các dạng cấu thành tội phạm trong bộ luật hình sự - Pdf 25

Các dạng cấu thành tội phạm trong Bộ luật Hình sự
ThS. Mai Bộ
Cấu thành tội phạm là những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể
được quy định trong luật hình sự [1]. Các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: khách thể, mặt
khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội được cấu thành tội phạm phản ánh, có thể chia cấu thành tội phạm thành: cấu thành
tội phạm cơ bản; cấu thành tội phạm tăng nặng; cấu thành tội phạm giảm nhẹ. Trong bài viết
này, chúng tôi trình bày về các dạng cấu thành tội phạm cơ bản trong Bộ luật hình sự.
Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội. Đó là cấu thành tội
phạm bao gồm những dấu hiệu mô tả tội phạm và là cơ sở pháp lý cho việc định tội danh và phân
biệt tội phạm này với tội phạm khác. Đây là các cấu thành tội phạm được thể hiện ở khoản 1 của
đa số các tội phạm như tội trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự), tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng (khoản 1 Điều
202 Bộ luật hình sự)
Căn cứ vào cấu trúc của cấu thành tội phạm có thể chia cấu thành tội phạm thành: cấu thành tội
phạm hình thức; cấu thành tội phạm vật chất; cấu thành tội phạm hỗn hợp. Trong đó:
1. Cấu thành tội phạm hình thức
Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm có duy nhất một yếu tố bắt buộc về mặt
khách quan của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi gây thiệt hại cho xã hội hoặc hành vi tạo ra khả năng
gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và được thể hiện dưới dạng
hành động hoặc không hành động. Hành động phạm tội là làm một việc mà pháp luật hình sự
cấm không được làm. Ví dụ: hành động giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự); cướp tài sản (Điều
133 Bộ luật hình sự)… Còn hành vi phạm tội được thực hiện dưới dạng không hành động là
trường hợp không làm một việc mà pháp luật bắt buộc phải làm, như các hành vi: không cứu
giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102 Bộ luật hình sự); không
tố giác tội phạm (Điều 314 Bộ luật hình sự) [2]. Các tội pham có cấu thành hình thức là những
tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 78 - 84, 86-91, 133, 134 Bộ luật hình sự.
Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong điều luật phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
2. Cấu thành tội phạm vật chất

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra là dấu hiệu bắt buộc
thuộc mặt khách quan của tội phạm có cấu thành vật chất. Theo quy định của pháp luật, thì chỉ
được coi là giữa hành vi khách quan và hậu quả có quan hệ nhân quả khi:
+ Hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian. Đây là
căn cứ đầu tiên cần thiết cho việc kiểm tra sự tồn tại của quan hệ nhân quả và trên thực tế khi
kiểm tra căn cứ này thì trong vụ án cụ thể, nếu không thoả mãn căn cứ thì không có khả năng tồn
tại quan hệ nhân quả giữa giữa hành vi và hậu quả.
+ Hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho
xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra phải là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm
phát sinh hậu quả của chính hành vi trái pháp luật. Hành vi trực tiếp gây ra hậu quả và hậu quả
chính là hệ quả trực tiếp của hành vi. Cũng cần lưu ý rằng, trong quan hệ nhân quả, hành vi trái
pháp luật được coi là nguyên nhân, tuy giữ vai trò quyết định đối với sự phát sinh hậu quả nguy
hiểm cho xã hội, nhưng hậu quả đó xảy ra hay không và xảy ra như thế nào còn phụ thuộc vào
những “điều kiện” nhất định như khắc phục, cứu chữa kịp thời
Tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất được coi là hoàn thành từ thời điểm có thiệt hại xảy ra.
3. Cấu thành tội phạm hỗn hợp
Cấu thành tội phạm hỗn hợp là loại cấu thành tội phạm mà các dấu hiệu thuộc mặt khách quan
của cấu thành tội phạm vừa có yếu tố của cấu thành tội phạm hình thức, vừa có yếu tố của cấu
thành tội phạm vật chất.
- Cấu thành tội phạm hỗn hợp có yếu tố của cấu thành tội phạm vật chất. Cấu thành tội phạm hỗn
hợp có yếu tố của cấu thành tội phạm vật chất là loại cấu thành tội phạm đặc trưng mới được quy
định trong Bộ luật hình sự từ sau lần sửa đổi bổi sung năm 1997. Trong Bộ luật hình sự năm
1999 loại cấu thành tội phạm này được quy định tại một số tội xâm phạm sở hữu, tội xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về chức vụ Theo đó các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của
cấu thành tội phạm bao gồm hành vi vi phạm, thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
Hành vi khách quan là hành vi vi phạm bởi vì nếu chỉ xét hành vi thì hành vi đó chưa đến mức bị
coi là phạm tội do đối tượng tác động của tội phạm chưa đến mức khởi điểm để truy cứu trách
nhiệm hình sự như: công nhiên chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới năm trăm ngàn đồng; sản xuất,
buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị dưới ba mươi triệu đồng;

do đối tượng tác động của tội phạm chưa đến mức khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự
nhưng với đặc điểm nhất định về nhân thân, thì người thực hiện hành vi vi phạm đó bị coi là
phạm tội.
Cấu thành tội phạm hỗn hợp có yếu tố của cấu thành tội phạm hình thức giống cấu thành tội
phạm hỗn hợp có yếu tố của cấu thành tội phạm vật chất ở chỗ đối tượng tác động của tội phạm
chưa đến mức khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự. Điểm khác nhau của cấu thành tội
phạm hỗn hợp có yếu tố của cấu thành hình thức so với cấu thành tội phạm hỗn hợp có yếu tố
của cấu thành tội phạm vật chất thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm không bao gồm hậu quả do hành
vi phạm tội gây ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả.
Thứ hai, thời điểm hoàn thành của tội phạm không tính từ thời điểm gây ra hậu quả mà được coi
là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm.
Căn cứ vào tính chất nhân thân của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, có thể chia các cấu thành
tội phạm hỗn hợp thành: cấu thành tội phạm hỗn hợp có yếu tố đã bị xử phạt hành chính mà còn
vi phạm; và cấu thành tội phạm hỗn hợp có yếu tố đã bị kết án mà còn vi phạm.
+ Cấu thành tội phạm hỗn hợp có yếu tố đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm là cấu thành
tội phạm mà một trong những yếu tố cấu thành tội phạm là “đã bị xử phạt hành chính mà còn vi
phạm”. Trong Bộ luật hình sự, loại cấu thành tội phạm này được thể hiện ở một số điều luật cụ
thể phần các tội phạm Bộ luật hình sự như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt
tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc
dưới năm trăm nghìn đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc , thì
bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm (khoản 1 Điều
139 Bộ luật hình sự)”; “Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn
động cơ gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về
hành vi này hoặc thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không
giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm (khoản 1 Điều 207 Bộ luật hình sự)”;
“Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y,
thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153,
154, 155, 156, 157, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc , thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến

khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình (khoản 1 Điều
131 Bộ luật hình sự)”; “Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá
trị từ năm mươi triệu đồng trở lên gây hậu quả nghiêm trọng hoặc hoặc đã bị kết án về tội này,
chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm (khoản 1 Điều
142 Bộ luật hình sự)”; “Người nào trốn thuế với số tiền từ năm mươi triệu đồng đến dưới một
trăm năm mươi triệu đồng hoặc hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định
tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232,233, 236
và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến
năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm (khoản 1 Điều 161 Bộ
luật hình sự)”v.v
Đặc điểm của loại cấu thành tội phạm này là hành vi vi phạm chỉ bị coi là phạm tội khi người
thực hiện hành vi đó đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Cũng có hai loại
dấu hiệu “đã bị kết án, nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” [4]
Một là, “đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”. Đây là trường hợp sau
khi bị kết án, chưa được xóa tích nay lại có hành vi vi phạm. Trong trường hợp này, tội phạm đã
bị kết án và hành vi mới vi phạm là những hành vi cùng loại. Như đã bị kết án về tội sản xuất,
buôn bán hàng cấm, chưa được xoá án tích nay lại thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng
cấm.
Hai là, đã bị kết án về tội phạm “khác” chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Trong trường
hợp này tội danh đã bị xử không trùng với tội danh bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hình vi
mới.
Thời điểm hoàn thành của các tội phạm có cấu thành tội phạm thuộc dạng này là thời điểm thực
hiện hành vi vi phạm.
- Ngoài các loại cấu thành tội phạm hỗn hợp nêu trên, chúng tôi thấy còn một số dạng cấu thành
hỗn hợp quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình
sự, thì:
“Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương
tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

Thứ tư, theo quy định tại các điểm e khoản 1 và ý 1 điểm i khoản 1 Điều 104, thì người thực hiện
hành vi vi phạm bị coi là phạm tội do tính chất của hành vi vi phạm là “có tổ chức hoặc có tính
chất côn đồ”.
Thứ năm, theo quy định tại ý 2 điểm i khoản 1 Điều 104, thì người thực hiện hành vi vi phạm bị
coi là phạm tội do nhân thân của người vi phạm là “tái phạm nguy hiểm”.
Thứ sáu, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 104, thì người thực hiện hành vi vi phạm bị coi
là phạm tội do thời gian thực hiện hành vi vi phạm là “Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam
hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục”.
Thứ bảy, theo quy định tại các điểm h và k khoản 1 Điều 104, thì người thực hiện hành vi vi
phạm bị coi là phạm tội do mục đích, động cơ thực hiện hành vi gây thương tích là “Thuê gây
thương tích hoặc gây thương tích thuê; Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ
của nạn nhân.”
Điểm chung nhất của các dạng cấu thành tội phạm hỗn hợp nêu trên là hành vi vi phạm chưa đến
mức để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng người thực hiện hành vi vi phạm đó bị coi là phạm
tội khi có một trong những điều khác đi kèm. Theo chúng tôi, thì việc Bộ luật hình sự quy định
những cấu thành tội phạm hỗn hợp nêu trên là mẫu thuẫn với quy định tại Điều 8 “Tội phạm là
hành vi nguy hiểm cho xã hội ”. Thiết nghĩ cần nghiên cứu khắc phục bất cập này khi có điều
kiện sửa đổi Bộ luật hình sự.
- Nguồn: http://www.luatviet.net -

[1] Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 1998, tr 64.
[2] Xem: ThS. Nguyễn Mai Bộ, Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2006, tr 8.
[3] Xem: ThS Mai Bộ, Luật gia Nguyễn Văn Duyên, Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
trong Bộ luật hình sự, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002, tr 17-21.
[4] Xem: ThS Mai Bộ, Luật gia Nguyễn Văn Duyên, Sđd, tr 22-27.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status