Khảo sát cách sử dụng kháng sinh dùng đường tiêm ở bệnh viện phụ sản TW - Pdf 29



BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ VÂN AN KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH DÙNG ĐƯỜNG TIÊM Ở
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI – 2013 BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ VÂN AN
KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH DÙNG ĐƯỜNG TIÊM Ở

kiện cho tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.

Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
NGUYỄN THỊ VÂN AN
MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1. TỔNG QUAN 2
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC ĐƯỜNG TIÊM VÀ TRUYỀN KHÁNG SINH 2
1.1.1. Tiêm bắp 2
1.1.2. Tiêm tĩnh mạch 3
1.1.3. Truyền tĩnh mạch 3
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý TRONG THỰC HÀNH TIÊM TRUYỀN 5
1.2.1. Nguy cơ gặp tương kị 5
1.2.2. Thể tích gia tăng 6
1.2.3. Tốc độ tiêm truyền 6
1.2.4. Hiện tượng quá tải dịch 7
1.3. SAI SÓT LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC TRONG THỰC HÀNH TIÊM
TRUYỀN KHÁNG SINH 7
1.3.1. Sai sót liên quan đến thuốc 7
4.2. Về việc lựa chọn dung môi và thể tích dung môi 31
4.3. Về tốc độ tiêm, truyền trong thực hiện kháng sinh tiêm. 34
4.4. Nguy cơ gặp tương kị khi sử dụng các thuốc 35
4.5. Hạn chế của nghiên cứu 36
KẾT LUẬN ĐỀ XUẤT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3. 1: Đặc điểm về tuổi và chẩn đoán của bệnh nhân trong nghiên cứu 16
Bảng 3. 2: Đặc điểm lựa chọn đường dùng của các kháng sinh 18
Bảng 3. 3: Lựa chọn dung môi pha loãng kháng sinh dùng đường truyền tĩnh mạch
19
Bảng 3. 4: So sánh thể tích dung môi và tốc độ truyền trong chỉ định với khuyến cáo
20
Bảng 3. 5: Các trường hợp trong chỉ định có nguy cơ xảy ra tương kị 21
Bảng 3. 6: Một số vấn đề cần lưu ý trong chỉ định kháng sinh truyền tĩnh mạch 21
Bảng 3. 7: Thông tin về dung môi của các kháng sinh chỉ định tiêm tĩnh mạch trong
phiếu theo dõi của điều dưỡng 22
Bảng 3. 8: Một số vấn đề cần lưu ý về thông tin trên phiếu theo dõi của điều dưỡng
trường hợp truyền tĩnh mạch kháng sinh 23
Bảng 3. 9: Các sai sót trên phiếu theo dõi của điều dưỡng của mỗi kháng sinh truyền
tĩnh mạch 24
Bảng 3. 10: Các trường hợp lựa chọn sai đường dùng trong phiếu khảo sát kiến thức
của điều dưỡng 25

hưởng đến hiệu quả điều trị và an toàn của bệnh nhân.
Kháng sinh là một trong những nhóm thuốc được dùng phổ biến nhất tại bệnh
viện. Một nghiên cứu về tình trạng sử dụng kháng sinh tại các bệnh viện ở Việt
Nam cho thấy tỷ lệ kháng sinh sử dụng trong sản phụ khoa là 84,3%[29]. Trong
điều trị nội trú, kháng sinh được sử dụng chủ yếu qua đường tiêm và truyền. Trong
các nghiên cứu về sai sót liên quan đến thuốc, tỷ lệ sai sót trong thực hành lâm sàng
có liên quan đến kháng sinh trong các nghiên cứu dao động từ 5%[8] đến 67%[31].
Mặc dù có sự khác biệt do đặc điểm sử dụng thuốc khác nhau giữa các nghiên cứu
nhưng kết quả đều cho thấy kháng sinh là nhóm thuốc có rất nhiều nguy cơ sai sót
trong thực hành.
Tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, kháng sinh dùng đường tiêm được dùng
khá phổ biến. Tại thời điểm khảo sát bệnh viện chưa có một hướng dẫn cụ thể thống
nhất về cách thực hiện thuốc, đặc biệt các kháng sinh dùng đường tiêm. Kháng sinh
đường tiêm đang được sử dụng như thế nào là một câu hỏi được đặt ra cho đơn vị
thông tin thuốc của khoa Dược Bệnh viện. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:“Khảo sát cách sử dụng kháng sinh dùng đường tiêm ở bệnh
viện Phụ sản Trung Ương”. Với mục tiêu:
1. Khảo sát về cách sử dụng các kháng sinh dùng đường tiêm trên bệnh án của
bệnh nhân tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương.
2. Khảo sát kiến thức của điều dưỡng về cách sử dụng kháng sinh tiêm ở bệnh
viện Phụ sản Trung Ương.
2 PHẦN 1. TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC ĐƯỜNG TIÊM VÀ TRUYỀN KHÁNG SINH
Đường tiêm là đường dùng quan trọng trong thực hành thuốc tại bệnh viện và
ngày càng gia tăng về tỷ lệ sử dụng. So với đường dùng khác, đường tiêm có ưu
điểm: hiệu quả điều trị nhanh, dễ kiểm soát liều và duy trì tốt nồng độ thuốc trong
máu nhờ đó có hiệu quả điều trị liên tục, thích hợp trong những trường hợp thuốc

sử dụng trong trường hợp các thuốc gây kích ứng mô dưới da[15].
1.1.2. Tiêm tĩnh mạch
Tiêm tĩnh mạch là cách đưa thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch với thể tích dung
dịch nhỏ, trong khoảng thời gian ngắn. Thuốc có thể được tiêm trực tiếp vào tĩnh
mạch hoặc bơm qua dây truyền hoặc qua ống thông trên chạc truyền[15, 20].
Thể tích dung môi pha tiêm tĩnh mạch thường là 5ml hoặc nhỏ hơn. Tuy
nhiên, thể tích dung dịch cần dùng có thể lớn hơn nếu thuốc có độ tan kém, có khả
năng gây kích ứng niêm mạc hoặc được khuyến cáo tiêm chậm[15]. Theo một số tài
liệu, thể tích dung môi khuyến cáo thường từ 10ml trở lên và không quá 25ml[20].
Thời gian tiêm tĩnh mạch theo khuyến cáo thường dưới 5 phút[15, 30], tuy nhiên
một số thuốc có thể yêu cầu thời gian tiêm dài hơn. Ví dụ ampicilin, sulbactam
thường được khuyến cáo thời gian truyền từ 10 – 15 phút [15, 20].
Sau khi tiêm tĩnh mạch, thuốc nhanh chóng đạt được nồng độ cao trong máu.
Vì vậy tiêm tĩnh mạch thường được sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp, thời
gian dùng hạn chế (ví dụ: trước phẫu thuật), cần nồng độ thuốc cao trong máu hoặc
các trường hợp bệnh nhân phải hạn chế dịch[15].
1.1.3. Truyền tĩnh mạch
Truyền tĩnh mạch là cách đưa thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch với thể tích dung
dịch lớn và trong thời gian dài hơn đường tiêm tĩnh mạch. Quá trình truyền tĩnh
mạch có thể được thực hiện bằng cách cắm trực tiếp kim truyền với đường tĩnh
mạch hoặc được sử dụng thông qua chạc ba (Y-site). Có 2 loại đường truyền tĩnh
mạch là truyền tĩnh mạch ngắt quãng và truyền tĩnh mạch liên tục.
4

Truyền tĩnh mạch ngắt quãng: là truyền thuốc vào tĩnh mạch trong khoảng
thời gian từ 20 phút cho đến vài giờ. Truyền tĩnh mạch có thể dùng liều đơn hoặc
dùng lặp lại nhiều lần[15], nhằm đảm bảo duy trì nồng độ đỉnh và đáy trong khoảng
tối ưu[20]. Đây là đường dùng thích hợp cho các trường hợp đòi hỏi tốc độ đưa
thuốc vào cơ thể chậm mà khó thực hiện bằng đường tiêm tĩnh mạch. Tuy nhiên,
nếu sử dụng nhiều liều có thể dẫn tới quả tải dịch truyền[15]. Thể tích dịch truyền

Xác định số giọt/ml là phụ thuộc vào loại dây truyền sử dụng. Có nhiều loại
dây truyền với bầu đếm giọt khác nhau : 15 giọt; 20 giọt, 30 giọt hoặc 60 giọt [2].
Trong kê đơn, nếu chỉ định tốc độ theo đơn vị số giọt/ phút cần chỉ rõ sử dụng
trên loại dây truyền nào. Tốt nhất để tránh nhầm lẫn, tốc độ nên được kê đơn theo
số ml/ giờ [20].
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý TRONG THỰC HÀNH TIÊM TRUYỀN
1.2.1. Nguy cơ gặp tương kị
Tương kị là những tương tác hóa học hoặc vật lý không mong muốn có thể
xảy ra giữa thuốc và dung môi hoặc giữa các thuốc với nhau. Tương kị có thể xuất
hiện khi các thuốc được trộn cùng trong 1 bơm tiêm, trong cùng một dung dịch
truyền tĩnh mạch hoặc khi hai thuốc được dùng cùng một đường truyền[20]. Tương
kị xảy ra có thể làm giảm hoặc mất hiệu lực, tăng độc tính hoặc tác dụng có hại
khác của thuốc[1].
Số thuốc bệnh nhân phải sử dụng tăng lên đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ
tương kị giữa các thuốc, đặc biệt ở những trường hợp bệnh nhân được chỉ định
nhiều thuốc truyền tĩnh mạch cùng thời điểm, hoặc tiêm tĩnh mạch trực tiếp qua ống
thông trên đường truyền có sẵn. Để tránh bất kỳ vấn đề tương kị nào có thể xảy ra
cần đảm bảo luôn tráng dây truyền giữa 2 lần đưa 2 thuốc khác nhau qua đường
truyền bằng dung môi tương hợp với cả hai thuốc. Dung môi thường dùng là NaCl
0,9% hoặc glucose 5%. Để tráng ống thông cần 5 – 10 ml dung môi, để tráng dây
Thể tích dung dịch truyền (ml)
Thời gian truyền (phút)
× số giọt/1ml = số giọt/phút
6

truyền cần 20 ml dung môi[15]. Các trường hợp tiêm tĩnh mạch qua ống thông cũng
phải được tráng sạch kim luồn trước và sau khi sử dụng bằng 2 – 5 ml dịch tráng.

Các dấu hiệu nhận biết tình trạng sốc gồm: đau đầu, hôn mê, đỏ bừng mặt, tức
ngực, co giật, ngừng tim[20].
1.2.4. Hiện tượng quá tải dịch
Quá tải dịch có thể xảy ra trong các trường hợp truyền tĩnh mạch ngắt quãng
nhiều lần hoặc truyền liên tục với khối lượng dịch quá lớn [15]. Nguyên nhân quá
tải dịch thường do số lượng dịch lớn với tốc độ truyền quá nhanh làm tăng đột ngột
thể tích tuần hoàn[2, 20].
Khi có hiện tượng quá tải dịch, bệnh nhân có thể gặp các dấu hiệu của suy tim,
tăng huyết áp, phổi có ran, tĩnh mạch cổ nổi và khó thở[20].
1.3. SAI SÓT LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC TRONG THỰC HÀNH TIÊM
TRUYỀN KHÁNG SINH
1.3.1. Sai sót liên quan đến thuốc
Sai sót liên quan đến thuốc (medication erorrs) theo nghĩa rộng được định
nghĩa là bất kì sai sót nào xảy ra trong quá trình kê đơn, cấp phát, sử dụng thuốc, bất
kể sai sót đó có dẫn đến hậu quả bất lợi hay không[21]. Một trong những khó khăn
của việc nghiên cứu sai sót thuốc là sự khác nhau về định nghĩa, phương pháp
nghiên cứu, phân loại sai sót của các nghiên cứu. Chính vì vậy, tỷ lệ và mức độ ảnh
hưởng của các sai sót thuốc giữa các nghiên cứu có sự khác nhau [32].
Trong báo cáo năm 2004 của “Cơ quan an toàn bệnh nhân quốc gia” của Anh
(National Patient Safety Agency Report 2004 (UK)) và báo cáo năm 2000 của Viện
Y Khoa Hoa Kỳ (Institute of Medicine - IOM) có nhấn mạnh rằng sai sót trong y
khoa là nguyên nhân của tỷ lệ lớn các ca tử vong mỗi năm. Trong đó, các sai sót
liên quan đến thuốc là nguyên nhân duy nhất có thể phòng ngừa. Các báo cáo này
cũng chỉ ra rằng phần lớn các sai sót không liên quan đến hành vi thiếu cẩn trọng
trong chăm sóc sức khỏe, nhưng lại có liên quan đến tốc độ và sự phức tạp của các
chu trình thực hiện thuốc [32].
8

Trong một nghiên cứu hồi cứu về tỷ lệ tử vong liên quan đến sai sót thuốc, tỷ
lệ tử vong liên quan đến thuốc tiêm chiếm tỷ lệ cao 49,9%, tỷ lệ tử vong liên quan

Trong một nghiên cứu về tỷ lệ sai sót do kê đơn trên bệnh nhân ngoại trú,
kháng sinh là nhóm thuốc có tỷ lệ liên quan đến các sai sót trong kê đơn cao nhất
31,22%. Tỷ lệ sai sót trong kê đơn có nguy cơ gây tác dụng bất lợi liên quan đến
kháng sinh là 11,18%[14].
Một tổng quan hệ thống của 65 nghiên cứu có đánh giá tỷ lệ và bản chất của
các sai sót trên nhóm bệnh nhân nôi trú đã chỉ ra các sai sót trong kê đơn xuất hiện
và gây ảnh hưởng 7% (2-14%) trên tổng số đơn kê, 52 (8-227) sai sót trên 100
trường hợp nhập viện, và 24 (6-212) sai sót trên 1000 ngày bệnh nhân nằm viện.
Nhóm thuốc kháng sinh là nhóm dễ xảy ra sai sót nhất, và phổ biến hơn ở người lớn
(trung vị là 18% trên tổng số đơn, 10 nghiên cứu) so với trẻ em (trung vị là 4% trên
tổng số đơn, 6 nghiên cứu). Đồng thời, nghiên cứu đưa ra một định nghĩa cụ thể: sai
sót trong kê đơn là sự lựa chọn thuốc không chính xác so với các hướng dẫn, chống
chỉ định, các yếu tố dị ứng đã biết, các thuốc hiện đang sử dụng và các yếu tố khác.
Đó là các sai sót về: liều dùng, dạng bào chế, số lượng, đường dùng, hướng dẫn sử
dụng của thuốc trong đơn hay thẩm quyền kê đơn của bác sĩ, không đọc được đơn
dẫn đến sử dụng sai trên bệnh nhân, sử dụng các thuật ngữ không chuẩn hoặc các
chữ viết tắt [19].
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện của các sai sót trong kê đơn như:
thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức, chưa nhận thức rõ vai trò của việc kê đơn, môi
trường làm việc, khối lượng công việc cao…[32].
Các sai sót trong kê đơn nếu không được phát hiện có thể gây ra các sai sót
trong thực hành. Tuy nhiên, dược sĩ và y tá có thể tham gia phát hiện tới 70% các
sai sót thuốc trong đơn thuốc [18].
1.3.1.2. Sai sót trong giai đoạn cấp phát thuốc
Sai sót trong giai đoạn cấp phát thuốc có thể xảy ra trong bất cứ giai đoạn nào
kể từ lúc tiếp nhận đơn thuốc cho tới khi thuốc được đưa đến bệnh nhân, tỷ lệ xuất
hiện là 1 – 24 % và thường bao gồm các sai sót do lựa chọn sai sản phẩm thuốc hay
10

sai hàm lượng hoặc dạng bào chế [32]. Điều này thường xảy ra do các thuốc có tên

thức về các nguy cơ hay nhân viên y tế thiếu kiến thức, thiết bị sử dụng phức tạp
cũng là một trong các nguyên nhân [32]. Vấn đề kinh nghiệm của điều dưỡng cũng
được đề cập trong kết quả của một số nghiên cứu. Khi số năm kinh nghiệm của điều
dưỡng tăng dần đến 6 năm có sự giảm đáng kể tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của
các sai sót mà họ mắc phải. Tuy nhiên, khi số năm kinh nghiệm tăng trên 6 năm thì
có thể không có sự liên quan này nữa. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có mục
tiêu đào tạo cụ thể cho các điều dưỡng viên còn thiếu kinh nghiệm [31]. Các yếu tố
khác cũng góp phần làm gia tăng sự xuất hiện của các sai sót trong thực hành, bao
gồm: lưu trữ các chế phẩm tương tự, gần giống nhau trong cùng khu vực trên xe
thuốc, thất bại trong kiểm tra các thông tin của bệnh nhân trước khi sử dụng thuốc,
các yếu tố môi trường tiềm ẩn như: áp lực công việc, thiếu ánh sáng [13].
1.3.2. Một số sai sót thường gặp trong quá trình thực hiện kháng sinh đường
tiêm
Trong một nghiên cứu quan sát các sai sót khi thực hiện thuốc đường tĩnh
mạch tại 3 bệnh viện ở Anh và Đức, tỷ lệ các sai sót quan sát được giai đoạn chuẩn
bị thuốc là 26%, giai đoạn sử dụng thuốc là 34%. Trong đó sai tốc độ tiêm truyền,
sai liều và các lỗi do thiếu sót trong thực hành chiếm tỷ lệ lớn nhất. Sai sót tốc độ
tiêm, truyền chiếm tỷ lệ từ 22% đến 49%, trong đó 88% là các sai sót do tiêm thuốc
nhanh hơn tốc độ được khuyến cáo. Một số điều dưỡng thường tiêm thuốc nhanh,
số khác tiêm chậm từ từ tuy nhiên tốc độ vẫn chưa phù hợp với khuyến cáo. Tương
kị xảy ra ở 10% liều dùng và thường ở các thuốc được dùng cùng thời điểm hoặc
được đưa qua dây truyền truyền[33].
Trong một nghiên cứu khác, sai sót trong pha trộn, sai thể tích dung môi, sai
tốc độ tiêm truyền và tương kị được xác định là 4 sai sót chính chiếm 91,7% các sai
sót trên lâm sàng. Tỷ lệ nhỏ còn lại là những sai sót về tần suất sử dụng, đường
dùng và thuốc[31].
Trong một nghiên cứu về bước chuẩn bị và thực hiện đường tiêm khác, sai sót
phổ biến nhất là sai tốc độ tiêm truyền, chiếm tới 73,3% [31] hoặc 85,1% [22] và
thường gặp ở một số thuốc như: cefuroxim, Augmentin (amoxicilin + acid
12

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh án của bệnh nhân có sử dụng kháng sinh
đường tiêm tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong thời gian từ tháng 7/2012 đến
tháng 10/2012.
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
2.1.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả hồi cứu cắt ngang.
2.1.2.2. Phương pháp lấy mẫu
 Phương pháp lấy mấu: lấy mẫu thuận tiện.
Các bệnh án được lưu trữ ở phòng hồ sơ bệnh án và phân loại theo mã bệnh.
Chúng tôi chọn bệnh án trong 5 nhóm bệnh có số lượng bệnh nhân lớn là: tạp
bệnh, chửa ngoài tử cung, mổ đẻ, u xơ tử cung, u nang buồng trứng.
Tổng số bệnh án được đưa vào nghiên cứu là 263 bệnh án.
 Phương pháp thu thập thông tin
Thông tin được thu thập từ bệnh án được ghi lại trong phiếu thu thập thông
tin bệnh án. Thông tin được lấy từ chỉ định của bác sĩ và phiếu theo dõi của điều
dưỡng. Các chỉ định của kháng sinh tiêm được ghi lại theo từng lượt chỉ định trên
mỗi bệnh nhân. 1 lượt chỉ định kháng sinh là 1 đợt 1 kháng sinh được dùng ở 1 mức
liều trên 1 đường dùng. Mỗi sự thay đổi về liều dùng hoặc đường dùng của một
kháng sinh thì được tính là 1 lượt chỉ định mới.
2.1.2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu
 Mô tả đặc điểm của bệnh nhân về tuổi và chẩn đoán.
 Mô tả đặc điểm việc thực hiện kháng sinh đường tiêm theo chỉ định của bác sĩ.
- Tỷ lệ của các kháng sinh dùng đường tiêm được chỉ định.
14

- Tỷ lệ các kháng sinh được chỉ định theo đường tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch và
truyền tĩnh mạch.
- Tỷ lệ các loại dung môi được chỉ định để hòa tan và pha loãng kháng sinh
đường tiêm.

thức cơ bản khi sử dụng đồng thời các thuốc có cùng đường dùng, 8 phiếu hỏi về
đặc điểm sử dụng của từng các kháng sinh.
Thông tin được khảo sát ở mỗi khoa trong 1 ngày. Tất cả điều dưỡng có mặt
tại khoa trong ngày khảo sát sẽ nhận được bộ câu hỏi ngẫu nhiên. Quá trình phát
phiếu, trả lời và thu lại phiếu được diễn ra trong cùng 1 ngày.
2.2.2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu
 Tỷ lệ lựa chọn đường dùng kháng sinh không phù hợp với khuyến cáo.
 Tỷ lệ lựa chọn sai dung môi đối với các thuốc được khuyến cáo dùng đường
tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch và truyền tĩnh mạch.
 Tỷ lệ lựa chọn thời gian tiêm và truyền phù hợp và không phù hợp khuyến cáo.
 Tỷ lệ lựa chọn cách thức tiêm và truyền trong trường hợp 2 thuốc được chỉ định
cùng đường dùng (tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch hoặc truyền tĩnh mạch) cùng thời điểm.
2.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được nhập vào phần mềm SPSS 16.0.
Làm sạch số liệu: số liệu được làm sạch bằng phương pháp thống kê mô tả.
Khi phát hiện sai sót thì kiểm tra lại thông tin trong bộ số liệu và sửa lại thông tin
trong phần nhập liệu.
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả.
Các biến liên tục được mô tả theo giá trị trung bình ± SD (nếu là phân phối
chuẩn) hoặc giá trị trung vị (khoảng trung vị 25% - 75%) (nếu không là phân phối
chuẩn).
Các biến phân hạng được mô tả theo tần suất và tỷ lệ %.
16 PHẦN 3. KẾT QUẢ
3.1. KHẢO SÁT VIỆC THỰC HIỆN KHÁNG SINH ĐƯỜNG TIÊM DỰA
TRÊN BỆNH ÁNĐặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu Đặc điểm về tuổi và
chẩn đoán là những đặc điểm cơ bản của các bệnh nhân được chúng tôi thống kê
trong bảng 3.1.Bảng 3. 1: Đặc điểm về tuổi và chẩn đoán của bệnh nhân trong

Chẩn
đoán
Tổng 263 100,0
Nhận xét:

Trích đoạn Về việc lựa chọn dung môi và thể tích dung môi Về tốc độ tiêm, truyền trong thực hiện kháng sinh tiêm Nguy cơ gặp tương kị khi sử dụng các thuốc Hạn chế của nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status