấp phép 29,23 tỷ USD. Trong đó phần vốn của các doanh
nghiệp Việt Nam đã vượt 12 tỷ USD. Điều này khẳng định năng lực cạnh tranh và sự lớn mạnh
của các doanh nghiệp Việt Nam, thể hiện bước chuyển mới về quy mô và phương thức sản xuất từ
17
manh mún và lạc hậu sang có tính chiến lược và hiện đại sau hơn 2 thập kỷ phát triển, góp phần
đưa sản phẩm và thương hiệu Việt đến gần hơn với thị trường thế giới.
1 Tình hình chung
Nhìn lại hành trình đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, có thể chia ra làm 3
giai đoạn chủ yếu sau:
Giai đoạn 1 từ 1989-1998: nhỏ lẻ và manh mún. Trước khi có Nghị định số 22/1999/NĐ-
CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam
đã đầu tư 18 dự án ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt trên 13,6 triệu USD, quy mô bình quân
mỗi dự án đạt 0,76 triệu USD. Việc đầu tư vốn ra nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn này
chủ yếu xuất phát từ nhu cầu nội tại của doanh nghiệp. Nguyên nhân là do đầu những năm 1990,
lượng vốn FDI vào Việt Nam liên tục gia tăng, nhất là trong lĩnh vực dệt - may, nên lượng quota
xuất khẩu hàng năm không đáp ứng đủ năng lực sản xuất. Bên cạnh đó, chính sách "đóng cửa
rừng", cấm khai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng tác động đến hoạt

quan hệ đó, cũng như chế tài khi có những vi phạm từ hai phía (nhà đầu tư và cơ quan, công chức
nhà nước) nếu không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Như vậy, nhờ việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, khuôn khổ pháp lý của hoạt động đầu
tư ra nước ngoài đã dần dần được hoàn thiện hơn, đồng thời, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày
9/8/2006 quy định về đầu tư ra nước ngoài đã thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP; trong khi
thủ tục đầu tư ra nước ngoài đã được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và đơn giản tại Quyết định số
1175/2007/QĐ-BKH ngày 10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Giai đoạn 3 từ 2006 đến nay: giai đoạn bùng nổ.
Tính từ năm 2006 đến tháng 9/2012, 578 dự án được cấp phép đầu tư nước ngoài. Điểm
đến của các nhà đầu tư Việt Nam, ngoài các thị trường lân cận, quen thuộc như Lào, Campuchia,
Nga, doanh nghiệp đã đi tới cả những quốc gia vốn đang là các nhà đầu tư lớn tại Việt Nam như
Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Australia, châu Âu, châu Mỹ Latin
Tính từ ngày 9/9/2006 (tức là một ngày sau khi Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ra đời) đến
hết năm 2007 các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 100 dự án ra nước ngoài với tổng vốn đăng
ký đạt trên 816,49 triệu USD; tuy chỉ bằng 76% về số dự án, nhưng lại tăng gần gấp rưỡi về vốn
đăng ký, còn vốn bình quân/dự án cũng cao gần gấp đôi so với giai đoạn 1999 - 2005, đạt 8,16
triệu USD/dự án. Xu hướng này tiếp tục gia tăng mạnh trong năm 2008 với số vốn đăng ký đạt
hơn 3 tỷ USD cho 113 dự án cấp mới và 10 dự án tăng vốn.
Năm 2009, do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, nên kế hoạch đầu tư ban đầu có sự
điều chỉnh giảm với số vốn dự kiến vào khoảng 2,8 tỷ USD. Nhưng thực tế đã không diễn ra theo
đúng kịch bản của cơ quan dự báo khi các doanh nghiệp Việt Nam lại coi đây là cơ hội để mở
rộng thị trường và tìm kiếm địa bàn đầu tư mới. Kết quả là năm 2009, vốn đầu tư ra nước ngoài
19
của các doanh nghiệp Việt Nam đạt 7,2 tỷ USD cho 457 dự án bao gồm cả cấp mới và tăng vốn
tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, bằng 143% kế hoạch và bằng 214% so với toàn bộ quá trình
từ 1989 - 2008 xét về vốn. Đây là kết quả khả quan trong bối cảnh luồng FDI toàn cầu có sự suy
giảm mạnh dưới tác động của khủng hoảng kinh tế kéo theo sự đổ vỡ của hàng loạt công ty. Điều
này được lý giải là do hiệu ứng trễ của kinh tế Việt Nam trước những tác động của kinh tế thế
giới và khu vực, dù nền kinh tế của chúng ta có độ mở khá lớn nếu xét theo tỷ trọng thương mại.
Năm 2010, số dự án đầu tư được cấp phép tuy giảm mạnh so với năm 2009 với chỉ 107 dự

do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào 2/2009; trong đó xác định cả những lĩnh vực ưu tiên đầu
tư, cùng những giải pháp hỗ trợ tức thời nhằm giúp hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt được hiệu
quả. Đây được xem như "bệ phóng" giúp các doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn tham gia vào thị
trường đầu tư quốc tế với quy mô và tầm nhìn mang tính chiến lược. Trong đó, khác so với thời
kỳ đầu phần nào mang tính tự phát với sự tham gia của đa phần các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay
những bước thăm dò mang tính khai phá của một số doanh nghiệp tư nhân như Sacombank hay
Hoàng Anh Gia Lai, trong vòng vài ba năm trở lại đây, các tập đoàn kinh tế lớn thuộc sở hữu Nhà
nước đã trở thành những người dẫn đầu trong việc khai mở những thị trường mới ngoài biên giới
Việt Nam. Tính riêng vốn đầu tư của 5 tập đoàn là Dầu khí, Công nghiệp Than - Khoáng sản,
Công nghiệp Cao su, Viettel, Tổng công ty Sông Đà đã chiếm đến 67% lượng vốn chuyển ra bên
ngoài để đầu tư của các thành phần kinh tế.
2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác
Có 25 đối tác nước ngoài nhận đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam trong năm
2012. Campuchia, Lào và Hoa Kỳ là 3 đối tác nhận nhiều nhất số dự án đầu tư của Việt Nam (16
dự án). Nhưng xét về giá trị vốn đầu tư thì Peru mới là đối tác hàng đầu nhận thu hút vốn đầu tư
trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam với 828.110 nghìn USD, chiếm 53,54% tổng vốn đầu tư
trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài. Tiếp theo là Lào đạt 250.751 nghìn USD, chiếm 16,21%;
Campuchia với 182.636 nghìn USD, chiếm 11,81%
Bên cạnh việc đẩy mạnh và duy trì hoạt động kinh doanh tại các địa bàn truyền thống ở
Lào, Campuchia, Nga và Angiêri, các doanh nghiệp Việt Nam đã khai phá thành công một số thị
trường mới có mức độ canh tranh và yêu cầu cao về công nghệ, cũng như năng lực triển khai và
quản lý dự án tại Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan - vốn đang được coi là địa chỉ của các nhà
đầu tư hàng đầu tại Việt Nam hiện nay, hay một số nước ở Mỹ Latinh như Venezuela, Cuba, Peru
và châu Phi và Trung Đông như Mozambique, Iran, Iraq,
TỔNG HỢP ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI THEO ĐỐI TÁC
Các dự án còn hiệu lực lũy kế đến 20/3/2013
TT
Quốc gia/vùng lãnh
thổ
Số

2,368,314,09
0
966,314,09
0
4 Venezuela 2
12,434,400,00
0
1,825,120,00
0
1,241,120,00
0
5 Peru 5
2,911,829,83
0
1,276,729,83
0
772,229,83
0
6 Malaysia 9
812,622,74
0
412,923,84
4
412,923,84
4
7 Mozambique 1
493,790,00
0
345,653,00
0

1
156,448,19
2
129,855,10
5
13 Australia 15
187,994,54
0
128,658,83
5
127,877,33
5
14 Cuba 2
125,460,00
0
125,460,00
0
125,460,00
0
15 Madagascar 1
117,360,00
0
117,360,00
0
117,360,00
0
16 BritishVirginIslands 6
116,584,45
2
116,584,45

22 Uzbekistan 4
50,180,00
0
49,650,00
0 49,650,000
22
23 Tuynidi 2
36,340,00
0
36,340,00
0 36,340,000
24 Công gô 2
224,880,00
0
23,230,00
0 23,230,000
25 Đông Timor 1
14,919,29
4
14,919,29
4 500,000
26 Hồng Kông 14
15,998,87
5
14,909,75
7 14,909,757
27 Trung Quốc 12
15,071,90
0
13,075,50

7 3,130,167
34 Cayman Islands 3
4,150,00
0
2,429,90
0 2,429,900
35 Vương quốc Anh 7
2,302,10
0
2,229,47
0 2,229,470
36 Tajikistan 2
3,465,27
2
2,079,16
3 2,079,163
37 Canada 2
4,030,00
0
2,030,00
0 2,030,000
38 Pháp 5
1,877,56
8
1,877,56
8 1,877,568
39 TVQ ả rập thống nhất 4
3,160,15
4
1,860,15

999,70
0 999,700
46 Brunei 2
1,150,00
0
950,00
0 950,000
47 ấn Độ 3
23,612,72
7
860,00
0 860,000
48 Belarus 1
1,600,00
0
816,00
0 816,000
49 Cộng hòa Ghana 2
2,010,15
4
810,15
4 810,154
50 ả Rập Xeut 1
1,080,00
0
756,00
0 756,000
51 Hy Lạp 1
743,00
0

100,00
0 100,000
58 Italia 1
350,00
0 50,000 50,000
59 Mauritius 1
20,00
0 20,000 20,000
Tổng số 742
33,485,026,75
1
15,532,096,54
1
12,518,188,84
0
( Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành
Các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam (nếu xét theo giá trị vốn)
thường tập trung trước hết vào lĩnh vực công nghiệp khai khoáng hay năng lượng, trong đó có
một số dự án quy mô vốn lớn hơn 100 triệu USD, ví dụ dự án đầu tư Thủy điện Xekaman 3 tại
Lào có tổng vốn đầu tư 273 triệu USD, dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Angiêri có tổng vốn
đầu tư 243 triệu USD, hay tại Madagascar có tổng vốn đầu tư khoảng 117 triệu USD, Lĩnh vực
quan trọng thứ hai là nông - lâm - ngư nghiệp - vốn là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam,
24
hay các sản phẩm cung cấp cho nông nghiệp như phân bón, trong đó đáng kể nhất là dự án hợp
tác trị giá 600 triệu USD giữa Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) thuộc
Tập đoàn dầu khí Việt Nam với Tập đoàn Phốt phát Cherifie (Office Cherifien des Photphates -
OCP), tại Casablanca, Morocco để hình thành nhà máy sản xuất phân bón DAP và Amonia nhằm
cung cấp cho thị trường Việt Nam và khu vực. Đây được coi là dự án đầu tư ra nước ngoài lớn
nhất từ trước đến nay của Việt Nam. Ngoài ra là hàng loạt các dự án đầu tư trồng cao su, hay cây

4,649,717,8
42
2
Nông,lâm nghiệp;thủy
sản 80
2,052,822,7
66
1,953,732,0
13
1,955,091,3
95
3
SX,pp
điện,khí,nước,đ.hòa 9
2,117,875,6
78
1,873,869,1
33
1,681,222,9
38
4 Nghệ thuật và giải trí 5
1,239,215,0
00
1,239,215,0
00
1,238,500,0
00
5
Thông tin và truyền
thông 42


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status