Tìm hiểu khả năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong bài văn miêu tả của học sinh lớp - Pdf 25

Tìm hiều khả năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân
hóa trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4, các dạng bài tập
rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học chiếm vị trí quan
trọng nhất. Với tính chất là một môn học công cụ, ngoài việc cung cấp các
kiến thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kĩ
năng hoạt động giao tiếp bằng Tiếng Việt, đồng thời môn học này còn bồi
dưỡng năng lực tư duy cũng như lòng yêu quý Tiếng Việt. Do đú, môn
Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về
tiếng mẹ đẻ, rèn cho các em bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Trong đó,
nghe, đọc là hai kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cũn núi, viết là hai kĩ năng sản
sinh ngôn bản.
Phõn môn Tập làm văn có nhiệm vụ giúp học sinh hình thành và phát
triển các kĩ năng sản sinh ngôn bản. Môn học này có vị trí đặc biệt trong quá
trình dạy học tiếng mẹ đẻ vì Tập làm văn nhằm thực hiện mục tiêu cuối
cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng ngôn
ngữ Tiếng Việt để giao tiếp, tư duy và học tập. Thông qua môn Tập làm
văn, học sinh vận dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp những kiến thức, kĩ
năng Tiếng Việt đã được học vào việc tạo lập nên những bài văn hay, giàu
tính nghệ thuật.
Trong phõn mụn Tập làm văn ở lớp 4, văn miêu tả chiếm thời lượng
lớn nhất so với các loại văn khác. Văn miêu tả là một thể loại văn có tác
dụng rất lớn trong việc tái hiện đời sống, nú giỳp học sinh hình thành và
1
phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng đánh giá, nhận xét. Qua
các văn bản miêu tả giúp ta có thể cảm nhận văn học và cuộc sống một cách
tinh tế, sâu sắc hơn, làm cho tâm hồn, trí tuệ của chúng ta thêm phong phú.
Những văn bản miêu tả có tác dụng to lớn như vậy một phần bởi sự có mặt
của những biện pháp tu từ. Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng

trình Tiếng Việt Tiểu học mới, hai biện pháp tu từ này được đưa vào cho
học sinh làm quen từ lớp Hai và được dạy chính thức thành bài riêng cho
học sinh líp Ba ở phân môn Luyện từ và câu. Luyện từ và câu là tên gọi mới
của phân môn Từ ngữ, ngữ pháp. Cách gọi này và việc đưa hai biện pháp tu
từ so sánh, nhân hoá vào dạy cho học sinh nhằm phản ánh một sự chuyển
đổi khá căn bản của sách giáo khoa Tiếng Việt. Học sinh học hai biện pháp
tu từ này không phải nh các lớp trên (THCS). Học sinh không học một tiết
lý thuyết nào về so sánh, nhân hoá. Học sinh tiếp thu kiến thức về so sánh
nhân hoá thông qua hệ thống bài tập. Đặc biệt biện pháp tu từ so sánh được
dạy cho học sinh líp Ba trong suốt học kỳ I, còn biện pháp nhân hoá được
dạy trong suốt học kỳ II. Điều này giúp học sinh sớm vận dụng được các
biện pháp so sánh, nhân hoá trong cách nói, viết, làm cho câu văn trở nên
sinh động, có hình ảnh hơn. Đồng thời nó còn khắc phục được tình trạng
trước đây học sinh viết câu văn khô, không có hình ảnh, không sinh động.
Mặt khác, học hai biện pháp tu từ này, học sinh sẽ thu nhận được ý đồ
của tác giả gửi gắm trong các bài văn, bài thơ. Thông qua đó, học sinh được
trau dồi kiến thức Tiếng Việt một cách tốt nhất. Điều đó giúp học sinh học
Tiếng Việt và sản sinh văn bản có hiệu quả. Theo đó, ta thấy việc đưa hai
biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá vào dạy cho học sinh hoàn toàn phù hợp.
Học sinh được luyện nói nhiều hơn trong các giờ học phân môn của Tiếng
3
Việt. Việc hiểu biết về hai biện pháp so sánh, nhân hoá và kỹ năng vận dụng
chúng vào lời nói sẽ giúp học sinh học tiếng Việt ngày một tốt hơn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài này là biện pháp tu từ
so sánh và nhân hóa được dạy ở Tiểu học, nội dung dạy học phần văn miêu
tả cho học sinh lớp 4.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tìm hiều khả năng sử dụng biện pháp
tu từ so sánh và nhân hóa trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4, các dạng
bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa.

đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai đối tượng cú nột
tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những xúc cảm thẩm mĩ trong
nhận thức của người đọc, người nghe. So sánh gồm bốn yếu tố: cái so sánh,
cơ sở so sánh, từ so sánh và cái được so sánh.
Về biện pháp nhân hóa
Theo GS Đinh Trọng Lạc: nhân hóa (còn gọi nhân cách hóa) là một
biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính,
dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không
phải là con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ
hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư,
thái độ của mình.
Về mặt hình thức, nhân hóa có thể được cấu tạo theo hai cách:
- Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị
tính chất, hoạt động của đối tượng không phải con người.
- Coi đối tượng không phải như con người và tâm tình trò chuyện với nhau.
Ngoài ra còn có rất nhiều nhà nghiên cứu hay một số sinh viên, học
viên cao học các khóa học trước đã đi tìm hiểu về biện pháp so sánh hoặc
biện pháp nhân hóa. Tuy nhiên chỉ mới đi sâu tìm hiểu về hai biện pháp này
5
hoặc có ứng dụng trong văn miêu tả thì chỉ là ứng dụng một biện pháp này
trong văn miêu tả. Hoặc nếu có ứng dụng thì chỉ ở một kiểu bài nhất định
như phần văn tả cây cối hay văn tả loài vật.
Về văn miêu tả
Cuốn sách “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả” của tác giả
Nguyễn Trí đã viết, gồm hai phần lớn:
Phần thứ nhất: cung cấp các tri thức cơ bản, cần thiết về văn miêu tả
nói chung, về các kiểu bài miêu tả nói riêng. Các tri thức này bao gồm các
hiểu biết về ba mặt: yêu cầu miêu tả, đối tượng miêu tả và ngôn ngữ miêu tả.
Ở mỗi kiểu bài, tác giả đã nêu ra được một số hiểu biết có tính chất đặc thù.
Phần thứ hai: trình bày các yêu cầu và đặc biệt đi sâu phân tích một số

tả hay ở bậc Tiểu học.
Như vậy, văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học đã được rất nhiều tác
giả quan tâm. Các tác giả đã tìm hiểu sâu về văn miêu tả và đề ra được các
phương pháp dạy học văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học. Tuy nhiờn các
tác giả còn đề cập chưa nhiều đến việc sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa
trong viết văn miêu tả.
Tóm lại, vấn đề hướng dẫn HS lớp 4 sử dụng biện pháp so sánh và
nhân hóa trong văn miêu tả là vấn đề đáng được quan tâm nghiên cứu. Gần
đây đó cú một số luận văn đề cập đến vấn đề này nhưng chưa phải là ứng
dụng cả hai biện pháp này trong văn miêu tả của HS lớp 4. Tuy nhiên những
nghiên cứu đó là nền tảng, là cơ sở cho vấn đề chúng tôi đang nghiên cứu.
Trên đây, chúng tôi đã điểm qua một số công trình nghiên cứu về so
sánh, nhân hóa và văn miêu tả. Song chưa có một tác giả nào đề cập đến vấn
đề hướng dẫn HS sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa trong văn miêu tả.
Hai biện pháp này là những vấn đề SGK mới đưa vào chương trình dạy học
7
của môn Tiếng Việt lớp 3 từ năm học 2004 – 2005. Đây là vấn đề còn mới
và dặc biệt chưa được GV dạy tích hợp với các môn học khỏc nờn HS khó
nắm bắt được kiến thức về so sánh và nhân hóa, do vậy, việc áp dụng hai
biện pháp này trong văn miêu tả cũng gặp những khó khăn nhất định. Điều
đó khiến cho các nhà giáo dục đặt ra một loạt những suy nghĩ trăn trở: làm
thế nào để HS ứng dụng được những điều đã học về hai biện pháp này trong
bài văn? Làm thế nào để HS viết dược một văn miêu tả hay? Cần hướng dẫn
HS như thế nào để HS viết được một bài văn có nhiều hình ảnh, cảm xúc?
Tất cả những vấn đề trên đây đã định hướng giúp chúng tôi chọn đề
tài này để nghiên cứu.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. 1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là xây dựng hệ
thống bài tập giúp học sinh sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa khi viết

Đây là phương pháp đòi hỏi phải tiến hành công phu, tỉ mỉ và tốn nhiều thời
gian nhằm nắm được thực trạng việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh và
nhân hóa trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4.
6. 3. Phương pháp thống kê
Để làm cơ sở cho việc rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và
nhân hóa cho học sinh lớp 4, chúng tôi dùng phương pháp thống kê để tổng
hợp các tư liệu khảo sát qua bài làm của học sinh, tìm ra những lỗi sai, thống
kê và phân loại lỗi sai trong việc sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa cho
học sinh.
6. 4. Phương pháp thực nghiệm
9
Thực nghiệm là phương pháp rất quan trọng trong quá trình nghiên
cứu, là một trong những nội dung quan trọng của luận văn. Qua phương
pháp thực nghiệm, những kết quả cụ thể được định lượng rõ ràng mới có thể
có những kết luận được về giá trị thực tiễn và tính khả thi của những vấn đề
được đặt ra trong luận văn. Phương pháp này được tiến hành sau khi đã đưa
ra lý thuyết và hệ thống bài tập. Đây là khâu hiện thực hóa nội dung lý
thuyết và bài tập. Đồng thời, đây cũng là khâu kiểm tra, đánh giá kết quả, từ
đó có thể rút ra những nhận xét, kết luận về quá trình nghiên cứu của mình.
7. Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến việc rèn kỹ năng sử dụng biện
pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4.
- Khảo sát thực trạng việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân
hóa trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4 và chỉ ra những ưu điểm và
nhược điểm.
- Xây dựng những bài tập nhằm rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ
so sánh và nhân hóa trong bài văn miêu tả cho học sinh lớp 4 nhằm giúp học
sinh sử dụng hiệu quả biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong bài văn
miêu tả.
8. Cấu trúc của khóa luận

trước sự vật, hiện tượng đó và cảm thấy như được nghe, sờ những gì mà
nhà văn nói đến”.
Khi miêu tả lạnh lùng, khách quan nhằm mục đích thông báo đơn
thuần thỡ đú không phải là miêu tả văn học mà là tả theo phong cách khoa
học. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua đoạn văn:
12
Chúng ta hãy so sánh hai đoạn văn miêu tả cây phượng để thấy rõ sự
khác biệt đó:
Đoạn 1: “Cõy gỗ cao khoảng 10 – 20 m. Lá kép lông chim hai lần. Lá
chét nhỏ. Hoa màu đỏ rực mọc thành cụm, mỗi bông hoa có 5 cánh trong đó
có một cánh môi là lớn nhất, có màu đỏ pha lẫn trắng. Quả có hai mảnh vỏ
hóa gỗ. Hạt dài và hẹp, có vân nâu nâu. Ra hoa vào mùa hạ. Là loại cây
được trồng phổ biến ở nước ta để lấy búng mỏt.”
(Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi)
Đoạn 2: Phượng không phải là một đóa, không phải vài cành, phượng
đây là cả một loạt, cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chỉ là một
phần tử của cái xã hội thắm tươi; người ta quên đóa hoa, chỉ nghĩ đến cây,
đến hàng, đến những tán lớn xòe ra, trên đậu khít nhau muôn nghìn con
bướm thắm. Mùa xuân, phượng ra lỏ. Lỏ xanh um, mát rượi, ngon lành như
lá me non. Lá ban đầu xếp lại, còn e; dần dần xòe ra cho gió đưa đẩy lòng
cậu học trò phơi phới làm sao! Cậu chăm lo học hành, rồi lâu cũng vô tâm
quên màu lá phượng. Một hôm, bỗng đâu trên những cành cây báo ra một
tin thắm: mùa hoa phượng bắt đầu! Đến giờ chơi, học trò ngạc nhiên nhỡn
trụng: hoa nở lúc nào mà bất ngờ giữ vậy?
Bình minh của hoa phượng là một màu đỏ còn non nếu có mưa lại
càng tươi dịu. Ngày xuân dần đến, số hoa tăng, màu cũng đậm dần. Rồi hòa
nhịp với mặt trời chói lọi, màu phượng mạnh mẽ kêu vang: hè đến rồi! Khắp
thành phố bỗng rực lên, như Tết đến nhà nhà đều dán câu đối đỏ”…
(Xuân Diệu)
Đọc cả hai đoạn văn trên ta thấy có một điểm chung là đều miêu tả

được sờ, được nghe, được ngửi thấy những gì mà tác giả đang cảm nhận.
Muốn bài văn miêu tả được sinh động thì người viết phải tạo nên được
những câu văn, những đoạn, bài văn sống động, gây ấn tượng. Điều quan
14
trọng để có thể làm được điều đó, trước hết người viết phải có sự quan sát tỉ
mỉ, ghi nhớ được những điều mỡnh đó quan sát được kết hợp với khả năng
sử dụng ngôn từ một cách khéo léo, các biện pháp tu từ.
1.2.3. Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc, hình ảnh
Đặc điểm nổi bật của văn miêu tả là ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh.
Đây là đặc điểm làm nên sự khác biệt, giúp ta phân biệt được văn miêu tả với
các thể loại văn khác như văn bản tự sự, văn bản trữ tình hay văn nghị luận.
Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc bởi trong bài viết bao giờ người
viết cũng bộc lộ tình cảm, cảm xúc hay ý kiến nhận xét, đánh giá hay bình
luận của người viết với đối tượng miêu tả. Tình cảm đó có thể là sự yêu
mến, yêu quý, thán phục hay sự gắn bú…với đối tượng được miêu tả.
Ngôn ngữ văn miêu tả giàu hình ảnh bởi trong bài viết thường được
sử dụng nhiều từ ngữ gợi hình như: tính từ, động từ, từ láy hay các biện
pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, …Chớnh điều này đã tạo cho ngôn
ngữ trong văn miêu tả có sự uyển chuyển, nhịp nhàng, diễn tả tốt cảm xúc
của người viết. Hơn thế nó có tác dụng khắc họa được bức tranh miêu tả
sinh động như trong cuộc sống thực.
Hai yếu tố giàu cảm xúc và giàu hình ảnh gắn bó khăng khít với nhau
làm nên đặc điểm riêng biệt và làm cho những trang văn miêu tả trở nên có
hồn, cuốn hút người đọc, gây ấn tượng mạnh mẽ và tác động sâu sắc vào trí
tưởng tượng cũng như cám nghĩ của người đọc.
Trong cuốn “Rèn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt” hai tác giả Đào Ngọc
và Nguyễn Quang Ninh đã chỉ rõ ba đặc điểm của văn miêu tả. Đó là: Văn
miêu tả là một loại văn mang tính thông báo thẩm mĩ; trong văn miêu tả, cái
mới, cỏi riờng phải gắn chặt với tính chân thật; ngôn ngữ trong văn miêu tả
bao giờ cũng giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh,…

thể khác loại. Mục đích của so sánh này là nhằm diễn tả một cách có hình
16
ảnh đặc điểm của đối tượng. Trên thực tế có rất nhiều câu diễn đạt sự so
sánh nhưng so sánh tu từ là phải “nhằm diễn tả hình ảnh một lối tri giác mới
mẻ về đối tượng”, tức là phép so sánh đó phải đạt đến một hình thức ổn định
và có một giá trị nội dung nhất định.
Ví dụ về tu từ so sánh cú cỏc đối tượng cùng loại:
- So sỏnh có đối tượng cùng là con người:
Bác Tư có thân hình vạm vỡ, khỏe mạnh như một bác nông dân.
- So sỏnh có đối tượng cùng là loài vật:
Thân hình của Giôn to khỏe và nhanh nhẹn như một chú chó săn.
- So sỏnh có đối tượng cùng là vật:
Thân cây hoa hồng tròn như chiếc đũa.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng ta chỉ chú trọng đến
so sánh tu từ.
1.3.2. Cấu tạo của so sánh
Xét về mặt cấu tạo, mô hình so sánh đầy đủ bao gồm 4 yếu tố sau:
Yếu tố 1: yếu tố được / bị so sánh (tùy theo việc so sánh là tích cực
hay tiêu cực)
Yếu tố 2: yếu tố chỉ phương diện so sánh (chỉ tính chất, đặc điểm của
sự vật hay trạng thái của hành động).
Yếu tố 3: Yếu tố quan hệ so sánh (có thể là quan hệ ngang bằng hoặc
không ngang bằng)
Yếu tố 4: yếu tố chuẩn (được đưa ra làm chuẩn để so sánh)
Ví dụ:
Yếu tố 1 Yếu tố 2 Yếu tố 3 Yếu tố 4
Ông hiền như hạt gạo
Bà hiền như suối trong
Trên thực tế, có nhiều phép so sánh không đầy đủ cả 4 yếu tố trờn. Nú
có thể thiếu vắng một hoặc hai yếu tố

18
+ So sỏnh kém:
Ví dụ:
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
+ So sỏnh không nhằm xác định hơn, kém
Ví dụ:
Nếu như hoa cúc vàng tươi thì hoa hồng đỏ thắm, cả hai đều khoe sắc
trong vườn lộng lẫy.
- Căn cứ vào nghĩa của các đối tượng được so sánh với nhau có
các dạng so sánh sau:
+ Yếu tố được / bị so sánh và yếu tố chuẩn không cùng phạm trù
ngữ nghĩa
• Yếu tố được / bị so sánh thuộc phạm trù người, yếu tố chuẩn
không thuộc phạm trù người
Ví dụ:
Bé chạy ra, chạy vào bày cỗ như con kiến vác đất làm tổ, như con
chim tha mồi.
• Yếu tố được / bị so sánh là tâm trạng, tình cảm; yếu tố chuẩn
không là trạng thái, tình cảm.
Ví dụ:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.
• Yếu tố được / bị so sánh là hành động , yếu tố chuẩn không là
hành động.
Ví dụ:
Chạy nhanh như gió.
19
• Yếu tố được / bị so sánh là các sự việc, yếu tố chuẩn không là các
sự việc.

bất kỳ một phép so sánh tu từ nào ta cũng nhận ra sự yờu, ghột, khen, chê,
thái độ khẳng định hay phủ định của người nói với đối tượng được miêu tả.
Chính chức năng này tạo nên những hình ảnh sống động, gợi cảm, tạo ra
những cách nói mới mẻ làm cho cách diễn đạt trở nên phong phú, uyển
chuyển, tăng sức mạnh biểu cảm cho lời nói. Đồng thời bằng hình ảnh so
sánh đã bộc lộ thái độ, tình cảm, cách nhận xét, đánh giá của tác giả.
Tóm lại, so sánh tu từ là công cụ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn
nữa những phương diện nào đó của sự vật. Nhờ có sự so sánh mà chúng ta
dễ dàng tri thức về đối tượng miêu tả một cách rõ nét hơn, hình ảnh và cụ
thể hơn bằng việc công khai đối chiếu hai đối tượng khác nhau đã khơi gợi
cho người đọc, người nghe tới một vùng liên tưởng mới tạo nên sự nhận
thức mới mẻ và bất ngờ. Chính vì thế, nó tạo nên tính chất hình tượng đậm
nét của đối tượng được miêu tả, đồng thời bộc lộ thái độ, cách nhận xét đánh
giá của tác giả về đối tượng được miêu tả. So sánh tu từ được sử dụng phổ
biến trong các phong cách của Tiếng Việt nhưng chỉ trong văn chương nó
mới thể hiện đầy đủ nhất khả năng tạo hình cũng như biểu cảm.
Ví dụ:
Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.
(Trần Đăng Khoa)
1.3.5. Cơ chế tạo ra biện pháp so sánh tu từ
So sánh được tạo ra nhờ sự quan sát, tưởng tượng là liên tưởng ra
những nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh chúng
21
ta. Hay nói một cách khỏc thỡ cơ chế của so sánh đó là dựa vào cỏc nột đặc
trưng “nhờ quan hệ liên tưởng tương đồng”, cơ chế A – B, Theo cơ chế so
sánh, A là cái được / bị so sánh (yếu tố 1), B là cái được đem ra làm chuẩn
của sự so sánh (yếu tố 4). A và B cú nột tương đồng giống nhau, nhờ B mà
ta hiểu, ta cảm nhận được các đặc điểm của A một cách dễ dàng hơn vì A là
cỏi đớch của so sánh. Như vậy, biện pháp so sánh giữ vai trò thể hiện đặc

nói, gà mở đầu khúc nhạc nhan đề “Bỡnh minh” bằng tiết tấu nhanh khỏe
đầy hứng khở “tờ - rộc……… tờ - re – te – te – te”
(Nguyễn Phan Hách)
- Cách 2: Coi đối tượng không phải là con người như con người và
tâm tình trò chuyện với những đối tượng ấy.
Ví dụ:
Tôi ngước nhìn bầu trời quang đãng vừa dứt trận mưa đầu mùa. Tôi
gọi thầm, khe khẽ: Bướm Rồng! Bướm Rồng! Bướm ơi Bướm!
Bỗng có tiếng đáp nho nhỏ:
- Em đây.
Tiếng êm ái dưới những bụi cây giềng cơm mọc hoang trong góc
tường. Còn đương ngơ ngác, chưa nghe rõ tiếng ai, thỡ tụi thấy một gã
bướm to bằng chiếc lá đa, cỏnh nõu mỡ, lẫn với màu đất ướt nước mưa óng
ánh. Ồ, Bướm Ma. Những con Bướm Ma thì vô khối trong vườn. Con đen,
con nâu, con xám vẫn trông thấy cả lũ bay ra khi tạnh mưa, nhưng tôi không
để ý bao giờ. Ai đợi Bướm Ma làm khỉ gì?
- Em đây mà.
- Hừm, cái Bướm Ma! Tớ chẳng lạ!
Tôi nhăn mũi cau có.
Bướm Ma thở dài:
- Anh chờ Bướm Rồng chứ gì?
23
Tôi hấp tấp hỏi:
- Ấy gặp Bướm Rồng rồi á?
Bướm Ma nói từng tiếng thong thả:
- Không, em thấy anh đợi Bướm Rồng, năm ngoái, năm kia, năm nào
anh cũng đợi, em thương anh mỏi mắt, em ra chơi với anh thôi.
Tôi chăm chú ngẫm nghĩ câu nói của Bướm Ma. Tôi hỏi vu vơ:
- Tớ ấy à?
- Phải, anh đấy.

Trong văn miêu tả, sử dụng so sánh tu từ là một biện pháp tạo hình
khiến cho đối tượng trở nên cụ thể, sinh động, hấp dẫn đối với người đọc.
So sánh có giá trị gợi âm thanh hình ảnh.
Chúng ta hóy cựng xem cách miêu tả hương vị độc đáo về quả sầu
riêng của nhà văn Mai Văn Tạo thông qua phép so sánh:
Sầu riêng thơm mùi thơm của mớt chớn quyện với hương bưởi, bộo
cỏi bộo của trứng gà, ngọt cái vị của mật ong già hạn.
Việc so sánh hương thơm và mùi vị của trái sầu riêng với hàng loạt
mùi vị khác nhau khiến câu văn trở nên vô cùng sinh động và gợi tả, khiến
người đọc như được cùng nếm hương vị đặc biệt theo từng từ ngữ mà tác
giả dùng để miêu tả. Không có phép so sánh, bài văn miêu tả sẽ trở nên khô
khan, kém sinh động, hấp dẫn. Đọc đoạn văn trên của nhà văn Mai Văn Tạo,
dù người đọc chưa một lần ngửi hay ăn quả sầu riêng nhưng bằng cách so
sánh và đưa ra những hương vị của những sự vật gần gũi hơn, thân quen hơn
nhưng người đọc vẫn cảm thấy như quen quen, đã được thưởng thức lần nào
đó rồi. Cùng là đi miêu tả hương vị quả sầu riêng mà chúng ta chỉ nói rằng:
sầu riêng rất thơm và ngon hoặc sầu riêng thơm và ngon lắm thì người đọc
không thể nào hình dung ra hương vị đặc biệt của loại trái cây này.
25

Trích đoạn Vai trò của biện pháp nhân hóa trong văn miêu tả Mục đích thực nghiệm Nội dung thực nghiệm Kết quả thực nghiệm Bài tập 2: Chọn một trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status