nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất bột hoá nhiệt cơ tẩy trắng từ nguyên liệu gỗ tràm nam bộ và hỗn hợp gỗ tràm với gỗ keo lai khu vực miền nam-việt nam - Pdf 25


BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
CÔNG TY TNHH VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ
************************

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2012

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BỘT
HÓA NHIỆT CƠ TẨY TRẮNG TỪ NGUYÊN LIỆU GỖ
TRÀM NAM BỘ VÀ HỖN HỢP GỖ TRÀM VỚI GỖ KEO LAI
KHU VỰC MIỀN NAM – VIỆT NAM
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì:
Công ty TNHH Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô
Chủ nhiệm đề tài
: TS. Cao Văn Sơn


1.2.4.
Ảnh hưởng của giai đoạn thẩm thấu hóa chất tới chất lượng bột peroxyt-
kiềm
Ảnh hưởng của quá trình nghiền tới chất lượng bột giấy cơ học
15

22
1.2.5
1.2.5.1
1.2.5.2
Tẩy trắng bột giấy cơ học
Tẩy trắng bột giấy cơ học bằng đithionit (Na
2
S
2
O
4
)
Tẩy trắng bột giấy cơ học bằng peroxyt
25
26
29
1.3
NGUYÊN LIỆU TRÀM CỪ VÀ KEO LAI KHU VỰC MIỀN NAM 36
1.3.1
1.3.2
Nguyên liệu gỗ Tràm khu vực Nam Bộ
Nguyên liệu gỗ Keo lai khu vực Nam bộ
35
39

3.2.2
3.3

3.3.1
3.3.2

3.3.3

3.3.4

3.4 3.5

3.5.1
3.5.2
3.5.3
3.5.4
3.5.5
3.5.6
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BỘT P-RC-APMP
TỪ NGUYÊN LIỆU GỖ TRÀM VÀ KEO LAI
Xác lập quy trình sản xuất bột P-RC-APMP từ gỗ Tràm Nam bộ
Xác lập quy trình sản xuất bột P-RC-APMP từ gỗ Keo lai Nam bộ
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BỘT P-RC-APMP TỪ HỖN HỢP
NGUYÊN LIỆU GỖ TRÀM VÀ KEO LAI
Ảnh hưởng của tỷ lệ gỗ tràm cừ và keo lai
Ảnh hưởng của mức dùng NaOH tới chất lượng bột từ hỗn hợp nguyên
liệu tràm cừ và keo lai

74 79

79
81
83
85
87
89
KẾ
T LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APMP Alkaline Peroxide Mechanical Pulping
Công nghệ bột cơ học peroxyt – kiềm
P-RC-APMP Pre-conditioning Refiner Chemical Alkaline Peroxide
Mechanical Pulping : Công nghệ bột cơ học peroxyt – kiềm
có sử dụng hóa chất trong quá trình nghiền
UHKP Unbleached hardwood kraft pulp,
Bột kraft gỗ cứng chưa tẩy trắng
USKP Unbleached softwood kraft pulp
Bột kraft gỗ mềm chưa tẩy trắng
BHKP Bleached hardwood kraft pulp
Bột kraft gỗ cứng tẩy trắng
BSKP Unbleached softwood kraft pulp
Bột kraft gỗ mềm tẩy trắng

Hình 1.7
Mối tương quan giữa chỉ số độ bền kéo và chỉ số xécủa bột P-RC-APMP
Hình 1.8 Ảnh hưởng của pH đến sự phân ly của H
2
O
2

Hình 1.9 Ảnh hưởng của mức dùng Na
2
SiO
3
tới độ trắng, lượng cặn dư H
2
O
2

của bột cơ học từ gỗ thông
Hình 1.10 Ảnh hưởng của mức dùng các tác nhân chelat hoá đối với khả
năng loại Mn
Hình 1.11 Ảnh hưởng của nhiệt độ chelat hoá tới khả năng loại Mn
Hình 1.12 Ảnh hưởng của thời gian chelat hoá tới khả năng loại Mn
Hình 1.13 Ảnh hưởng của nồng độ bột tới độ trắng của bột SGW sau tẩy từ nguyên
liệu gỗ
vân sam
Hình 3.1 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải nhà máy P-RC-APMP
2
O
2
trong giai đoạn thẩm thấu 2 tới tính
chất cơ lý của bột
Bảng 3.8 Mã hóa các biến thí nghiệm thực nghiệm
Bảng 3.9 Kết quả các mẫu thực nghiệm
Bảng 3.10 Các số liệu thực nghiệm trên mô hình
Bảng 3.11 Các số liệu tính toán trên mô hình
Bảng 3.12 Ma trận thực nghiệm tối ưu theo phương pháp tiến lên

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của tỷ lệ dăm mảnh Keo lai, Tràm cừ tới chất lượng
bột P-RC-APMP

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của mức dùng NaOH tới chất lượng bột P-RC-APMP từ
hỗn hợp Tràm cừ và Keo lai
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của thời gian thẩm thấu 2 tới chất lượng bột P-RC-APMP
từ hỗn hợp Tràm cừ và Keo lai
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột giấy P-RC-APMP tới tính chất của mẫu giấy
Bảng 3.17 Các chỉ số nước thải của bộ
t giấy sản xuất từ gỗ tràm, keo lai và hỗn
hợp của hai loại nguyên liệu
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của mức dùng PAC đến hiệu quả của quá trình keo tụ
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của thời gian lưu tới hiệu quả khử COD trong giai đoạn xử
lý kỵ khí
Bảng 3.20 Các chỉ số của nước thải sau xử lý kỵ khí
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của thời gian x
ử lý tới hiệu quả khử COD trong giai đoạn
xử lý hiếu khí
Bảng 3.22 Các chỉ số của nước thải sau giai đoạn xử lý hiếu khí

chủ đầu tư với công suất 100.000 tấn b
ột cơ học tẩy trắng/năm, đây là dự án bột giấy
cơ học đầu tiên và duy nhất sử dụng nguyên liệu cây Đay Việt Nam. Công nghệ sản
xuất của nhà máy là công nghệ P-RC APMP (Pre-conditioning Refiner Chemical
Alkaline Peroxide Mechanical Pulping ) với thiết bị tiên tiến và đồng bộ do hãng
Andritz cung cấp. Tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
năm 2008 – 2009, chủ đầu tư đã gặp rất nhiề
u khó khăn trong quá trình xây lắp, vùng
nguyên liệu có nguy cơ mất do tiến độ chậm nên không thể mua hết đay nguyên liệu
của dân. Người trồng đay do không có đầu ra nên có xu hướng chuyển qua trồng các
loại cây khác. Trước thực trạng đó, Chính phủ đã quyết định chuyển dự án sang cho
2

Tổng công ty Giấy Việt Nam làm chủ đầu tư, với mong muốn dự án tiếp tục được
triển khai và sớm đi vào hoạt động.
Kể từ khi tiếp nhận, chủ đầu tư mới đã tích cực triển khai các hạng mục công
trình. Tính tới thời điểm này về cơ bản thiết bị, nhà xưởng của nhà máy đã được lắp
đặt tương đối hoàn thiện, hoàn thiện quá trình chạy đơn động và đang trong giai đoạn
chạy thử nghiệm công nghệ với nguyên liệu là đay.
Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định, nguyên liệu đay
hoàn toàn phù hợp cho sản xuất bột P-RC-APMP chất lương cao dùng cho sản xuất
giấy in, giấy viết và giấy tráng cao cấp. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất của nhà máy
hiện nay là nguồn cung cấp nguyên liệu. Niên vụ đay năm 2012, công ty đã ký hợ
p
đồng với người dân để bao tiêu toàn bộ sản lượng đay nên diện tích đay trồng tại khu
vực đã tăng lên đáng kể, sản lượng thu mua của nhà máy đạt trên 25.000 tấn, song
giá thu mua khá cao, trên 800.000 đồng/tấn đay tươi. Với tình hình này, nếu không
có biện pháp quy hoạch lại vùng nguyên liệu, lựa chọn giống đay cao sản nhằm hạ
giá nguyên liệu, đồng thời nâng cao sự hợp tác, khuyến khích, động viên người dân
trồ


dung dịch Na
2
SO
3
hoặc Na
2
SO
3
+ NaOH đối với gỗ mềm và NaOH đối với gỗ cứng
thì công nghệ APMP sử dụng dung dịch NaOH + H
2
O
2
cùng với các phụ gia khác.
Với sự thay đổi này, bên cạnh việc trích ly nhựa, làm trương nở,‘‘mềm hóa’’ dăm
mảnh dưới tác dụng của NaOH thì quá trình tẩy trắng dăm mảnh dưới tác dụng của
tác nhân H
2
O
2
trong môi trường kiềm trước khi đưa vào nghiền. Quá trình thẩm thấu
5

có thể diễn ra 1, 2 đối khi 3, 4 giai đoạn. Nhìn chung bột sau nghiền đã đạt độ trắng
nhất định, tùy theo yêu cầu của sản phẩm giấy mà có thể không cần công đoạn tẩy
trắng. Đối với các sản phẩm yêu cầu độ trắng cao, sau giai đoạn nghiền có thể bổ
sung thêm 1 hoặc 2 giai đoạn tẩy trắng với tác nhân là H
2
O
2

Chỉ số độ bền kéo, Nm/g 58 60
Độ trắng, %ISO 82,8 83,5
Độ đục, % 80 82
Độ tán xạ ánh sáng, m
2
/kg 39 43
Với việc sử dụng NaOH – một tác nhân kiềm mạnh trong dịch thẩm thấu cho
phép công nghệ này không chỉ sử dụng hiệu quả đối với nguyên liệu là gỗ mềm (các
loại gỗ thông, gỗ vân sam, linh sam ) mà còn mở rộng cho nhiều loại gỗ cứng, giúp
giảm năng lượng nghiền cũng như giảm tỷ lệ xơ sợi gẫy vụn, xơ sợi mịn (fine) tăng
tỷ lệ xơ sợi dài mà không làm bột bị sậm màu gây khó khăn cho quá trình tẩy tới độ
trắng cao như đối với công nghệ BCTMP nếu sử NaOH trong giai đoạn thẩm thấu.
Một số so sánh về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của bột BCTMP và APMP sản xuất từ
nguyên liệu gỗ Dương (Aspen), bảng 1.1.
6

Với tính ưu việt, công nghệ APMP đã, đang được các nhà khoa học trên thế giới
nói chung và của tập đoàn đoàn Andritz nói riêng không ngừng nghiên cứu áp dụng
cho các loại nguyên liệu khác nhau, đặc biệt là ứng dụng cho các loại nguyên liệu gỗ
cứng mọc nhanh. Kết quả nghiên cứu của Eric C. Xu và Marc J. Sabourin đối với
một số loại gỗ bạch đàn: eucalytus grandis từ Argentina; eucalytus grandis, eucalytus
saligna từ Paraguay cho thấy đối với công nghệ APMP: mức dùng 5,9 – 7,5%NaOH;
3,8 – 5,0%H
2
O
2
còn BCTMP với 2,7%NaOH + 2,5%Na
2
SO
3

(RC) nên đã tăng c
ường, cải thiện quá trình phân phối và phối trộn hóa chất ở nồng
độ cao, nhiệt độ cao tạo điều kiện cho các phản ứng tẩy trắng xẩy ra triệt để trong
thời gian rất ngắn nên công nghệ này bột cho độ trắng rất cao. Mặt khác nhờ giai
đoạn RC còn cho phép giảm mức dùng NaOH nên giảm được phản ứng giữa NaOH
và lignin [1,31].
7

Hầu hết các nguyên liệu sử dụng tốt cho công nghệ APMP đều thích hợp cho P-
RC-APMP, chất lượng bột giấy thu được có phần tốt hơn. Một số tính chất cơ lý của
bột hóa nhiệt cơ tẩy trắng từ gỗ Dương được sản xuất theo các công nghệ khác nhau
được đưa trong bảng 1.2 [3].
Bảng 1.2. So sánh chất lượng bột hóa nhiệt cơ tẩy trắng từ gỗ Dương [3]
Các chỉ số P-RC-APMP APMP BCTMP
Mức dùng NaOH, % 3,4 5,3 6,7 4,4 7,6 3,0 6,0
Mức dùng H
2
O
2
, % 2,6 4,5 5,9 4,2 7,2 3,0 4,0
Mức dùng Na
2
SO
3,
% - - - - - 1,2 1,2
Năng lượng, kWh/t 1.406 1.406 1.406 2.039 2.039 2.143 2.143
Độ nghiền CSF, ml 311 243 232 254 241 252 239
Chỉ số bục,kPa.m
2
/g 0,66 1,38 2,72 0,59 1,22 0,54 1,18

Nguyên liệu Gỗ Dương (Aspen) Bạch đàn Nam Mỹ*
Công nghệ
Độ nghiền CSF, ml
BCTMP
110 - 350
P-RC-APMP
110-350
Độ xếp đống, cm
3
/g 1,6-1,8 2,1-2,3
Tỷ trọng, g/cm
3
0,63-0,56 0,48-0,44
Chỉ số bục,kPa.m
2
/g 2,4-2,7 2,4
Chỉ số độ bền kéo, Nm/g 48-52 50
Độ trắng, %ISO 85 85
Độ đục, % 76-77 80-85
Hệ số tán xạ ánh sáng, m
2
/kg <40 >45
Ghi chú:
*
Bạch đàn Nam Mỹ gồm: Eucalyptus Grandis, Eucalyptus saligna, Eucalyptus pilularis,
Eucalyptus dunnil, Eucalyptus urophylla.
Dây chuyền công nghệ sản xuất bột APMP nói chung và P-RC-APMP nói riêng
thường bao gồm các công đoạn chính sau:
* Chuẩn bị nguyên liệu
Từ bãi nguyên liệu, các khúc gỗ được xe cạp vào mâm phân phối. Từ đây các

Tháp chứa số 2 được thiết kế dùng cho lưu trữ và cho quá trình xông hơi dăm
mảnh. Mảnh được xông hơi với hơi thứ từ máy nghiền sơ cấp và hơi áp suất thấp lò
hơi. Dưới tác dụng của hơi nước, các phân tử lignin dần bão hòa hơi nước và trở nên
mềm hơn tạo điều kiện cho quá trình nghiền tách xơ sợi sau này. Nhiệt độ lignin bắt
đầu chuyển sang trạng thái mềm khi nhiệt độ 80 – 90
0
C. Ngoài tác dụng làm mềm
dăm mảnh, quá trình xông hơi cũng có tác dụng thay thế không khí trong các mao
quản bằng nước tạo điều kiện cho quá trình thẩm thấu hóa chất sau này. Thời gian
xông hơi khoảng 15 – 30 phút.
* Thẩm thấu hoá chất
Hệ thống thẩm thấu hóa chất tối thiểu là 2 giai đoạn đôi khi có dây chuyền sử
dụng 3 đôi khi là 4 giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên thường sử dụng dung dịch DTPA
hoặc ETDA, giai đoạn này có tác dụng loại bỏ tác dụng có hại của các kim loại
chuyển tiếp đối với H
2
O
2
trong các giai đoạn tiếp theo. Dịch thẩm thấu các giai đoạn
tiếp theo chứa NaOH, H
2
O
2
, MgSO
4
, silicat, DTPA
Mỗi giai đoạn thẩm về nguyên tắc được chia làm 3 bước khác nhau và sự kết
hợp này tạo ra một công nghệ thẩm thấu tối ưu. Bước 1 dưới tác động ép với tỷ suất
ép cao của vít ép hình côn, không khí, nhựa và nước được tách ra khỏi mảnh. Tác
động ép này làm cho dăm mảnh bị dập, phân tách bề mặt vách tế bào sơ cấp mà

0
C và áp suất 2- 3at; giai đoạn 2 nồng độ nghiền khoảng 20 -25%,
nghiền ở áp suất khí quyển. Trong quá trình nghiền một phần năng lượng nghiền
chuyển thành nhiệt năng và tạo ra một lượng lớn hơi nước bão hòa (khoảng 0,8 tấn
hơi/MWh năng lượng nghiền). Với lượng H
2
O
2
dư trong các giai đoạn thẩm thấu và
H
2
O
2
mới bổ xung vào dăm mảnh trước khi nghiền, dưới tác dụng của quá trình
11

nghiền, hóa chất đã được phân bố đều và tại nhiệt độ cao, áp suất cao trong thời gian
ngắn đã tăng cường phản ứng tẩy trắng, nâng cao độ trắng của bột sau nghiền.
Từ máy nghiền, hỗn hợp bột và hơi nước được xả qua hệ thống ống thổi tới
xiclon áp lực nhằm phân tách hơi và bột. Hơi được tách ra khỏi bột được dẫn về
hệ
thống thu hồi nhiệt còn bột rơi xuống đáy xiclon được vít tải chuyển về tháp chứa
bột.
Từ đáy tháp này bột được pha loãng và bơm tới máy rửa vít ép. Bột sau rửa
được chuyển tới hệ thống vít tách nước và chuyển tới vít nạp liệu vào máy nghiền thứ
cấp.
Xơ sợi mới nghiền thường chịu tác động đồng thời của lực xoắ
n và lực duỗi
nên bột sau nghiền thứ cấp được ngâm trong bể Latency nồng độ 3,0 -3,5%, nhiệt độ
khoảng 60

bể chứa. Giữa hai giai đoạn tẩy bột được rửa bằng máy rủa vít ép. Giai đoạn cuối
cùng bột sau tẩy thường được rửa bằng máy rửa lưới đôi. Hình 1.1. Sơ đồ thiết bị chính của dây chuyền sản xuất bột
P-RC-APMP của Andritz
* Tồn trữ bột
Đối với các nhà máy sản xuất bột APMP, P-RC-APMP thương phẩm, bột sau rửa
được sàng chọn – làm sạch một lần nữa bằng hệ thống sàng áp lực và lọc cát nồng độ
thấp. Bột được cô đặc, vắt ép tới nồng độ khoảng 30 -35% sẽ được phun vào hệ
thống hầm sấy để sấy khô (nhiệt sấy thường sử dụng khí nóng từ quá trình đốt khí ga
từ hệ thống xử lý nước thải kỵ khí và khí ga bổ sung từ ngoài). Bột khô sẽ được ép,
đóng bành và bao gói. Do bột có hiệu suất rất cao, hàm lượng lignin gần như không
thay đổi nên độ trắng của bột sẽ dần bị thay đổi dưới tác dụng của môi trường nên
thời gian tộn trữ bộ
t thấp hơn nhiều so với bột hoá tẩy trắng.
* Hệ thống thu hồi nhiệt và phân phối hơi sinh ra từ quá trình nghiền
Quá trình nghiền bột cơ học ở nồng độ cao tại các máy nghiền giải phóng ra một
lượng hơi bão hòa khá lớn, phần lớn lượng hơi này sau khi tách khỏi bột được thu
Dịch kiềm – peroxyt Dịch kiềm – peroxyt
Nghiền sơ cấp
Dăm mảnh
Tháp thẩm thấu
Sàng chọn – làm sạch
Nghiền thứ cấp
13

gom và tái sử dụng để gia nhiệt cho dăm mảnh trong các tháp xông hơi, thẩm thấu và
gia nhiệt. Một phần hơi này được sử dụng để sản xuất nước nóng trong hệ thống thu
hồi nhiệt. Hơi sinh ra từ quá trình nghiền bột nồng độ cao được thu gom về các ống


từ gỗ đã bóc vỏ trước khi cất trữ. Cất trữ trong môi trường nước được xem là giải
pháp bảo quản gỗ khá tốt. Đối với bột không tẩy trắng thì đây là phương pháp tối ưu
còn đối với bột tẩy trắng bằng H
2
O
2
thì đây không phải là giải pháp tốt. Để đạt được
hiệu quả của quá tẩy H
2
O
2
thì trước khi cất trữ trong nước, các khúc gỗ cần được bóc
vỏ để tránh hiện tượng các hợp chất trong vỏ cây tạo vết ở những lớp gỗ ngoài vì quá
trình tẩy H
2
O
2
diễn ra trong môi trường kiềm nên các vệt đen sẽ ảnh hưởng lên độ
trắng của bột.
Độ trắng của gỗ thông Loblolly giảm 5 đơn vị sau 9 tháng cất trữ chủ yếu là
do khả năng hấp thụ ánh sáng, tác dụng của các vi sinh vật và phản ứng oxy hoá
trong không khí do vậy khoảng thời gian cất trữ là giới hạn. Thuốc diệt nấm có thể
làm demetylate lignin và hình thành các cấu trúc catechin mà chúng lại có khả năng
oxy hoá các nhóm quinoe làm
đậm màu gỗ. p- Hydroxybenzyl arylethers trong lignin
có thể sắp xếp lại hình thành o-hydroxyphenyl methan. o-Hydroxyphenyl methan bị
các enzym oxy hoá hoặc các tác nhân oxy hoá khử hydro thành các nhóm nhóm o-
quinonemetit bền, mà các nhóm này là nguyên nhân tạo màu ở giấy. Một yếu tố nữa
là hàm lượng các ion kim loại có trong gỗ cũng như bám theo nguyên liệu đặc biệt là

tế bào (30-40% tổng lượng lignin); lớp thứ cấp có 3 lớp (lớp ngoài, lớp giữa, l
ớp
trong) có chiều dầy 1 - 4µm chứa tới 95% (theo trọng lượng) xenluloza. Lượng
lignin còn lại tập chung chủ yếu ở lớp ngoài và lớp giữa.
Dưới tác dụng nhiệt của hơi nước, các phân tử lignin dần bão hoà nước và trở
nên mềm hơn tạo điều kiện cho quá trình nghiền tách xơ sợi sau này. Nhiệt độ lignin
bắt đầu chuyển sang trạng thái mềm khoảng 80 – 90
0
C, tuỳ từng quy trình sản xuất
bột cơ mà người ta có thể tiến hành xông hơi với nhiệt độ hơi từ 100 – 150
0
C. Đối
với các dây chuyền sản xuất bột hóa nhiệt cơ hiện tại, nhiệt độ hơi thường xử dụng từ
120 – 130
0
C và đảm bảo nhiệt độ mảnh được giữ ở ~ 100
0
C vì vượt quá nhiệt độ này
lignin có xu hướng chuyển từ trạng thái mềm sang trạng thái thủy tinh và trở nên
cứng hơn. Lượng nhiệt này sẽ được cấp từ nguồn: hơi thu hồi từ quá trình nghiền
mảnh và hơi mới áp suất thấp từ hệ thống hơi của nhà máy. Thời gian xông hơi đảm
bảo cho lượng không khí thoát hết ra khỏi các mao mạch khoảng 15 –20 phút.
1.2.3. Ảnh hưởng của giai đoạ
n thẩm thấu hóa chất tới chất lượng bột APMP
Điểm khác biệt của công nghệ APMP so với công nghệ BCTMP là hóa chất
thẩm thẩu dăm mảnh chứa đồng thời NaOH, H
2
O
2
và một số phụ gia khác (Na

thiết phải tách loại, vô hiệu hóa tác dụng của chúng. Quá trình này được thường được
thực hiện bằng giai đoạn ‘‘ chelat hóa’’ với các tác nhân như: DTPA, ETDA
Ưu điểm nổi bật của công nghệ APMP là có thể ứng dụng cho rất nhiều
nguyên liệu như: gỗ mềm, gỗ cứng, phi gỗ (đay, bã mía ) với dịch thẩm th
ấu là kiềm
– peroxyt, trong khi công nghệ BCTMP, hóa chất thẩm thấu thường tùy thuộc vào
chủng loại nguyên liệu: gỗ mềm thường dùng Na
2
SO
3
, gỗ cứng thường dùng NaOH
hoặc NaOH + Na
2
SO
3
và độ trắng của bột chủ yếu đươc tạo thành từ các giai đoạn
tẩy trắng riêng biệt. Nhìn chung chất lượng bột giấy sản xuất theo công nghệ APMP
cho chất lượng tương đương hoặc tốt hơn công nghệ BCTMP với chi phí sản xuất
thấp hơn, đặc biệt đối với các loại nguyên liệu gỗ cứng (bảng 1.4) [50].
Bảng 1.4. Tính chất cơ lý bột gi
ấy từ nguyên liệu gỗ Dương (Aspen) sản xuất theo
công nghệ BCTMP và APMP [50]
Công nghệ BCTMP APMP
1.Tổng mức dùng hóa chất, % so với
NL KTĐ: + Na
2
SO
3
+ NaOH
+ H

phẩm cũng như mục đích sử dụng.
Tính chất cơ lý của bột APMP ngoài quá trình nghiền thì phụ thuộc rất lớn vào
tổng mức dùng NaOH (TA) trong các giai đoạn thẩm thấ
u. Còn độ trắng của bột giấy
thu được lại phụ thuộc vào mức dùng H
2
O
2
trong các giai đoạn thẩm thấu và tẩy
trắng bột giấy.
Theo [50], khi thay đổi mức dùng tổng kiềm TA (NaOH và Na
2
SiO
3
) thì hầu
hết các tính chất cơ lý của bột giấy sản xuất từ gỗ Dương (Aspen) hầu như đều thay
đổi. Hình 1.2. Ảnh hưởng của mức dùng kiềm (TA) tới tỷ trọng
của bột giấy cơ học [50]
Từ hình 1.2 cho thấy, khi tăng mức dùng TA thì năng lượng nghiền giảm, tỷ
trọng của bột giấy tăng lên. Thật vậy để đạt được cùng một tỷ trọng khoảng 450
kg/m
3
thì bột TMP cần năng lượng nghiền tời 2200kWh/t, bột CTMP 1700kWh/t và
Tỷ trọng, kg/m
3
Năng lượng nghiền, kWh/t
18

TA, hầu hết các tính chất cơ lý của bột đề
u thay đổi.

Trích đoạn Tẩy trắng bột giấy cơ học Tẩy trắng bột giấy cơ học bằng natri dithionit (Na2S2O4). Tẩy trắng bột giấy cơ học bằng peroxyt. NGUYÊN LIỆU TRÀM CỪ VÀ KEO LAI KHU VỰC MIỀN NAM 1 Nguyên liệu gỗ Tràm cừ khu vực Nam Bộ Nguyên liệu gỗ Keo lai khu vực Nam Bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status