TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC & KHXH
Tiểu luận về phương pháp luận
Tên tiểu luận:
Trình bày nội dung yêu cầu cụ thể và cơ sở triết học của nguyên tắc phát
triển. Vận dụng nguyên tắc phát triển để xây dựng kế hoạch hoạt động cá
nhân nhằm hoàn thiện nhân cách bản thân.
Họ và tên sinh viên thực hiện: Hà Văn Long
Lớp: QL19.02 Mã sinh viên: 14101263
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Hán Thị Hồng Liên
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
1
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Lời cam đoan 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Nội dung, yêu cầu cụ thể và cơ sở triết học nguyên tắc phát triển
1. Khái niệm về nguyên tắc phát triển 5
2. Nội dung của nguyên tắc phát triển 6
a. Quy luật mâu thuẫn 6
b. Quy luật lượng - chất 9
c. Quy luật phủ định 11
3. Yêu cầu cụ thể của nguyên tắc phát triển 13
4. Cơ sở triết học của nguyên tắc phát triển 13
Chương II: Kế hoạch hoạt động hoàn thiện nhân cách bản thân 14
1. Mục đích chính và các mục tiêu cụ thể. 15
2. Hoạt động cần làm để hoàn thiện nhân cách bản thân 15
3. Kiểm soát và kiểm tra đánh giá hoạt động 17
PHẦN KẾT LUẬN 18
Nguồn tham khảo 19
4
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Nội dung, yêu cầu cụ thể của nguyên tắc phát triển
1. Khái niệm về nguyên tắc phát triển
Xem xét về sự phát triển cũng có những quan điểm khác nhau, đối lập với
nhau: quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng.
Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn
thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự
thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép
kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Những người theo
quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không
có những bước quanh co, thăng trầm, phức tạp.
Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem xét sự phát
triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần,
vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Dù trong hiện thực
khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo
đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm
thời.
Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi
dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy
ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao
hơn.
Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn giáo về
nguồn gốc của sự phát triển. Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc
của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật. Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật
quy định. Quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật, do đó,
cũng là quá trình tự thân phát triển của mọi sự vật.
Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong
hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạm trù
triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
thuộc, quy định lẫn nhau, đòi hỏi có nhau, nương tựa vào nhau của các mặt đối lập,
mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình. Là sự đồng nhất của các mặt đối
lập; là sự tác động ngang nhau của các mặt đối lập.
Đấu tranh: Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, bài trừ
và phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập. Sự đấu tranh của các mặt đối lập có thể
6
được biểu hiện ở sự ảnh hưởng lẫn nhau hoặc dùng bạo lực để thủ tiêu lẫn nhau
giữa các mặt đối lập,
Mối quan hệ: Mối quan hệ giũa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập thể hiện ở chỗ trong một mâu thuẫn, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập không tách rời nhau, bởi vì trong sự ràng buộc, phụ thuộc quy định lẫn nhau thì
hai mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển trái ngược nhau, đấu tranh với
nhau. Không có sự thống nhất sẽ không có đấu tranh, thống nhất là tiền đề của đấu
tranh, còn đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động,
phát triển.
Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là tất yếu, là kết quả của sự đấu tranh của
các mặt đối lập. Do sự đa dạng của thế giới nên hình thức chuyển hóa cũng rất đa
dạng: có thể hai mặt đối lập chuyển hóa lẫn nhau, cũng có thể cả hai chuyển thành
những chất mới. Sự chuyển hóa của các mặt đối lập phải có những điều kiện nhất
định.
Phát triển là sự đấu tranh của các mặt đối lập: Sự phát triển của sự vật, hiện
tượng gắn liền với quá trình hình thành, phát triển và giải quyết mâu thuẫn. Sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 2 xu hướng tác động khác nhau của
các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy, mâu thuẫn biện chứng cũng bao
hàm cả "sự thống nhất" lẫn "đấu tranh" của các mặt đối lập. Sự thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quá trình vận động, phát triển
của sự vật, sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự
vật.
Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Điều
đó có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời; sự đấu
b. Quy luật lượng - chất
Quy luật lượng - chất hay còn gọi là quy luật chuyển hóa từ những sự thay
đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là một trong ba quy luật
cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin, chỉ cách thức của
sự vận động, phát triển, theo đó sự phát triển được tiến hành theo cách thức thay
đổi lượng trong mỗi sự vật dẫn đến chuyển hóa về chất của sự vật và đưa sự vật
sang một trạng thái phát triển tiếp theo. Ph.Ăng-ghen đã khái quát quy luật này:
“Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển
hóa thành những sự khác nhau về chất”
—Karl Marx
8
Mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất bao gồm chất và lượng nhất
định, trong đó chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi. Sự biến
đổi này tạo ra mâu thuẫn giữa lượng và chất. Lượng biến đổi đến một mức độ nhất
định và trong những điều kiện nhất định thì lượng phá vỡ chất cũ, mâu thuẫn giữa
lượng và chất được giải quyết, chất mới được hình thành với lượng mới, nhưng
lượng mới lại biến đổi và phá vỡ chất đang kìm hãm nó. Quá trình tác động lẫn
nhau giữa hai mặt: chất và lượng tạo nên sự vận động liên tục, từ biến đổi dần dần
đến nhảy vọt, rồi lại biến đổi dần để chuẩn bị cho bước nhảy vọt tiếp theo. Cứ căn
cứ thế, quá trình động biện chứng giữa chất và lượng tạo lên cách thức vận động,
phát triển của sự vật.
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất,
là giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của
sự vật, sự vật chưa biến thành cái khác. Trong giới hạn của độ, lượng và chất tác
động biện chứng với nhau, làm cho sự vật vận động.
Từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Trong mối quan hệ
giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổ định, còn lượng là mặt biến đổi hơn.
Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng.
Song không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất
ngay tức khắc, mặc dù bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng
bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật. Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay
đổi chất của từng mặt, những yếu tố riêng lẻ của sự vật.
Khi lượng biến đổi đến điểm nút thì diễn ra bước nhảy, chất mới ra đời thay
thế cho chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ, nhưng rồi những lượng
mới này tiếp tục biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới. Cứ như vậy,
quá trình vận động, phát triển của sự vật diễn ra theo cách thức từ những thay đổi
về lượng dẫn đến những thay đổi về chất một cách vô tận. Đó là quá trình thống
nhất giữa tính tuần tự, tiệm tiến, liên tục với tính gián đoạn, nhảy vọt trong sự vận
động, phát triển.
Sự thay đổi về chất tác động trở lại đối với sự thay đổi về lượng. Lượng thay
đổi luôn luôn trong mối quan hệ với chất, chịu sự tác động của chất. Song sự tác
động của chất đối với lượng rõ nét nhất khi xảy ra bước nhảy về chất, chất mới
thay thế chất cũ, nó qui định quy mô và tốc độ phát triển của lượng mới trong một
độ mới. Khi chất mới ra đời, nó không tồn tại một cách thụ động, mà có sự tác
động trở lại đối với lượng, được biểu hiện ở chỗ: chất mới sẽ tạo ra một lượng mới
phù hợp với nó để có sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định này có
thê được biểu hiện ở quy mô, nhịp độ và mức độ phát triển mới của lượng.
c. Quy luật phủ định
Quy luật phủ định hay quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy
luật cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin, chỉ ra khuynh
10
hướng của sự phát triển, theo đó sự phát triển của sự vật, hiện tượng có xu hướng,
khuynh hướng lặp lại giai đoạn đầu nhưng ở trình độ cao hơn, phát triển theo hình
xoắn trôn ốc.
“Phủ định cái phủ định là gì? Là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì
vậy mà có tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng to lớn về sự phát triển của tự
nhiên, của lịch sử và của tư duy”
—Ph.Ăng-ghen
Sự ra đời và tồn tại của sự vật đã khẳng định chính nó. Trong quá trình vận
động của sự vật, những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ, sự phủ
mặt phủ định. Sự phủ định lần thứ nhất diễn ra làm cho sự vật cũ chuyển thành cái
đối lập với cái khẳng định ban đầu. Sự phủ định lần thứ hai, sự vật mới với tư cách
là cái phủ định của phủ định đối lập với cái phủ định và dường như trở lại cái ban
đầu nhưng không giống nguyên như cũ mà trên cơ sở cao hơn.
Phủ định của phủ định là sự thống nhất biện chứng của cái khẳng định và
phủ định, là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tố tích cực của cái khẳng định ban
đầu và cái phủ định lần thứ nhất, cũng như các giai đoạn trước đó. Cái tổng hợp
này là sự lọc bỏ những giai đoạn đã qua, vì vậy, nó có nội dung phong phú hơn,
toàn diện hơn. Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu
kỳ phát triển và cũng là điểm khởi đầu cho kỳ phát triển tiếp theo. Sự vật lại tiếp
tục biện chứng chính mình để phát triển. Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới
hơn. Theo triết học Mác-Lênin thì quy luật phủ định của phủ định là quy luật phổ
biến của sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
3. Yêu cầu cụ thể của nguyên tắc phát triển
Phát hiện những xu hướng biến đổi, chuyển hóa, những giai đoạn tồn tại của
bản thân sự vật trong sự tự vận động và phát triển của chính nó.
Xây dựng được hình ảnh chỉnh thể về sự vật như sự thống nhất các xu
hướng, những giai đoạn thay đổi của nó; từ đó phát hiện ra quy luật vận động, phát
triển (bản chất) của sự vật.
Trong hoạt động thực tiễn yêu cầu chủ thể phải:
Chú trọng đến mọi điều kiện, khả năng…tồn tại của sự vật để nhận định
đúng các xu hướng, những giai đoạn thay đổi có thể xảy ra đối với nó;
Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện
pháp thích hợp (mà trước hết là công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến
đổi những điều kiện, phát huy hay hạn chế những khả năng…tồn tại của sự vật
nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo hướng hợp quy luật và có lợi cho
chúng ta.
4. Cơ sở triết học của nguyên tắc phát triển
12
Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vận động
hợp tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn
thiện hơn của một hệ thống vật chất, do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước
nhảy về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ định của phủ định.
13
Chương II: Kế hoạch hoạt động hoàn hiện nhân cách bản thân
1. Mục đích chính và các mục tiêu cụ thể
- Mục đích chính: Trở thành một công dân, một sinh viên có nhân cách tốt.
Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá
từ mối quan hệ qua lại của người đó với những người khác, với tập thể, với
xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt
quá khứ, hiện tại và tương lai. Mọi vật đều tuân theo nguyên tắc phát triển
và con người cũng vậy, chúng ta phải luôn luôn hoàn thiện nhân cách bản
thân để thích ứng tốt với xã hội hiện tại ma chúng ta đang sống.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Rèn luyện để trở thành một công dân có đạo đức, phẩm giá tốt.
+ Trau dồi kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội và các kỹ năng để
trở thành một con người tri thức, có ích cho xã hội.
+ Sống có ý thức, trách nhiệm với môi trường và xã hội.
2. Hoạt động cần làm để hoàn thiện nhân cách bản thân
- Rèn luyện đạo đức, phẩm giá ta cần:
+ Lịch sự trong các hoạt động hàng ngày.
+ Biết ơn tới những anh hùng dân tộc, người có công với đất nước và
những người đã giúp đỡ mình.
+ Lễ độ với những người lớn tuổi, bậc cao nhân.
+ Tôn trọng những người xung quanh mình.
+ Tự trọng với chính bản thân trong những những việc làm, lời nói.
+ Thật thà, nói lên sự thật mà mình biết, không dấu diếm che đậy cái
xấu đang tồn tại.
+ Tiết kiệm tiền bạc, tài nguyên thiên nhiên trách lãng phí xa hoa.
+ Tương trợ, giúp đỡ những người khó khăn, kém may mắn hơn mình.
dòng sông, ao hồ, bờ biển…
+ Đối với xã hội: Giúp đỡ mọi người khi họ gặp khó khăn, cụ già, trẻ
em không nơi nương tựa. Tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, hiến
máu nhân đạo.
3. Kiểm soát và kiểm tra đánh giá hoạt động
- Ghi chú lịch sử các hoạt động hằng ngày để kịp thời phát hiện và sửa chữa
những lỗi mà mình mắc phải.
- Hằng tháng phải kiểm tra, liệt lại lại toàn bộ những việc đã làm được, giúp
đỡ được bao nhiêu người, làm được gì cho bản thân và người khác, học được
những gì trong một tháng qua.
15
- Dựa vào những dữ liệu trên để phân tích điểm nào tốt để phát huy, điểm nào
chưa tốt để có biện pháp khắc phục bản thân.
- Hỏi một số người thường xuyên tiếp xúc để biết họ nghĩ gì về mình, họ thấy
mình như thế nào, điểm mạnh điểm yếu ra sao và dựa vào đó để bổ sung
hoặc có kế hoạch tiếp theo.
16
PHẦN KẾT LUẬN
Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm phát triển.
Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào
đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là
phát triển.
Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại
ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng,
phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi.
Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến
đổi chính của sự vật.
Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình
phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn. Trên cơ sở ấy để tìm ra phương
xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2006
6. Giáo trình Kinh tế học Chính trị Mác – Lê nin (tái bản), Hội đồng Trung
ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lê
nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, năm 2005
7. Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung),
Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn
khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2003
8. Nhập môn Marx, Rius (Eduardo del Rio), người dịch: Nguyễn Hà, hiệu
đính: Bùi Văn Nam Sơn, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm
2006
9. Một số vấn đề Triết học Mác – Lênin: Lý luận và thực tiễn (tái bản có bổ
sung), Lê Doãn Tá, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm
2003
10. Triết học Mác – Lênin (tập II), Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, năm 1994 (xuất bản lần thứ ba)
11. Triết học Mác – Lênin (tập III), Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, năm 1994 (xuất bản lần thứ ba)
12. Báo điện tử VnExpress: Bài viết chung tay bảo vệ môi trường là trách nhiệm
của cộng đồng
18