Đề tài: THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THIẾU VIỆC LÀM Ở
NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH KHU VỰC NÔNG
THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY.
Phần 1: Đề cương nghiên cứu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển chung của toàn nhân loại
cũng kéo theo một loạt sự ảnh hưởng: suy thoái kinh tế toàn cầu, ô nhiễm
môi trường, đói nghèo, và thất nghiệp đang lan tràn trên khắp các lục địa .
Ngày 26/1, Tổng Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Juan Somavia
cảnh báo số người thất nghiệp trên thế giới đã đạt kỷ lục 212 triệu người
trong năm 2009. Số người thất nghiệp năm 2009 trên toàn cầu đã tăng kỷ lục
34 triệu người so với năm 2007. Bỏ qua bất bình đẳng xã hội, tội phạm hay
bạo lực, giờ đây, nỗi sợ hãi kinh hoàng nhất đang hoành hành trên toàn thế
giới lại chính là vấn đề không thể kiếm được việc làm và hiện tượng thất
nghiệp ngày càng tăng. Thất nghiệp trở thành mối quan tâm nóng bỏng toàn
cầu, vượt xa mọi vấn đề lo lắng thông thường khác, kể cả cái đói nghèo, nhất
là khi khủng hoảng kinh tế, tài chính gõ cửa đến từng hộ gia đình.
Theo số liệu của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay nước ta
có hơn 25 triệu lao động nông nghiệp chiếm 55,7 % tổng số lao động cả
nước và mỗi năm có thêm khoảng 600.000 người đến tuổi lao động, mỗi
năm tính ra phải có 1 triệu lao động cần được đào tạo để chuyển đổi sang phi
nông nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam được Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội công bố trong những năm qua và được Tổng cục Thống kê thống
kê trong hai năm lại đây thực ra chỉ được tính cho khu vực thành thị, cho
những người trong độ tuổi từ 15 - 60 đối với nam và 15 - 55 đối với nữ. Tuy
nhiên, để đánh giá về tình hình lao động và việc làm trong nền kinh tế,
chúng ta cần biết thêm một tiêu chí khác là “ tỷ lệ lao động thiếu việc làm”.
Đây là tiêu chí quan trọng được tính cho cả lao động ở khu vực nông thôn và
thành thị nhưng chưa được công bố từ trước đến nay. Ở Việt Nam, tỷ lệ lao
động thiếu việc làm thường cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp; trong đó
tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị. Tỷ lệ thất nghiệp
lao động dần làm thay đổi cơ cấu và tỷ lệ lao động. Tuy vậy trong khi tỷ lệ
lao động thất nghiệp “ chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn – 2,6 % (tương
đương gần 1,3 triệu lao động )”, nhưng đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm
nông thôn lên tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%.Và
báo cáo “chỉ trình bày về thu nhập cho nhóm làm công ăn lương”, còn đối
với những người lao động tự do, người làm nông nghiệp báo cáo chưa đề
cập đến.
- Nghiên cứu Bạo lực trên cơ sở giới năm 1999 đã xác định nhiều
nguyên nhân của hành vi bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ, trong đó nổi
bật nhất là hai yếu tố khó khăn về kinh tế và lạm dụng rượu. Những hộ gia
đình có vợ chồng phải vất vả bươn chải kiếm sống nên họ thường hay bị
căng thẳng về thần kinh. Vì thế, tỷ lệ có hành vi bạo lực trong gia đình ở các
hộ gia đình nghèo là cao hơn. (Vũ Mạnh Lợi và đồng nghiệp; 1999:14-16).
- Đề tài nghiên cứu Thất nghiệp tại Việt Nam của tác giả Đỗ Văn Tính
(Trường đại học Duy Tân, Đà Nẵng, năm 2009). Nghiên cứu đã phân tích
tình hình kinh tế xã hội Việt Nam 2008 – 2009 và chỉ ra tình hình thất
nghiệp tại nước ta, lý giải những nguyên nhân, ảnh hưởng của thất nghiệp: “
hằng năm chúng ta phải giải quyết tối thiểu cho khoảng 1,2 triệu việc làm
mới, khoảng trên 1 triệu lao động chuyển từ khu vực nông thôn ra thành thị
thì sức ép giải quyết việc làm càng trở nên nặng nề hơn”, nếu chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế năm 2009 không đạt được mức 6,5% thì tỉ lệ thất nghiệp tăng
cao sẽ càng ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến an sinh xã hội và làm “mất an
toàn xã hội”.
- Trong đề tài sử dụng các số liệu trong Niên giám thống kê 2009
(Tổng cục thống kê, nhà xuất bản thống kê, 2009), các bài báo mạng, báo in
liên quan đến vấn đề thiếu việc làm của người lao đọng ở khu vực nông
thôn, từ đó chỉ ra những ảnh hưởng và tác động đến đời sống của các gia
đình, những người dân khu vực nông thôn.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng thiếu việc làm của lao động ở khu vực nông thôn
việc làm cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các
nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản
phẩm và dịch vụ. Thất nghiệp, thiếu việc làm còn có nghĩa là sản xuất ít hơn,
giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô dẫn đến nhu cầu xã hội giảm.
Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất
lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp, thiếu
việc làm cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó
mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn. Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc gia tăng đi
liền với bất bình đẳng, đói nghèo và tệ nạn xã hội.
6.2.2. Quan điểm của Các Mác, Anghen về lao động, việc làm và gia
đình.
Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp, thiếu việc làm là
thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản. Và chủ yếu
xảy ra ở nhóm người lao động yếu thế : công nhân, nông dân, phụ nữ, .
Gia đình được coi tế bào của xã hội, các cá nhân trong gia đình tham gia vào
mọi quá trình sản xuất và luôn chịu sự tác động trở lại của tiến trình phát
triển kinh tế - xã hội, lao động, việc làm.Theo quan niệm của các ông về sự
biến đổi và phát triển của gia đình trong mối quan hệ biện chứng với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể trong tiến trình phát triển
của lịch sử nhân loại. Thất nghiệp, thiếu việc làm tăng khoảng cách giàu –
nghèo, bần cùng hóa và mâu thuẫn trong xã hội.
6.2.3. Tiếp cận lý thuyết cơ cấu – chức năng.
Lý thuyết cơ cấu – chức năng của Talcot Parsons có nhấn mạnh, gia
đình là một thiết chế cơ bản của hệ thống xã hội. Sự đóng góp của các cá
nhân cho sự tồn tại của gia đình đồng nghĩa với đóng góp cho sự phát triển
xã hội. Chức năng cảu gia đình gắn liền với nhu cầu, hoạt đọng sống của các
thành viên, các cá nhân và xã hội. Để đảm bảo cho sự phát triển của gia đình
các cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất – xã hội, thực hiện quá trình xã
hội hóa và chức năng tái sản xuất lao động, tạo ra nguồn lực cho sự phát
triển chung.
Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x ( Số người không có việc làm/
Tổng số lao động xã hội).
Phần 2: Nội dung kết quả nghiên cứu
I. Thực trạng thiếu việc làm ở người lao động khu vực nông thôn
hiện nay.
1.1. Thực trạng chung về thiếu việc làm của lao động nông thôn
hiện nay.
Trong giai đoạn 2008-2009, tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó
khăn. Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới bắt đầu từ năm 2007 và đang tiếp
tục diễn biến ngày một phức tạp và lan rộng. Một trong những tác động rõ
nhất đó là tình trạng sụt giảm của thương mại toàn cầu thể hiện ở sự sụt
giảm nhập khẩu hàng loạt hàng hoá tiêu dùng và các nguyên vật liệu từ thị
trường bên ngoài. Điều này ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và
việc làm của người lao động ở các nước, trong đó có Việt Nam: “Sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ giảm sút; tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng, kể
cả các vật tư quan trọng, lương thực và nhiều nông sản xuất khẩu có khối
lượng lớn; số người mất việc làm năm 2008 khoảng 667.000 người, 3.000
lao động từ nước ngoài phải về nước trước thời hạn”( Theo báo cáo tại Hội
nghị việc làm và xuất khẩu lao động năm 2008). Nhưng một thực tế phổ
biến và trầm trọng hơn ở nước ta đó là thiếu việc làm của người lao động ở
các vùng nông thôn.
Trong bài viết “ Hội nhập Kinh tế quốc tế và vấn đề việc làm ở Việt
Nam” của PGS. TS Lê Quốc Lý – Lê Văn Cương thuộc chuyên đề: Khủng
hoảng kinh tế - việc làm – thất nghiệp (Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự
báo số 24 (440) tháng 12/2008), cho thấy sự dịch chuyển về cơ cấu lao động
và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô thị đang là vấn đề thu hút sự
quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa phương và các nhà
nghiên cứu hoạch định chính sách. Khi Việt Nam gia nhập WTO, thực trạng
này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức độ lớn hơn.
Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng cách
hẹp quy mô việc làm ở cả nông thôn và thành thị. Theo Hiệp hội các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, cả nước hiện có khoảng 350.000 doanh nghiệp, hàng
năm, đóng góp khoảng 40% - 50% việc làm mới cho người lao động. Nhưng
hiện nay, hơn 200.000 doanh nghiệp (60%) đang gặp khó khăn kéo theo
khoảng 70.000 lao động bị mất việc làm vào năm 2008 và có thêm hơn
20.000 lao động mất việc làm trong quý I-2009. Thất nghiệp thành thị đang
gây ra một dòng di chuyển lao động “ngược” về nông thôn.” Họ và làng quê
họ, nơi đã từng hưởng lợi từ tiền gửi về do làm thuê, đang gánh chịu nhiều
nhất những tác động trước mắt của khủng hoảng kinh tế: Người lao động
được phỏng vấn cho biết, nếu trong năm 2007 họ có thể có việc làm 20
ngày/tháng thì đến cuối 2008, họ chỉ có việc làm khoảng 10 ngày/tháng,
trong đó số ngày làm các công việc xây dựng giảm khoảng 70%, các công
việc khác như khuân vác, chuyển đồ, thu dọn vệ sinh… giảm khoảng 30%.
Tiền tiết kiệm hàng tháng trung bình giảm mạnh và hầu như không có.
Trong Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam 1/9/2009 (
Bộ kế hoạch đầu tư, Tổng cục thống kê, nhà xuất bản thống kê, 2009).
Ở Biểu 02. Lực lượng lao động tại 1/9/2009 chia theo giới tính,
nhóm tuổi, thành thị/ nông thôn, 6 vùng kinh tế - xã hội và hai thành phố
lớn (trang 114) cho thấy tổng dân số cả nước từ 15 tuổi trở lên là 64.421.000
người, trong đó lao động ở nông thôn là 44.690.600 người ( chiếm 69,37 %).
Và trong số đó, số người tham gia vào hoạt động lao động là 49.301.900
người, khu vực nông thôn có 38.364.800 người, số người thất nghiệp ở khu
vực nông thôn 1.678.600 người ( chiếm 4,37 %). Ở thành thị có 608.000
người thất nghiệp trong số 13.937.100 người tham gia hoạt động lao động (
chiếm 4,45 %). Như vậy , số người thất nghiệp ở khu vực nông thôn thấp
hơn so với thành thị. Tuy nhiên ở Biểu 2.15 Tỷ lệ thiếu việc làm của lao
động có việc làm từ 15 tuổi trở lên, 1/9/2009 như sau:
Tỷ lệ thiếu việc làm( %)
tổng số
nam
1.2. Thực trạng thiếu việc làm của thanh niên nông thôn hiện
nay.
Hiện nay, ở nước ta, dân số trong độ tuổi thanh niên (16-30 tuổi) có
khoảng 22 triệu người, chiếm gần 23% dân số cả nước, trong đó, thanh niên
nông thôn chiếm khoảng 51,5%. Đây là lực lượng quan trọng trong phát
triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.Thanh niên nông thôn dám
nghĩ, dám làm, mạnh dạn tham gia chuyển đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
vươn lên thoát nghèo. Tuy nhiên, thực tế hiện nay là thanh niên nông thôn
đang có hạn chế lớn là trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp thấp lại ít có
cơ hội được đào tạo nghề nghiệp: “Thanh niên nông thôn chiếm khoảng
51,5% trong tổng số thanh niên cả nước và có đến 94,7% không có
chuyên môn nghiệp vụ” ( Minh Hòa, bài : Tạo nhiều “kênh” việc làm cho
thanh niên nông thôn, vovnew, 30/10/2010).
Theo điều tra của Ban Thanh niên nông thôn, Trung ương Đoàn
TNCS Hồ Chí minh, tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật trong thanh niên
nông thôn thấp hơn 4 lần so với thành thị; trình độ cao đẳng, đại học trở lên
của thanh niên nông thôn thấp hơn 6 lần so với thanh niên thành thị. Qua
khảo sát thanh niên tại một số tỉnh thành cho thấy vấn đề việc làm đang là
một vấn đề nòng thu hút sự quan tâm của thanh niên:
Hưng Yên: Thanh niên không có việc làm phải rời bỏ quê lên thành
phố tìm việc và chủ yếu chỉ làm được các việc đơn giản như: bán rong, thợ
xây hoặc làm việc ở các khu công nghiệp với mức lương thấp…. Còn những
thanh niên trụ lại được ở địa phương thì cũng chỉ phát triển kinh tế một cách
nhỏ lẻ, ít áp dụng được những tiến bộ KHKT.
Bắc Ninh: Thanh niên, nông dân khi bị thu hồi đất dẫn đến không có
việc làm ổn định, từ đó nảy sinh ra nhiều vấn đề về các tệ nạn xã hội, kèm
theo gây mất ổn định xã hội và điều này đã xảy ra khá phổ biến ở nông
thôn”.
Hà Nội: Khảo sát mới đây của Đoàn thanh niên TP. Hà Nội, trong
tổng số 68.000 thanh niên ngoại thành ở 30 xã trên 18 huyện thì có trên 80%
có tới trên 50% là LĐ nữ. "Khi đất sản xuất bị thu hẹp, đàn ông có thể chạy
xe ôm hay làm một việc nào đó nhưng phụ nữ rất khó kiếm việc làm. Bởi
lẽ, trình độ học vấn của hầu hết LĐ nữ nông thôn rất thấp, thậm chí một số
người còn mù chữ. Tại các khu công nghiệp, chỉ 5% số LĐ nữ nông thôn là
có bằng cấp chuyên môn nên cái vòng luẩn quẩn mất việc - khó tìm việc làm
vẫn đeo bám họ” - ông Đặng Kim Sơn - Viện trưởng Viện Chính sách và
chiến lược nông nghiệp nông thôn cho biết.
Bài viết: Nhu cầu lao động và ngành nghề - việc làm cho lao động
nông thôn giai đoạn 2011- 2015 tại thành phố Hồ Chí Minh của ông Trần
Anh Tuấn, Phó giám đốc thường trực Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và
thông tin thị trường lao độngTP.HCM (Webside:dubaonhanluchcmc.gov.vn,
5/10/2010) cho thấy: Dân số khu vực nông thôn tại 5 huyện ngoại thành của
thành phố Hồ Chí Minh là 1,2 triệu người. Trong đó, tổng số người trong độ
tuổi lao động khu vực nông thôn có trên 810.000 người ( chiếm 67,55 % dân
số khu vực nông thôn), nữ chiếm tỷ lệ 54,90 %. “Ước tính tỷ lệ thất nghiệp
lao động khu vực nông thôn là 7,86% (70.000 người) trong đó lao động Nữ
không có việc làm chiếm khoảng 60% (42.000 người) và tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động khu vực nông thôn khoảng 82%”. Từ đó thấy được tình trạng
không có việc làm, thiếu việc làm và việc làm chưa ổn định ở khu vực nông
thôn còn khá lớn, chưa kể nhiều lao động trong độ tuổi thanh niên hiện nay
không làm việc chỉ sinh sống bằng nguồn bán đất, chuyển đổi đất ở những
khu vực đang phát triển công nghiệp, đô thị.
Báo cáo kết quả điều tra số liệu cơ bản về lao động nữ nông thôn
(Trung tâm nghiên cứu phụ nữ, trường cán bộ phụ nữ trung ương, Hội liên
hiệp phụ nữ Việt Nam, 9/ 2008) . Theo kết quả điều tra có tới 6,4 % phụ nữ
nông thôn không tham gia hoạt động kinh tế trực tiếp tạo thu nhập mà chỉ
làm công việc nội trợ. Có 3,8 % số lao động nữ được hỏi có đi làm ăn xa,
trong đó lao động nữ khu vực nông thôn đồng bằng Sông Cửu Long chiếm
tỷ lệ cao nhất ( chiếm tới 34,9 % trong tổng số những người đi làm ăn xa).
Như vậy thực trạng lao động nông thôn thiếu việc làm vẫn là bài toán
nông dân lựa chọn đều liên quan đến công ăn việc làm của họ và gia đình
đồng thời phụ thuộc rất nhiều vào tính chất công việc và mức độ thường
xuyên có việc làm của họ. Sau khi bị thu hồi đất, diện tích đất canh tác bị thu
hẹp hoặc mất hẳn, nguồn thu từ nông nghiệp bị giảm sút mạnh hoặc không
còn nữa. Điều này buộc người nông dân phải tích cực và năng động hơn
trong tìm kiếm những việc làm mới nhằm có thu nhập ổn định cuộc sống của
mình và gia đình. Họ buộc phải làm nghề khác hoặc di cư ra thành phố làm
các công việc thời vụ : thợ mộc, thợ xây, làm thuê, Qua phỏng vấn sâu
cuộc khảo sát người nông dân cho biết: “ quẩy gạch, làm thuê, ai thuê gì
làm nấy, tiền họ trả cho rẻ mạt lắm. Em đi quẩy gạch thuê thế này vất lắm
chị ơi, nhưng không làm thì biết làm gì. Mình không có trình độ, không làm
được việc ở doanh nghiệp, có người thuê quẩy gạch là may rồi, em đang lo
mấy năm nữa yếu đi không còn sức thì làm gì đây, khổ lắm” (nữ nông dân,
29 tuổi, thôn Ngô Sài, Hoàng Ngô, thị trấn Quốc Oai, Hà Tây), “nói chung
nhờ giời đi làm thuê hết” (nam nông dân, thị trấn Lai Cách, Cẩm Giàng,
Hải Dương).
Như vậy thiếu việc làm đẩy đời sống người lao động nông thôn đến
đối mặt với những khó khăn, bấp bênh, bươn chải và xáo trộn trong cuộc
sống để tạo thu nhập cũng như chi tiêu cho gia đình. Giảm thu nhập và giảm
khoản tiền gửi về nhà, cộng thêm chi phí cuộc sống gia tăng, đã ảnh hưởng
tiêu cực đến chi tiêu hàng ngày của gia đình họ, có nguy cơ ảnh hưởng đến
việc học hành của con cái ở quê nhà. “Một chị phụ nữ quê ở huyện Phúc Thọ
(Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội) đang đứng chờ việc cho biết: “Đồng tiền bây
giờ mất giá. Tết năm ngoái giá gạo chỉ 5 – 7 nghìn đồng mà nay đã tăng
hơn 10.000 đồng/1 cân. Khó khăn nhất là tầm vừa ra Tết, không có tiền, ít
việc… Bình thường thì một tháng mua thịt khoảng 3 - 4 lần. Nhưng ra Tết
đến giờ không có việc mấy nên con cũng chưa được bữa thịt nào. Tiền đi
làm về được ít chỉ đủ mua cho con ít đậu ăn, rồi mua thêm ít mỡ, đun lên lấy
nước xào rau, rán đậu, còn tép mỡ để cho con ăn cũng được…”. Một phụ nữ
khác quê ở Nghệ An, ra Hà Nội chờ việc cùng với chồng, giải thích thêm:
vấn đề mâu thuẫn dẫn đến những hệ lụy: bạo lực gia đình, ly hôn,
Bên cạnh bạo lực gia đình còn thể hiện bất bình đẳng giới trong những
gia đình nông thôn, đặc biệt là đối với phụ nữ mà lý do cũng xuất phát từ vị
thế, vai trò của người phụ nữ trong lao động, việc làm. Hầu hết các phụ nữ ở
khu vực nông thôn làm nông nghiệp, công việc mùa vụ và làm nội trợ, chăm
sóc gia đình. Công việc đó tạo ra ít thu nhập, đóng góp kinh tế cho gia đình.
Trong khi đó đàn ông lại là người tạo ra thu nhập chính cho gia đình, làm
cho vai trò của người phụ nữ trong gia đình nông thôn bị hạ thấp và dễ bị tổn
thương.
2.3. Thiếu việc làm và vấn đề đói nghèo trong gia đình nông thôn.
Niên giám thống kê 2009 cho thấy tỉ lệ ngèo chung của cả nước năm
2008 ở khu vựu thành thị là 3,3% con số này gấp tới gần 6 lần ở khu vực
nông thôn với tỉ lệ nghèo chung là 18,7%. Năm 2009, tỷ lệ hộ nghèo trong
cả nước chiếm 12,3%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo ở khu vưc thành thị chỉ 6% ở
khu vự nông thôn là 14,8%. Điều đó cho thấy đói nghèo ở khu vự nông thôn
hiện nay có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao.
Theo Bộ kế hoạch và đầu tư, nghèo đói là một hiện tượng phổ biến ở
nông thôn với hơn 90% số người nghèo sinh sống ở nông thôn. Trên 80% số
người nghèo là nông dân, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận với các
nguồn lực trong sản xuất (Vốn, kỹ thuật, công nghệ ) Đa số người nghèo
sống ở vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa Cùng với quá trình đô thị hóa, mất
đất nông nghiệp để sản xuất, trình độ học vấn thấp, không có điều kiện tiếp
cận với hệ thống thông tin. Do vậy họ khó có khả năng để tìm kiếm cơ hội
việc làm hay chuyển đổi việc làm sang các ngành phi nông nghiệp dẫ đến
đói nghèo.
Trong bài viết: “Cộng đồng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long
và hiện tượng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan” của tác giả NGUYỄN
THỊ HỒNG (tạp chí Xã hội học số 2(98), 2007) có đề cập đến hiện tượng
nhiều năm gần đây, việc kết hôn với người nước ngoài nói chung và với
động thiếu việc làm khiến cho mức sống của các gia đình bấp bênh, thu
nhập, chi tiêu giảm sút, bạo lực gia đình, bần cùng hóa, đói nghèo, Con em
trong các gia đình nông thôn sẽ đi liền với thất học hoặc không có được sự
chăm sóc đầy đủ của cha mẹ, không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ xã
hội, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí,
Thực trạng đó đặt ra và đòi hỏi các nhà quản lí, lãnh đạo, các nhà hoạch
định chính sách cần phải có những đánh giá, giải pháp mang tính chiến lược
để giải quyết vấn đề này. Bên cạnh những nhóm giải pháp lớn của Chính
phủ như: thúc đẩy sản xuất kinh doanh và xuất khẩu; thực hiện các biện
pháp kích cầu đầu tư; chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp; đảm bảo an
sinh xã hội có thể xem xét thêm một giải pháp cụ thể hơn đối với vấn đề
lao động, việc làm nông thôn nâng cao chất lượng đời sống người dân nông
thôn như:
-Duy trì sản xuất nông nghiệp, trước hết là sản xuất lúa gạo và các loại
nông sản, đảm bảo thực hiện được mục tiêu sản lượng và giải quyết việc làm
thông qua nhiều gói hỗ trợ, như: Gói tín dụng hỗ trợ sản xuất nông nghiệp,
ưu tiên các loại sản phẩm chiến lược như gạo, cao su, cà phê ; gói tín dụng
hỗ trợ bao tiêu, chế biến nông sản thông qua hoạt động của các tổng công
ty; gói hỗ trợ lao động sản xuất nông nghiệp (nông dân) về giống, thủy lợi,
phân bón tăng cường thu mua và dự trữ quốc gia.
-Hỗ trợ phát triển mô hình kinh tế hộ tự sản xuất, tự tạo việc làm thông
qua các gói hỗ trợ tín dụng vi mô, chương trình tín dụng việc làm và các
chính sách hỗ trợ khác.
-Đầu tư phát triển các “công trường lớn” mang tính công ích sử dụng
nhiều lao động như: thủy điện, công trình thủy lợi lớn, giao thông lớn, Ưu
tiên đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở ở nông thôn như: giao
thông nông thôn, thủy lợi với mục tiêu tạo việc làm và thu nhập tại chỗ
cho người dân.
-Hỗ trợ dự án đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, nông dân và người
nghèo thông qua các gói hỗ trợ dạy nghề và nâng cao chất lượng nguồn nhân