BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
VÕ THỊ ANH VŨ
KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG
THUỐC DÙNG ĐƢỜNG TĨNH MẠCH
TẠI KHOA THẬN - TIẾT NIỆU
BỆNH VIỆN E
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI- 2014 BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI VÕ THỊ ANH VŨ
KHẢO SÁT CÁCH SỬ DỤNG
học Dƣợc Hà Nội đã luôn hết lòng giải đáp những khúc mắc trong quá trình thực
hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể khoa Dƣợc, khoa Thận - Tiết niệu và
phòng lƣu trữ hồ sơ bệnh án thuộc bệnh viện E đã nhiệt tình giúp đỡ và góp phần rất
lớn cùng tôi thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, xin đƣợc gửi lời cảm ơn trân trọng và chân thành đến các thầy
cô giáo ở Trƣờng Đại học Dƣợc Hà Nội, những kiến thức và kĩ năng mà thầy cô đã
dạy đƣợc vận dụng không chỉ trong quá trình thực hiện đề tài này mà trên cả chặng
đƣờng tôi sẽ đi tiếp trong tƣơng lai.
Và cuối cùng, một cách sâu sắc nhất, xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở
bên với những lời động viên kịp thời giúp tôi vƣợt qua những thời điểm khó khăn
trong cuộc sống.
Hà Nội, tháng 05/2014
Sinh viên
Võ Thị Anh Vũ MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1. TỔNG QUAN 2
1.1. Đại cƣơng về dùng thuốc đƣờng tiêm và truyền tĩnh mạch 2
1.1.1. Đại cương về dùng thuốc đường tĩnh mạch 2
1.1.2. Tiêm tĩnh mạch 3
1.1.3. Truyền tĩnh mạch 4
1.2. Sai sót trong chỉ định và thực hiện các thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch 6
1.2.1. Sai sót liên quan đến thuốc 6
1.2.2. Sai sót trong kê đơn 7
1.2.3. Sai sót trong thực hiện thuốc của điều dưỡng 9
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 38
1. Kết luận 38
1.1. Về chỉ định thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch trong các bệnh án 38
1.2. Về cách thực hiện thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch của điều dƣỡng 38
2. Đề xuất 39
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT KCT
Khoảng tin cậy
Glu
Glucose
NCPT
Nƣớc cất pha tiêm DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng
Trang
Bảng 3.1. Số lƣợng thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch trong bệnh án
17
Bảng 3.2. Tính hợp lý của việc lựa chọn đƣờng dùng các thuốc
18
Bảng 3.3. Đặc điểm lựa chọn dung môi hòa tan và thể tích dung môi
hòa tan trong chỉ định của bác sĩ
loại thuốc đa dạng cả về hoạt chất, dạng bào chế, đƣờng dùng thì việc xảy ra sai sót
trong sử dụng thuốc là khó tránh khỏi. Trong đó, hai bƣớc quan trọng để thuốc đến
với bệnh nhân là kê đơn của bác sĩ và thực hiện thuốc của điều dƣỡng tiềm ẩn
không ít nguy cơ sai sót ảnh hƣởng đến hiệu quả điều trị của thuốc và an toàn của
bệnh nhân.
Tiêm truyền tĩnh mạch là những đƣờng dùng phổ biến nhất trong các bệnh
viện, đặc biệt trên những bệnh nhân có thời gian nằm viện kéo dài. Việc kê đơn và
thực hiện các thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch cũng phức tạp hơn do phải đảm bảo tính
chính xác của nhiều yếu tố nhƣ dung môi, tốc độ tiêm truyền, cách thức pha chế ở
một số loại thuốc đặc biệt kéo theo nhiều nguy cơ sai sót hơn.
Tại bệnh viện E ở thời điểm thực hiện đề tài, chƣa có một hƣớng dẫn cụ thể về
chỉ định và thực hiện các thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch. Vì thế, chúng tôi thực hiện
đề tài “Khảo sát cách sử dụng thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch tại khoa Thận - Tiết
niệu bệnh viện E” với các mục tiêu sau:
1. Khảo sát sự phù hợp giữa chỉ định của bác sĩ so với các tài liệu tra cứu trong sử
dụng các thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch.
2. Khảo sát sự phù hợp trong thực hiện các thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch của điều
dƣỡng so với chỉ định của bác sĩ.
2
PHẦN 1. TỔNG QUAN
1.1. Đại cƣơng về dùng thuốc đƣờng tiêm và truyền tĩnh mạch
1.1.1. Đại cương về dùng thuốc đường tĩnh mạch
Tiêm truyền tĩnh mạch là đƣờng dùng phổ biến hiện nay trong các bệnh viện
do có nhiều ƣu điểm so với các đƣờng dùng khác. Thuốc sử dụng đƣờng tiêm
truyền tĩnh mạch cho hiệu quả nhanh, có thể tính toán liều chính xác và dự đoán
đƣợc hiệu quả của thuốc. Mặt khác, thuốc ít gây đau hơn so với đƣờng tiêm bắp
hoặc tiêm dƣới da và có thể pha loãng nhiều lần để giảm kích ứng. Đây đƣợc coi là
0,9% hoặc glucose 5%. Để tráng ống thông cần 5- 10 ml dung môi, tráng dây truyền
cần 20 ml dung môi [16].
Vấn đề tiếp theo cần lƣu ý là thể tích gia tăng. Đối với các thuốc tiêm dạng
bột đông khô cần đƣợc hoàn nguyên trƣớc khi dùng, thể tích sau khi hoàn nguyên
có thể lớn hơn thể tích dung môi dùng để pha ban đầu. Thể tích chênh lệch này gọi
là thể tích gia tăng. Thể tích gia tăng có thể không ảnh hƣởng đến hiệu quả và an
toàn của thuốc trong trƣờng hợp toàn bộ thuốc của một liều đƣợc chỉ định pha để sử
dụng một lần. Tuy nhiên, phải chú ý đến giá trị này để tính liều trong trƣờng hợp
chỉ sử dụng một phần thuốc đã pha [16].
Một vấn đề nữa là kĩ thuật kiểm tra trực quan trƣớc khi tiêm truyền. Kĩ thuật
này phải đƣợc xem nhƣ là một phần trong quá trình chuẩn bị thuốc, do sản phẩm
thuốc trƣớc khi sử dụng trên bệnh nhân có thể bị lẫn các hạt vật chất bung ra từ vỏ
cao su của lọ thuốc. Một quy trình kiểm tra chuẩn đƣợc khuyến cáo nhƣ sau: cầm
ống tiêm hoặc vật chứa dung dịch truyền đến trƣớc nguồn sáng, nhìn thẳng và đảo
ngƣợc sản phẩm. Các bọt khí thƣờng di chuyển xoáy và hƣớng lên trên, cần quan
sát thêm một vài giây để phát hiện bất cứ vật gì di chuyển xuống dƣới hoặc bất cứ
sự thay đổi màu sắc nào [16].
1.1.2. Tiêm tĩnh mạch
Tiêm tĩnh mạch là cách đƣa thuốc vào tĩnh mạch với một thể tích dung dịch
nhỏ trong thời gian ngắn (thông thƣờng ngắn hơn 5 phút). Tiêm tĩnh mạch có thể
4
thực hiện qua ống tiêm trên đƣờng dây truyền, ống kim luồn trong tĩnh mạch hoặc
ống tiêm thẳng vào tĩnh mạch.
Tiêm tĩnh mạch thƣờng đƣợc thực hiện trong các trƣờng hợp: bệnh nhân cấp
cứu, cần một nồng độ thuốc lớn trong thời gian ngắn, bệnh nhân cần hạn chế truyền
chất lỏng hoặc với các thuốc đƣợc các nhà sản xuất khuyến cáo tiêm tĩnh mạch để
phát huy hiệu quả cao nhất [16].
Thể tích dung dịch tiêm thƣờng là 5 ml (10 ml) hoặc ít hơn, trừ một số
– 500 ml. Trong thực hành lâm sàng, thể tích 100 ml thƣờng đƣợc lựa chọn để
truyền dịch trong vòng từ 20-30 phút [16].
Truyền tĩnh mạch liên tục là kĩ thuật cho phép cung cấp và duy trì một nồng
độ thuốc ổn định trong một thời gian dài. Trong một số trƣờng hợp, một liều lớn
đƣợc đƣa vào cơ thể để đạt đƣợc nồng độ đỉnh trƣớc khi thuốc đƣợc truyền liên tục.
Kĩ thuật truyền tĩnh mạch liên tục làm tăng hiệu quả của một số thuốc nhƣ lidocain
hoặc heparin [35].
Những vấn đề cần lƣu ý khi thực hiện thuốc truyền tĩnh mạch là tốc độ
truyền thuốc, hiện tƣợng quá tải dịch và nguy cơ tƣơng kị.
Trong quá trình truyền thuốc cần phải kiểm soát tốc độ để tránh trƣờng hợp
thuốc đƣợc đƣa vào cơ thể quá nhanh. Một số thuốc khi truyền tĩnh mạch cần có
thiết bị đo thể tích thuốc đƣợc truyền vào, ví dụ: lidocain hoặc morphin [16].
Khi truyền tĩnh mạch ngắt quãng nhiều lần hoặc truyền liên tục với khối
lƣợng dịch quá lớn cần lƣu ý đến hiện tƣợng quá tải dịch, do số lƣợng dịch quá lớn
và tốc độ truyền nhanh gây tăng đột ngột thể tích tuần hoàn. Khi có hiện tƣợng quá
tải dịch, bệnh nhân có thể gặp các dấu hiệu suy tim, tăng huyết áp, phổi có rale, tĩnh
mạch cổ nổi và khó thở [35].
Ngoài ra, cần cẩn trọng với tất cả các thuốc dùng cùng đƣờng tĩnh mạch
trong suốt thời gian truyền để tránh tƣơng kị và chú ý đến hiện tƣợng thoát mạch tại
vị trí truyền [35].
6
1.2. Sai sót trong chỉ định và thực hiện các thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch
1.2.1. Sai sót liên quan đến thuốc
Sai sót thuốc đƣợc định nghĩa là bất cứ sự kiện nào có thể ngăn chặn đƣợc
dẫn đến dùng thuốc một cách không thích hợp hoặc gây hại cho bệnh nhân khi
thuốc đang đƣợc sử dụng bởi chuyên gia chăm sóc sức khỏe, bệnh nhân hoặc ngƣời
tiêu dùng [27]. Tại Mỹ, ngƣời ta đã ƣớc tính rằng có 44000 - 98000 ca tử vong mỗi
năm liên quan đến sai sót thuốc [9].
Có nhiều phƣơng pháp đƣợc dùng để phát hiện và kiểm tra các sai sót thuốc.
sử dụng thuốc, quy trình bảo quản, phân phối, dán nhãn và đóng gói thuốc, các thiết
bị để sử dụng thuốc, các yếu tố thuộc về môi trƣờng làm việc, giáo dục cho nhân
viên y tế và bệnh nhân, quy trình đảm bảo chất lƣợng và quản lý các yếu tố nguy cơ.
Đây là các yếu tố cần đƣợc xem xét khi một sai sót liên quan đến thuốc xảy ra nhằm
tìm nguyên nhân của sai sót đó và cải thiện chúng [8].
1.2.2. Sai sót trong kê đơn
Sai sót trong kê đơn đƣợc định nghĩa là sự lựa chọn thuốc không phù hợp với
các hƣớng dẫn, thuốc chống chỉ định, các tiền sử dị ứng đã biết, các thuốc hiện đang
sử dụng và các yếu tố khác [21]. Một định nghĩa khác của sai sót trong kê đơn là
những sai sót dẫn đến giảm đáng kể hiệu quả và tính kịp thời của việc điều trị, hoặc
làm tăng nguy cơ gây hại của thuốc so với các hƣớng dẫn chung [15].
Để xem xét tỉ lệ và bản chất của các sai sót trong kê đơn điều trị nội trú từ
các nghiên cứu đã công bố, Lewis và cộng sự đã tiến hành một tổng quan hệ thống
vào năm 2009. Kết quả cho thấy tỉ lệ sai sót trung bình là 7% (dao động từ 2% đến
14%) các đơn thuốc, cứ 100 bệnh nhân nhập viện thì có 52 (dao động từ 8 đến 227)
lỗi kê đơn xảy ra. Sai sót xảy ra phổ biến nhất với thuốc kháng sinh. Dùng thuốc
trên bệnh nhân là ngƣời lớn xảy ra sai sót nhiều hơn trên trẻ em và liều lƣợng thuốc
không chính xác là sai sót phổ biến nhất trong nghiên cứu này [21].
Nghiên cứu tại một bệnh viện ở Anh trong thời gian 4 tuần với 36200 đơn
thuốc đƣợc kê đã xác định đƣợc sai sót trong kê đơn xảy ra ở mức 1,5% (KTC 95%:
1,4-1,6), trong đó tỉ lệ lỗi nghiêm trọng là 0,4% (KTC 95%: 0,3-0,5). Khoảng một
8
nửa sai sót thuốc (54%) có liên quan đến liều. Tỉ lệ sai sót có khác biệt đáng kể ở
những giai đoạn khác nhau của bệnh nhân, theo đó đơn thuốc trong thời gian điều
trị nội trú có sai sót nhiều hơn đơn thuốc nhập hoặc xuất viện [11].
Nhiều sai sót liên quan đến kê đơn không đƣợc phát hiện và báo cáo nhƣng
có thể đã gây nên hậu quả đáng kể trên lâm sàng. Nghiên cứu tiến cứu tiến hành
trong 3 tháng hè năm 2009 tại 3 bệnh viện ở Anh phát hiện đƣợc 1025 sai sót trong
nhật thông tin cho các bác sĩ kê đơn và sử dụng kê đơn điện tử trong bệnh viện [15].
Ngoài ra, cần triển khai cho các dƣợc sĩ thực hiện duyệt đơn thuốc trƣớc khi đƣa ra
sử dụng [11]. Trong các biện pháp này, dƣợc sĩ và điều dƣỡng đóng vai trò quan
trọng trong việc phát hiện ra các sai sót trong đơn thuốc. Một nghiên cứu thuần tập
tiến cứu trong 6 tháng trên tất cả các bệnh nhân nhập viện tại hai bệnh viện đại học
ở Mỹ cho thấy gần một nửa các sai sót trong kê đơn đã đƣợc phát hiện, trong đó
điều dƣỡng phát hiện đƣợc 55 đơn và dƣợc sĩ phát hiện đƣợc 8 đơn có sai sót [20].
1.2.3. Sai sót trong thực hiện thuốc của điều dưỡng
Sai sót trong quá trình thực hiện thuốc của điều dƣỡng là sự sai lệch trong
việc chuẩn bị các thuốc so với đơn thuốc của bác sĩ, hƣớng dẫn của bệnh viện hoặc
nhà sản xuất [4],[25]. Thực hiện các thuốc tiêm truyền tĩnh mạch phải thông qua
nhiều bƣớc khá phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ sai sót. Rất nhiều nghiên cứu về
quy trình thực hiện thuốc tiêm truyền đã xem xét các sai sót về đƣờng dùng, dung
môi, tốc độ tiêm truyền, nguy cơ tƣơng kị trong quá trình thực hiện thuốc cũng nhƣ
nguyên nhân của vấn đề này.
Nghiên cứu tiến cứu tại khoa Chỉnh hình, khoa Phẫu thuật và khoa Tiêu hóa
của một bệnh viện giảng dạy ở Tehran (Iran) trên tổng số 357 lƣợt chuẩn bị và thực
hiện thuốc cho bệnh nhân đã chỉ ra rằng với mỗi thuốc trong tổng số 28 thuốc đƣợc
kê đơn nhiều nhất thì có ít nhất 1 sai sót xảy ra. Các sai sót thƣờng gặp là sai tốc độ
truyền và tiêm tĩnh mạch nhanh (20,6%). Trong tất cả các loại thuốc đƣợc đánh giá,
metronidazole là thuốc bị dùng sai phổ biến nhất (24,3%), tiếp theo là ranitidin
(21,8%), ceftriaxon (18,9%). Nghiên cứu rút ra một số nguyên nhân dẫn đến sai sót
trong thực hiện thuốc nhƣ khối lƣợng công việc của các điều dƣỡng, buồn ngủ và
10
mệt mỏi làm mất tập trung, đồng thời đề ra các giải pháp tăng số lƣợng điều dƣỡng
tại khoa để giảm áp lực công việc, có sự tham gia của dƣợc sĩ lâm sàng trong chuẩn
bị, thực hiện thuốc, thành lập hệ thống báo cáo sai sót cũng nhƣ tối ƣu hóa việc
chuẩn bị thuốc [4].
dùng đƣờng tiêm, điều dƣỡng đƣợc khuyến cáo thực hiện một số nhiệm vụ sau.
Trƣớc hết, phải kiểm tra tình trạng dị ứng của bệnh nhân và đảm bảo đã đầy đủ
thông tin để có thể sử dụng thuốc an toàn. Ngoài ra, cần xem xét sự phù hợp của
thiết bị tiêm truyền với bệnh nhân loại thuốc đang sử dụng. Một bƣớc hết sức quan
trọng trong quá trình thực hiện là dán nhãn thuốc chính xác cho từng bệnh nhân.
Cuối cùng, điều dƣỡng cần theo dõi bệnh nhân và nhận thức đƣợc các phản ứng phụ
có thể xảy ra trong suốt quá trình thực hiện thuốc [16].
1.2.4. Nghiên cứu về sai sót thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nghiên cứu về sai sót thuốc là lĩnh vực còn khá mới mẻ và
chƣa phổ biến. Các nghiên cứu chủ yếu tiến hành tại một số bệnh viện riêng lẻ, số
lƣợng các nghiên cứu đƣợc công bố trên các tạp chí còn ít. Chúng tôi xin đƣợc giới
thiệu 2 nghiên cứu sau.
Nghiên cứu tiến cứu nhằm xác định tỉ lệ, loại và mức độ nghiêm trọng của
các sai sót trong chuẩn bị và thực hiện thuốc tại 2 bệnh viện ở Việt Nam. 4 sinh viên
dƣợc quan sát các bƣớc chuẩn bị và thực hiện thuốc của điều dƣỡng tại 6 khoa trong
7 ngày liên tiếp. Kết quả cho thấy tỉ lệ sai sót thuốc là 37,7% trong tổng số 5635
lƣợt quan sát. Sai sót chủ yếu gặp phải ở kĩ thuật chuẩn bị và thực hiện, thiếu thuốc
và liều. Các sai sót này đƣợc phân loại theo mức độ nghiêm trọng: cao (8,8%), trung
bình (87,8%) và nhẹ (3,4%). Cũng theo nghiên cứu này, khoảng ba phần tƣ lƣợt
dùng thuốc đƣờng tĩnh mạch có xảy ra sai sót [24].
Nghiên cứu tiến hành tại khoa hồi sức tích cực (ICU) và khoa hậu phẫu
(PSU) ở một bệnh viện Việt Nam đã theo dõi việc thực hiện các thuốc dùng đƣờng
tĩnh mạch của y tá trƣớc và sau khi có sự can thiệp của dƣợc sĩ lâm sàng. Sự can
thiệp bao gồm: các bài giảng, các buổi hƣớng dẫn dựa trên thực tế tại khoa, các tài
liệu, đề cƣơng đƣợc thực hiện bởi một dƣợc sĩ lâm sàng và một y tá. Kết quả quan
12
sát trên 1204 lƣợt thực hiện thuốc đƣờng tĩnh mạch, bao gồm 516 lƣợt trƣớc khi có
hƣớng dẫn và 688 sau khi có hƣớng dẫn. Tỉ lệ sai sót trên lâm sàng đã giảm đáng kể
2.1.3.3. Phƣơng pháp thu thập thông tin
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng “Phiếu thu thập thông tin từ bệnh
án” (phụ lục 2) để trích xuất dữ liệu từ bệnh án tại phòng hồ sơ bệnh án. Thời điểm
lấy thông tin về một thuốc tiêm truyền tĩnh mạch là lần chỉ định đầu tiên của thuốc
đó trong một bệnh án.
2.1.3.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
- Tỉ lệ chỉ định thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch có đƣờng dùng phù hợp với
khuyến cáo.
14
- Tỉ lệ chỉ định dung môi và thể tích dung môi hòa tan và pha loãng cho thuốc
dùng đƣờng tĩnh mạch phù hợp với khuyến cáo.
- Tỉ lệ chỉ định tốc độ tiêm/truyền tĩnh mạch phù hợp với khuyến cáo.
- Tỉ lệ các chỉ định có thể gây tƣơng kị.
2.1.3.5. Tiêu chí đánh giá
Chúng tôi đánh giá sự phù hợp về đƣờng dùng, dung môi hòa tan và pha
loãng, tốc độ tiêm, truyền tĩnh mạch của các thuốc đƣợc chỉ định so với khuyến cáo
cách sử dụng các thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch tại khoa Thận – tiết niệu, bệnh viện
E (phụ lục 1) đƣợc tổng hợp từ tờ hƣớng dẫn sử dụng các thuốc và các tài liệu tra
cứu bao gồm: Dƣợc thƣ Quốc gia Việt Nam 2012 [1], Handbook on injectable drugs
15
th
[33], Injectable drugs guide 2011 [16], Nursing I.V drugs Handbook 6
th
[35].
2.2. Khảo sát các sai lệch trong thực hiện thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch của
điều dƣỡng
2.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát sự phù hợp trong thực hiện các thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch của
điều dƣỡng so với chỉ định của bác sĩ.
thời điểm quan sát. Sau khi so sánh sự phù hợp trong việc thực hiện thuốc của điều
dƣỡng so với chỉ định của bác sĩ về các yếu tố: đƣờng dùng thuốc, dung môi hòa tan
và thể tích dung môi hòa tan, dung môi pha loãng và thể tích dung môi pha loãng,
tốc độ truyền, thời gian tiêm, chúng tôi điền thông tin vào “Bảng kiểm tra cách thực
hiện thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch của điều dƣỡng” (phụ lục 3).
Một lƣợt thực hiện đƣợc xem là có nguy cơ xảy ra tƣơng kị khi có bất cứ
thao tác nào của điều dƣỡng có thể dẫn đến khả năng tƣơng kị giữa các chất với
nhau.
2.2.3.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi không phân tích và đánh giá các sai sót trong
sử dụng thuốc (medication errors). Lý do là vì việc phân tích và đánh giá này cần có
một tiêu chuẩn đƣợc đồng thuận tại cơ sở nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia để đánh
giá các sai sót gặp phải. Vì nguồn lực có hạn, chúng tôi chỉ đánh giá các sai lệch
trong thực hiện thuốc. Các sai lệch này đƣợc định nghĩa là sự khác biệt giữa thực
16
hành và các hƣớng dẫn chuẩn. Chúng tôi cũng không đánh giá mức độ nghiêm
trọng của các sai lệch gặp phải. Các chỉ tiêu nghiên cứu trong phần này là:
- Tỉ lệ thực hiện đúng đƣờng dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
- Tỉ lệ sử dụng đúng dung môi hòa tan và pha loãng cho thuốc dùng đƣờng
tĩnh mạch theo chỉ định của bác sĩ.
- Tỉ lệ thực hiện đúng tốc độ tiêm/truyền thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch theo
chỉ định của bác sĩ.
- Tỉ lệ thực hiện thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch có nguy cơ xảy ra tƣơng kị.
2.2.3.5. Xử trí khi phát hiện sai lệch
Trong quá trình quan sát, nếu phát hiện các sai lệch có thể ảnh hƣởng nghiêm
trọng lên sự an toàn của bệnh nhân, chúng tôi sẽ can thiệp một cách tế nhị để ngƣời
thực hiện thuốc nhận biết đƣợc sai lệch và sửa chữa kịp thời.
2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu đƣợc nhập vào phần mềm SPSS và xử lý bằng phƣơng pháp thống kê
2
47
31,8
3
37
25
4
12
8,1
5
7
4,7
6
1
0,7
Tổng
148
100
Bảng 3.1 cho thấy, các bệnh án có số lƣợng thuốc dùng đƣờng tĩnh mạch từ
1-3 chiếm đa số (85,5%). Thông tin chi tiết về việc lựa chọn đƣờng dùng các thuốc
cụ thể đƣợc trình bày trong phụ lục 5.
18
Về việc lựa chọn đường dùng của các thuốc đường tĩnh mạch
Trong 338 lƣợt chỉ định, có 334 lƣợt chỉ định rõ đƣờng dùng (tiêm hoặc
truyền tĩnh mạch) và 4 lƣợt chỉ định không ghi rõ đƣờng dùng (2 lƣợt furosemid và
2 lƣợt các acid amin hƣớng thận).
Trong 334 lƣợt chỉ định rõ đƣờng dùng, có 178 lƣợt chỉ định tiêm tĩnh mạch
đầu tiên và 156 lƣợt chỉ định truyền tĩnh mạch đầu tiên. Tính hợp lý của việc lựa
khuyến cáo để đánh giá đƣờng dùng. Trong đó chỉ có 1 lƣợt truyền tĩnh mạch
diazepam là không phù hợp với khuyến cáo.
Phân tích sâu hơn về 60 lƣợt chỉ định truyền tĩnh mạch chƣa đủ thông tin để
đánh giá lựa chọn đƣờng dùng, chúng tôi ghi nhận 51 lƣợt chỉ định drotaverin và 9
lƣợt chỉ định acid tranexamic truyền tĩnh mạch. Trong đó, theo hƣớng dẫn của nhà
sản xuất, drotaverin (biệt dƣợc Nospa, ống dung dịch tiêm 40mg/2ml) chỉ có thông
tin về đƣờng dùng tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, chƣa có đủ thông tin để kết luận về