đặt vấn đề
Vô sinh là vấn đề luôn nhận được nhiều sự quan tâm trên thế giới cũng
nh ở Việt Nam. Việc điều trị thành công cho những cặp vợ chồng vô sinh
mang ý nghĩa nhân đạo và khoa học của chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh
sản. Đặc biệt điều trị vô sinh được coi là một nội dung quan trọng trong chiến
lược dân số 2001 – 2010 của nước ta.
Từ khi ra đời đến nay, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đã đưa lại
niềm vui cho các cặp vợ chồng vô sinh. Ba mươi năm qua kỹ thuật thụ tinh
trong ống nghiệm ngày càng phát triển nhanh chóng và không ngừng hoàn
thiện. Song song với sự phát triển của kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là
các kỹ thuật liên quan đặc biệt là kích thích buồng trứng – Một khâu quan
trọng trong điều trị vô sinh. Các thuốc kích thích buồng trứng cũng như các
phác đồ kích thích buồng trứng ngày càng phát triển nhằm đưa lại kết quả cao
trong thô tinh ống nghiệm đồng thời giảm tối đa các biến chứng của kích
thích buồng trứng, nhất là biến chứng quá kích ứng buồng trứng.
Quá kích ứng buồng trứng là tình trạng đáp ứng quá mức của buồng
trứng đối với thuốc kích thích buồng trứng. Hội chứng này biểu hiện bằng
nhiều triệu chứng, đặc điểm chung là do tình trạng đa hoàng thể hoá và thoát
dịch từ lòng mạch vào khoang “thứ ba” của cơ thể [14], [22].
Tần suất gặp quá kích ứng buồng trứng có ranh giới rộng [22]. Đối với
những bệnh nhân không phóng noãn, người ta thường gặp QKƯBT với thể
lâm sàng nhẹ hơn so với những bệnh nhân có phóng noãn. QKƯBT trên bệnh
nhân điều trị clomiphen citrate hiếm gặp hơn trên bệnh nhân điều trị bằng
FSH – hCG [14][19] . Theo các thống kê từ nhiều tài liệu trên thế giới, hội
chứng quá kích ứng buồng trứng có thể gặp khoảng 30% các trường hợp sử
dụng các phác đồ kích thích buồng trứng, với mức độ từ nhẹ đến nặng. Trên
1
bệnh nhân bị QKƯBT, tỷ lệ có thai cao hơn nhưng lại hay bị sẩy thai hơn
[14].
Bệnh viện PSTƯ đã thành công trong kỹ thuật thụ tinh trong ống
nghiệm từ những năm 2000. Đặc biệt trong những năm gần đây nhờ áp dụng
phát hiện được nguyên nhân [9], [12].
1.1.2. Tình hình và nguyên nhân vô sinh
- Trên thế giới: Tuỳ từng nước, tỷ lệ vô sinh thay đổi từ 10 – 18%, đột xuất
có nước lên tới 40 %. Về nguyên nhân vô sinh theo Tổ chức Y tế thế giới năm
1985, khoảng 20% không rõ nguyên nhân, 80% có nguyên nhân trong đó vô
sinh nữ 40%,vô sinh nam 40% và vô sinh do cả hai chiếm 20% [9][12].
- Ở Việt Nam: Theo điều tra dân số quốc gia năm 1982, vô sinh chiếm
13%. Theo nghiên cứu của Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự [9] tại bệnh viện
PSTƯ trong các năm 1993 – 1997 trên 1000 tường hợp vô sinh có đầy đủ các
xét nghiệm thăm dò về độ thông đường sinh dục nữ, về phóng noãn, về tinh
3
trùng, thống kê tỷ lệ vô sinh nữ chiếm 55,4%, vô sinh nam chiếm 35,6% và
không rõ nguyên nhân 10%
1.2 SINH LÝ HIỆN TƯỢNG PHÁT TRIỂN NANG NOÃN
Sự phát triển của nang noãn gồm một chuỗi các sự kiện xảy ra một
cách có trật tự dẫn tới sự phóng noãn giữa chu kỳ, bao gồm:
- Sự chiêu mộ các nang noãn.
- Sự chọn lọc nang noãn.
- Sự vượt trội của một nang noãn.
- Sự phóng noãn.
- Sự thoái hoá của nang noãn.
Quá trình này bắt đầu từ sự phát triển của nang noãn nguyên thuỷ, qua
các giai đoạn nang noãn sơ cấp, nang noãn thứ cấp, và nang noãn trước phóng
noãn. Một chu kỳ phát triển của nang noãn kéo dài 85 ngày (khoảng 3 chu
kỳ), và thông thường chỉ có một nang trưởng thành và phóng noãn trong mỗi
chu kỳ kinh [6] [12].
1.2.1 Sự chiêu mộ các nang noãn
Mỗi chu kỳ kinh có khoảng vài trăm nang noãn nguyên thuỷ được
chiêu mộ vào nhóm nang noãn phát triển để sau khoảng 12 ngày có một nang
noãn đạt đến giai đoạn trưởng thành và phóng noãn [3][6]. Số lượng của các
- Đỉnh LH kích thích sự tiếp tục phân chia giảm phân của noãn, sự
hoàng thể hoá của các tế bào hạt, và sự tổng hợp progesterone và
prostaglandin bên trong nang.
- Progesteron làm gia tăng hoạt động của các men ly giải, cùng với
prostaglandin, tiêu hoá và làm vỡ thành nang.
5
Đỉnh FSH ở giữa chu kỳ góp phần làm chuyển plasminogen thành
plasmin, là một men ly giải và cũng đảm bảo đầy đủ thụ thể của LH trên tế
bào hạt để tạo một giai đoạn hoàng thể bình thường
1.2.5. Sự thoái hoá của nang noãn
Dihydrotestosterone đã được chứng minh ức chế hoạt động chuyển hoá
của androgen thành estradiol của nang noãn. Do đó, môi trường chứa
androgen của nang noãn chịu trách nhiệm cho sự thoái hoá của nó. Số phận
của các nang sơ cấp được định đoạt bởi sự cân bằng nồng độ androgen và
estradiol trong dịch nang, hoạt động của men chuyển hoá androgen thành
estrogen và của chính bản thân hoạt động của chuyển hoá đó.
1.3 KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG
Kích thích buồng trứng (KTBT) trong hỗ trợ sinh sản đóng một vai trò
hết sức quan trọng [16]. Mục đích của KTBT trong kỹ thuật thụ tinh trong
ống nghiệm là tăng số noãn trưởng thành. Ưu điểm của KTBT là tạo ra nhiều
noãn để từ đó có nhiều phôi; nếu chuyển nhiều hơn một phôi và nếu có Ýt
nhất một phôi làm tổ và phát triển trong buồng tử cung được thì tỷ lệ thành
công của kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tăng. Một ưu điểm khác là qua
đó thầy thuốc lâm sàng có thể kiểm soát được cả chu kỳ và các trung tâm có
thể chọn thời điểm chọc hút noãn [8], [22].
Tuy nhiên KTBT cũng có một số nhược điểm đó là noãn có thể không
hoàn toàn trưởng thành, do vậy noãn này không có chất lượng bằng noãn của
các chu kỳ tự nhiên. Các noãn KTBT có thể không ở cùng một mức độ
chín. Ngoài ra có thể xuất hiện tình trạng noãn chín đồng nhất ở mức độ
tương đối. Điều đó giải thích tỷ lệ thụ tinh của noãn tạo thành trong chu
- Không bị quá kích ứng buồng trứng [16].
1.3.3.1. Các thuốc sử dụng kích thích buồng trứng [3], [4]
- Ức chế estrogen: clomiphen citrat, tamoxifen. Các thuốc này có cấu
trúc tương tự như estrogen, ức chế cạnh tranh với các thụ thể estrogen ở vùng
dưới đồi, làm ức chế điều khiển ngược của estrogen dẫn đến tăng tiết FSH,
LH (chủ yếu FSH) làm kích thích quá trình phát triển các nang noãn.
- FSH: có tác dụng kích thích quá trình phát triển các nang noãn.
+ uFSH: HMG (75IU FSH và 75IU LH, tỷ lệ 1:1)
+ Recombinant FSH: Puregon 50 và 100 IU/lọ, Gonal f 751U/ống.
- hCG: Pregnyl, Profasi 1500 và 5000 IU, tác dụng tương tự như LH
nhưng mạnh và kéo dài hơn, có tác dụng làm chín các nang noãn trưởng thành
và gây phóng noãn.
- GnRH: tiêm GnRH theo nhịp sinh lý bình thường sẽ kích thích tuyến
yên tiết nhiều FSH, LH kích thích các nang noãn trưởng thành và phóng noãn.
+ GnRH agonist: decapeptyl, suprefact.
+ GnRH antagonist: cetrorelix, ganirelix.
1.3.3.2. Các phác đồ kích thích buồng trứng
Có nhiều phác đồ kích thích buồng trứng khác nhau, các phác đồ này
được chia làm hai nhóm chính.
(1) Nhóm không ức chế gonadotropin nội sinh:
- Sử dụng clomiphen citrat từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của vòng kinh
kết hợp với tiêm hMG hoặc FSH tái tổ hợp vào ngày thứ 4, 6 và 8;
- Hoặc sử dụng hMG hoặc FSH từ ngày thứ 2 hoặc 3 của chu kỳ.
(2) Nhóm ức chế gonadotropin nội sinh
Mục đích của phác đồ này là ức chế hiện tượng tiết gonadotropin, chế
ngự quá trình trưởng thành của noãn không bị ảnh hưởng bởi tác động sinh lý
của đỉnh LH. Để đạt được sự ức chế này, các trung tâm HTSS hiện nay đang
8
sử dụng phổ biến các chất đồng vận hormon tăng trưởng (GnRH agonits) [8],
[6], [33], [40]. Sự kết hợp GnRH với FSH được thực hiện qua 3 phác đồ:
chu kỳ sinh với GnRH đối vận tiêm từ ngày tiêm mũi FSH thứ 6 hoặc từ khi
có Ýt nhất 1 nang trứng có kích thước đạt 13-14 mm.
- Phác đồ cực ngắn
Với phác đồ này, GnRH đồng vận chỉ được sử dụng trong ngày thứ 2, 3,
4 của chu kỳ điều trị.
Tuy phác đồ ngắn và cực ngắn giảm chi phí và có thể phù hợp với những
phụ nữ lớn tuổi nhưng hiệu quả điều trị thấp hơn (do chất lượng nang noãn) rõ
rệt so với phác đồ dài. Gần đây, bên cạnh các GnRH đồng vận, GnRH đối vận
đã được bắt đầu sử dụng phối hợp với gonadotropin có thể tránh được hoàng
thể hóa sớm (premature) mà không cần ức chế tuyến yên từ đầu chu kỳ.
Buồng trứng được kích thích từ đầu chu kỳ bằng hMG hoặc FSH và GnRH
đối vận được sử dụng vào giai đoạn cuối để đề phòng đỉnh LH nội sinh.
Việc lựa chọn phác đồ khác nhau là tùy thuộc vào từng bệnh nhân cụ thể
và từng Trung tâm HTSS. Nhiều trung tâm sử dụng phác đồ dài một cách phổ
biến nhưng trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm tại Monash (Melbourne -
Australia) phác đồ ngắn lại được sử dụng như một thông lệ vì được chấp
nhận, thuận tiện và có giá thành thấp, hiệu quả cao [32].
1.4. HỘI CHỨNG QUÁ KÍCH ỨNG BUỒNG TRỨNG
1.4.1. Khái niệm
Hội chứng quá kích buồng trứng (Ovarian hyperstimulation syndrome)
được mô tả lần đầu tiên bởi Muller năm 1962 [27].
10
Về từ ngữ, để mô tả hội chứng này có tác giả dùng từ hội chứng quá kích
thích buồng trứng, quá kích buồng trứng, quá kích ứng buồng trứng, hay hội
chứng quá mẫn buồng trứng [10].
Hội chứng quá kích ứng buồng trứng (HCQKƯBT) là biến chứng do sử
dụng thuốc KTBT (kích thích nang noãn) gây ra các nang noãn phát triển,
trưởng thành và phóng noãn [27]. Hay có thể nói đây là tình trạng đáp ứng
quá mức của cơ thể với các thuốc kích thích buồng trứng trong các chu kỳ
điều trị vô sinh.
hậu quả của việc kích thích buồng trứng quá mức, buồng trứng sản xuất ra các
peptids gây tăng tính thấm thành mạch. Dịch nội mạch thoát vào khoang "thứ
ba" của cơ thể dẫn đến các rối loạn chính bao gồm: giảm thể tích nội mạch, cô
đặc máu, tắc mạch. Từ đó dẫn đến các rối loạn chức năng khác đi kèm [18],
[19], [30], [34], [38].
Hạ huyết áp và tăng nhịp tim bù trừ là dấu hiệu của hiện tượng giảm
khối lượng tuần hoàn máu. Các vấn đề tuần hoàn máu tăng lên khi dịch màng
bụng càng tập trung nhiều. Hiện tượng chèn Ðp tĩnh mạch chủ dưới gây hậu
quả là làm giảm dòng máu đi ra từ tim và nh thế ảnh hưởng đến dòng máu ra
từ thận. Khó thở do chèn Ðp của nước màng bụng lên cơ hoành [22].
Xét nghiệm thấy có cô đặc máu, thiếu khối lượng tuần hoàn, do dịch
thoát ra ngoài lòng mạch. Máu cô đặc, tăng kết dính tiểu cầu gây ra cục máu
đông trong lòng mạch. Hiện tượng tắc mạch do cục máu đông là biến chứng
nặng thường dẫn đến tử vong [19].
Giảm khối lượng tuần hoàn dẫn đến thiếu máu vào thận do tăng hút
muối và nước trở lại tại các ống thận gần. Trong thời kỳ "hoạt động" của quá
12
mẫn, nước và muối được hút trở lại nhanh chóng đi vào khoang thứ 3, bệnh
nhân bị giảm khối lượng tuần hoàn và dịch cổ trướng càng tăng. Hiện tượng
giảm khối lượng tuần hoàn càng kéo dài có thể gây ra co mạch của các vi
mạch đến và như vậy gây ra suy thận cấp vì tưới máu vào nhu mô thận giảm.
Triệu chứng báo hiệu của suy thận là đái Ýt, mất thăng bằng điện giải, tăng
creatinin. Tiến triển của quá trình này là vô niệu, tăng kali và ure máu [29].
Thay đổi trong tế bào gan và ứ mật trong quá trình buồng trứng là do
nhiều yếu tố, trong đó nồng độ estrogen cao và tăng thẩm thấu thành mạch.
Tại phổi có hiện tượng ứ nước màng phổi cùng với co mạch và tăng thẩm
thấu thành mạch. Trong trường hợp nặng có thể khó thở và ngừng tim [22].
1.4.3. Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
HCQKƯBT có thể có bao gồm các triệu chứng sau, tuỳ theo mức độ
nhẹ hay nặng [14], [17], [29], [40].
kỳ KTBT.
Các triệu chứng thường gặp bao gồm:
- Đau vùng chậu
- Tăng cân Ýt ≤ 3kg, khát nước
- Kích thước buồng trứng (trên siêu âm) thường nhỏ hơn 5cm
- Nồng độ E2 trong máu tăng. Khi E2 tăng nhanh là một báo
động diễn biến sẽ tăng lên.
Mức độ trung bình - độ II
Xuất hiện từ 1-7% các chu kỳ kích thích, triệu chứng bao gồm:
14
- Đau vùng chậu
- Bụng căng, Ên không đau hay đau Ýt.
- Cổ trướng phát hiện trên siêu âm.
- Thường có tăng cân nhanh (> 3kg)
- Kích thước buồng trứng đo được trên siêu âm thường ≥ 5cm -<
12cm khi khám bệnh nhân có thể thấy đau nhiều.
- Có thể có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa nh: đau bụng, nôn, tiêu
chảy… những trường hợp này thường sẽ nặng lên.
Mức độ nặng - độ III
Xuất hiện từ 1-4,7% các chu kỳ kích thích buồng trứng. Các triệu
chứng có thể gặp:
- Buồng trứng rất to khi quan sát trên siêu âm, kích thước > 12cm
- Hầu hết bệnh nhân có cổ trướng. Trường hợp cổ trướng nhiều làm
bụng căng to và bệnh nhân có triệu chứng khó thở. Khó thở có thể
do tràn dịch màng phổi, màng tim. Trường hợp nặng có thể khó thở
nhiều và có chèn Ðp tim, nguy hiểm đến tính mạng.
- Đo vòng bụng thấy tăng lên dần.
- Tình trạng giảm thể tích nội mạch và cô đặc máu có thể nặng, dẫn
đến vô niệu, choáng. Hematocrit tăng rất cao, có thể đến 50-55%.
Tình trạng rối loạn nước, điện giải cũng thường gặp.
trọng, huyết khối hay do chèn Ðp tim.
- Vô niệu, suy thận cấp do giảm lưu lượng máu đến thận.
- Rối loạn chức năng gan, suy gan có thể xảy ra ở những trường hợp
nặng hơn.
- Huyết khối có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào, thường là nặng.
- Phù phổi kẽ
- Tử vong: Chủ yếu là do tai biến tim mạch gây nên.
1.4.6. Các yếu tố liên quan đến sự xuất hiện HCQKƯBT
16
Có nhiều yếu tố liên quan đến sự xuất hiện HCQKƯBT khi sử dụng
thuốc KTBT. Đó là các yếu tố có sẵn từ trước (tuổi, thể trạng, loại và thời
gian vô sinh, có hộ chứng buồng trứng đa nang, tiền sử đã có KTBT đặc biệt
đã bị QKƯBT), hoặc xuất hiện ngay trong chu kỳ KTBT lần này (phác đồ
KTBT và liều FSH đã dùng, nồng độ E2 ngày tiêm hCG (> 4000 pg/ml), số
lượng nang noãn (> 35) ngày chọc hút, số lượng noãn chọc hút được, số phôi
chuyển, tình trạng có thai và việc sử dụng hCG hỗ trợ giai đoạn hoàng thể.
Dehan Chen và cộng sự [28] nghiên cứu tại trung tâm sức khoẻ sinh sản và vô
sinh (New York, Hoa Kỳ) cho rằng các yếu tố nguy cơ báo trước QKƯBT
bao gồm bệnh buồng trứng đa nang, tuổi trẻ, tiền sử có QKƯBT và cân nặng
thấp (low body weight).
* Tuổi: những bệnh nhân trẻ tuổi thường đáp ứng tốt với các phác đồ
KTBT, sè nang noãn thường nhiều. Do vậy kéo theo tình trạng đa hoàng thể,
nguy cơ quá kích tăng lên. Tác giả Bùi Văn Êm [1] nghiên cứu 113 ca
QKƯBT gặp 103 ca (91,2%) ≤ 35 tuổi, chỉ có 10 ca > 35 tuổi (8,8%).
* Thể trạng của bệnh nhân - được đánh giá qua chỉ số khối cơ thể (BMI
- Mass Body Index): theo tác giả P.G. Crosignani [26] thuộc trường đại học
Milan, Italy hoặc Nguyễn Thị Ngọc Phượng [14] thì một trong những yếu tố
nguy cơ của HCQKƯBT là suy nhược thể chất (Asthenic habitus). Nhưng
một số nghiên cứu khác lại chưa tìm thấy mối liên quan rõ rệt giữa cân nặng
và nguy cơ QKƯBT [19].
hạt hoạt động làm nồng độ estrogen định lượng được tác động trực tiếp đến
18
đáp ứng của nang noãn buồng trứng. Nồng độ estrogen có thể dùng tiên lượng
kết quả của TTTON. Đường biểu diễn estrogen có giá trị để đánh giá khi có
dạng đường cong tăng dần. Nếu estrogen hạ thấp đột ngột biểu thị có ý nghĩa
là các nang noãn bắt đầu thoái hóa. Hoặc ngược lại sự tăng nhanh đột ngột
estrogen có thể dự báo QKƯBT. Cách xử lý trong trường hợp này có thể giảm
liều, hoặc ngừng điều trị bằng FSH, hoặc không có hCG nữa tùy mức độ đe
dọa QKƯBT [22].
Tác giả P.G. Crosignani [44] cũng như tác giả khác [23], [35] đều cho
rằng khi nồng độ E2 ngày tiêm hCG > 4000 pg/ml hay sè nang noãn phát hiện
qua siêu âm trước khi chọc hút > 20 là nguy cơ rõ rệt của QKƯBT.
* Có thai sau KTBT và sử dụng hCG hỗ trợ giai đoạn hoàng thể: sau
khi chuyển phôi nếu thai làm tổ và phát triển thì sẽ tăng sản xuất hCG do rau
thai bài tiết. Đặc biệt khi dùng hCG để hỗ trợ pha hoàng thể thì QKƯBT dễ
chuyển sang hình thái nặng hơn [35].
1.4.7. Điều trị hội chứng QKƯBT
Theo các tác giả B.C. Tarlatzis và G. Grimbizis [41] điều trị bệnh nhân
QKƯBT là điều trị triệu chứng bởi nguyên nhân bệnh sinh chưa rõ ràng. Các ca
bệnh nhẹ có thể theo dõi tại nhà, trường hợp trung bình, nặng cần được nhập
viện để điều trị tránh các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân.
Trong trường hợp bệnh nhân bắt đầu cảm thấy đau bụng nhiều, buồn
nôn, không ăn được hoặc nôn nhiều, tiêu chảy, đái Ýt thì cần được nhập viện
để theo dõi và điều trị. Chế độ điều trị tại bệnh viện được áp dụng cho bệnh
nhân QKƯBT độ II và độ III. Điều trị nội khoa là chính, chỉ can thiệp phẫu
thuật khi thật cần thiết [19].
* Điều trị nội khoa:
19
Nếu không có thai, QKƯBT sẽ rút đi nhanh chóng và sau 10-12 ngày.
Nếu có thai thì hiện tượng quá kích ứng buồng trứng sẽ tiến triển nặng lên và
nếu có nguy cơ QKƯBT hay E2 quá cao [14], [18], [23].
1.4.9. Những nghiên cứu về hội chứng QKƯBT trên thế giới và tại Việt Nam.
* Trên thế giới: Các trung tâm điều trị vô sinh hầu như đều ghi nhận
hiện tượng QKƯBT trên những bệnh nhân sử dụng thuốc KTBT. Theo y văn
bệnh nhân QKƯBT đầu tiên được Muller mô tả năm 1962 [27].
Tác giả B. Danninger và W. Feichtingẻ [28] đã nghiên cứu một nhóm
699 bệnh nhân sử dụng thuốc KTBT theo 2 phác đồ: 589 người dùng phác đồ
elomiphen citrat/ HMG (nhóm 1) và 111 người dùng GnRH - a HMG/ FSH
(nhóm 2). Kết quả nghiên cứu cho thấy có 147 bệnh nhân bị QKƯBT (thể
nhẹ: 18,7%; thể trung bình: 1,3%; thể nặng: 1%). Tỷ lệ QKƯBT ở nhóm 1
thấp hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê (p < 0,050). Sè nang noãn và số noãn
trung bình cũng cao hơn ở nhóm 2.
A.P.Ferraretti và cộng sự [29] nghiên cứu trên 3124 chu kỳ KTBT tại
Italy gặp 20 ca bị QKƯBT thể nặng (chiếm 1,6%0. Trong số này có 7 trường
hợp không có thai, 13 trường hợp có thai, bệnh nhân khỏi bệnh hoàn toàn,
không để lại di chứng.
* Tại Việt Nam:
- Nguyễn Thị Xiêm [21] trong 20 năm (1971 - 1990) đã điều trị HMG -
hCG cho 160 bệnh nhân với 242 chu kỳ, đã gặp 6 trường hợp QKƯBT thể
nặng, chiếm 2,48% tổng số chu kỳ. Điều trị nội khoa là chủ yếu, có một
21
trường hợp phải chọc hút dịch cổ trướng. Sau điều trị có 2 bệnh nhân không
có thai, 2 bệnh nhân bị sẩy thai, 1 ca đẻ thường đủ tháng.
- Cao Ngọc Thành (1992) [15] điều trị KTBT cho 82 bệnh nhân bằng
HMG - hCG gặp 8 ca QKƯBT (tỷ lệ là 9,7%). Trong đó có 5 trường hợp
QKƯBT thể nhẹ và thể trung bình, 3 trường hợp thể nặng.
- Tác giả Bùi Văn Êm [1] nghiên cứu 113 trường hợp QKƯBT trong 6
năm (1999 - 5/2006) đưa ra nhận xét: QKƯBT là biến chứng nặng nhất trong
sử dụng thuốc KTBT và tỷ lệ bệnh có xu hướng tăng nhanh. Về phân loại,
trong sè 113 trường hợp này có 9 ca độ II (7,97%), 104 ca độ III (92,03%).
Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu phân tích để
đánh giá các yếu tố liên quan đến HCQKƯBT.
23
2.3.3 Chọn mẫu
Nhóm nghiên cứu (QKƯBT): Chúng tôi áp dụng phương pháp chon mẫu
không xác suất, lấy mẫu thuận tiện [2]. Chẩn đoán và phân loại bệnh dựa
vào tiêu chuẩn sau[14].
+ Mức độ nhẹ - độ I
- Đau vùng chậu
- Tăng cân Ýt ≤ 3kg, khát nước
- Kích thước buồng trứng (trên siêu âm) thường nhỏ hơn 5cm
- Nồng độ E2 trong máu tăng.
+ Mức độ trung bình - độ II
- Đau vùng chậu
- Bụng căng, Ên không đau hay đau Ýt.
- Cổ trướng phát hiện trên siêu âm.
- Thường có tăng cân nhanh (> 3kg)
- Kích thước buồng trứng đo được trên siêu âm thường ≥
5cm -< 12cm khi khám bệnh nhân có thể thấy đau nhiều.
- Có thể có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa nh: đau bụng,
nôn, tiêu chảy…
+ Mức độ nặng - độ III
- Buồng trứng rất to khi quan sát trên siêu âm, kích thước >
12cm
- Hầu hết bệnh nhân có cổ trướng. Trường hợp hợp cổ
trướng nhiều làm bụng căng to và bệnh nhân có triệu chứng khó
24
thở. Khó thở có thể do tràn dịch màng phổi, màng tim. Trường
hợp nặng có thể khó thở nhiều và có chèn Ðp tim, nguy hiểm đến
tính mạng.