Báo cáo khoa học : Đánh giá ảnh hưởng về kinh tế xã hội và môi trường của kiểu canh tác lâm ngư kết hợp ở rừng đước Cần Giờ - Pdf 25


2
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
________________
BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu)

Đánh giá ảnh hưởng về kinh tế - xã hội và
môi trường của kiểu canh tác lâm ngư kết
hợp ở rừng Đước Cần Giờ
Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Đức Tuấn
Cộng tác viên: ThS. Huỳnh Thanh Tú
ThS. Nguyễn Thanh Hải
ThS. Cao Huy Bình
CN. Châu thị Thu Thủy

qua Ec tầng 10). Trong khi đó sự khác biệt về chiều cao của rừng đước Cần Giờ
bên trong và ngoài đầm là do hai yếu tố tác động chính là độ cao địa hình (HT)
và độ mặn ở tầng mặt của sàn rừng (biểu hiện thông qua Ec tầng 10).
4. Các giải pháp đề xuất trong quản lý của đề tải này chủ yếu là thi hành
luật Đất đai (2003), luật Thủy sản (2003) và luật Bảo vệ và phát triển rừng
(2003), nhằm quản lý bền vững hoạt động sản xuất của Đầm trong phạm vi rừng
phòng hộ Cần Giờ.
4
SUMMARY OF RESEARCH CONTENT

The research: “Evaluating the social economic and environmental effects
of sylvofishery model within Can Gio mangrove” carried on from December
2009 to June 2012. The result is as follow:
1. There are 324 natural shrimp trappers within Can Gio protected
mangrove, covers around 3,083 ha of water surface, average productivity is
327,33 kg/ha/year at this time, creating income for each owner household around
5 – 20 million VND/household/month. This model providing jobs for 1.157
laborers; the owners can take back the investment money after 4 years of
operation; these shrimp trappers forming 1,203 km of earthen dyke for patrolling
within mangrove forest.
2. It has differences between the planted Rhizophora apiculata trees inside
and outside of shrimp trappers; The average height of the tree inside is 14.053m,
outside is 14.048m; The average diameter of the tree inside is 12.45cm, outside
is 13.38cm. It shows that the mangrove productivity inside is lower than outside.
3. The differences of the growth height of planted mangrove mainly from
the differences of organic solving capacity on the surface of forest floor
(performed through the rate of C/N in 10cm soil layer) and the salinity on the

1.4. Tổng quan về đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 25
1.5. Lược sử nghề nuôi tôm tại Cần Giờ 28
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Nội dung nghiên cứu 30
2.2. Phương pháp nghiên cứu 30
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Chính sách nhà nước về thủy sản 39
3.2 Sự ảnh hưởng về kinh tế - xã hội của kiểu sản xuất đầm tại
Cần Giờ 42

6
3.3. Sự ảnh hưởng về môi trường của kiểu canh tác Đầm 62
3.4. Các giải pháp cần thiết đối với kiểu sản xuất đầm trong rừng đước
Trồng tại Cần Giờ 86
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
4.1. Kết luận 97
4.2. Kiến nghị 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 103

3.1.
Phân theo độ tuổi
44
3.2.
Trình độ học vấn
44
3.3.
Lao động bình quân của Đầm
46
3.4.
Mức thu nhập trung bình tháng của hộ nuôi tôm (triệu đồng)
48
3.5.
Sản lượng thu hoạch từ nuôi tôm của các hộ gia đình
49
3.6.
Sản lượng thu hoạch tôm (kg/tháng) tại các xã khác nhau
49
3.7.
Sản lượng bình quân năm của một đầm
52
3.8.
Chi phí và thu nhập nuôi tôm của người dân trong các khu rừng
54
3.9.
Mức độ quan hệ giữa các tổ chức với các hộ sản xuất Đầm
59
3.10.
Ý kiến người dân về kết quả nuôi tôm
60

3.20.
Các chỉ tiêu hóa tính của nước trong đất bên trong và ngoài
đầm
71
3.21.
Kết quả so sánh về đường kính rừng Đước bên trong và bên 72
ngoài Đầm
73
3.22.
So sánh sinh trưởng rừng đước bên trong và ngoài đầm
74
3.23.
so sánh về trữ lượng rừng đước trên các ô tiêu chuẩn bên trong
và bên ngoài đầm
75
3.24.
Sinh trưởng và tăng trưởng đường kính theo tuổi giữa trong và
ngoài đầm
76
3.25.
Sinh trưởng tăng trưởng chiều cao theo tuổi giữa trong và ngoài
đầm
77
3.26.
Kết quả phân tích tương quan giữa sinh trưởng đường kính và
môi trường
80
3.27.
Kết quả phân tích tương quan giữa sinh trưởng chiều cao và
môi trường

Sinh trưởng chiều cao rừng đước theo tuổi giữa trong và
ngoài đầm
78
3.5.
Lượng tăng trưởng hằng năm về đường kính rừng đước bên
trong và bên ngoài đầm
78
3.6.
Lượng tăng trưởng hằng năm về chiều cao rừng đước bên
trong và bên ngoài đầm.
79
3.7.
Phương trình hồi quy giữa thể tích cây rừng và lượng phù sa
84
3.8.
Phương trình hồi quy giữa mật độ cây rừng và lượng phù sa
85
3.9.
Phương trình hồi quy giữa tỷ lệ C/CV và lượng phù sa tích
Lũy bên trong Đầm
86
3.10.
Cây vấn đề về tồn tại trong quản lý kiểu sản xuất Đầm trong
rừng Đước trồng tại Cần Giờ
87
Độ phèn
UBND
Ủy ban nhân dân
BQL
Ban Quản lý
BQL RPH
Ban Quản lý rừng phòng hộ
C/CV
Chiều ngang mặt cống/chu vi đầm
D
Đường kính
D(tán)
Đưuờng kính tán
Hvn
Chiều cao vút ngọn
Hdc
Chiều cao dưới cành
A
Năm tuổi
Dtb
Đường kính trung bình
Id
Độ tăng trưởng đường kính
Htb
Chiều cao trung bình
Ih
Độ tăng trưởng chiều cao
O
Ô tiêu chuẩn
M

Trong những năm gần đây, kiểu sản xuất này đang gặp phải nhiều vấn
đề khó khăn như: Việc lấy đất để tu sửa đầm đập vẫn đang bị cấm theo quy
định của pháp luật (Luật Bảo vệ và phát triển rừng) trong khi hệ thống bờ
đầm sau nhiều năm sản xuất đã xuống cấp rất nhiều. Tình trạng ô nhiễm
nguồn nước ngày cảng trở nên trầm trọng gây ảnh hưởng lớn đến sản lượng
thu hoạch. Việc khoanh bao một diện tích rừng rất lớn có thể gây ảnh hưởng
đến sự sinh trưởng và tăng trưởng của rừng Đước, làm suy giảm chức năng
phòng hộ của khu rừng. Với nhiều khó khăn cùng tồn tại như vậy liệu mô
hình sản xuất này có còn mang lại hiệu quả về kinh tế cho người dân sống
gần rừng hay không? Có hay không việc ảnh hưởng của mô hình sản xuất
này lên sự sinh trưởng và tăng trưởng của rừng Đước và nếu có thì ở mức độ
nào?

11
3. Nội dung:
- Tìm hiểu sự ảnh hưởng về kinh tế xã hội của mô hình sản xuất đầm
trong khu vực rừng Đước trồng tại Cần Giờ.
- Tìm hiểu sự ảnh hưởng về môi trường của kiểu sản xuất đầm trong
khu vực rừng Đước trồng tại Cần Giờ.
- Căn cứ trên kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm quản lý
bền vững kiểu sản xuất đầm trong khu vực rừng Đước trồng tại Cần Giờ.
4. Sản phẩm của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài là một bộ số liệu về các ảnh hưởng của
kiểu sản xuất Đầm đến kinh tế xã hội và môi trường trên địa bàn huyện Cần
Giờ cùng một số giải pháp quản lý phù hợp căn cứ trên luật Đất đai (2003),
luật Thủy sản (2003) và luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2003).


khác nhau trên các châu lục.

13
Tuy nhiên, các hàm toán học hay các hàm sinh trưởng được tìm ra chỉ
thích hợp với một số loài cây ở một vùng sinh thái cụ thể nào đó. Với các loài
cây khác nhau ở các vùng sinh thái khác nhau, các hàm toán học này có phù hợp
hay không cần có những nghiên cứu ứng dụng và kết luận về mức độ phù hợp
của chúng.
Tiêu biểu và đại diện cho những kết quả nghiên cứu sinh trưởng cây rừng
(hay còn gọi là hàm sinh trưởng) được công bố và thường được vận dụng rộng
rãi trên thế giới:
+ Hàm Gompertz
1
.
0
.
a
A
a
e
emY




+ Hàm Backmann
)(.)(.)(
2
210
ALgaALgaaYLg 

).(
0
a
Aa
eaY



Trong đó: - Y là đại lượng sinh trưởng (chiều cao, đường kính …).
- m là giá trị cực đại có thể đạt được của Y.
- a
0
, a
1
, a
2
là các tham số của phương trình.
- A là tuổi cây rừng hay lâm phần.
- e là số mũ tự nhiên Neper (e = 2,7182…).
Trong các hàm sinh trưởng đã được trình bày ở trên, có thể coi hàm
Gompertz là hàm cơ sở ban đầu cho việc phát triển tiếp theo của các hàm sinh
trưởng khác.
1.1.2. Nghiên cứu về các phương thức sản xuất thủy sản truyền thống trong
rừng ngập mặn
- Ở Ấn Độ hệ thống canh tác truyền thống với sản phẩm thu được chủ yếu
là các loại cá, tôm chiếm một phần nhỏ trong sản lượng thu hoạch. Sản lượng cá

14
tôm thu hoạch tương đối thấp chỉ từ 200 đến 500 kg/ha/năm. Do trữ lượng của hệ
thống canh tác truyền thống thấp, người dân dần chuyển sang các mô hình nuôi

thủy sản đóng vai trò chủ chốt. Việc nuôi trồng thủy sản không chỉ là nguyên
nhân gây ra tình trạng phá rừng mà nó còn gián tiếp gây ra sự xâm nhập mặn, sự
tích tụ mùn và xói mòn, sự ô nhiễm nguồn nước và đất cũng như việc lan truyền
dịch bệnh [15].
- Trần Phú Cường, Lê Quý Vượng và Đặng Trung Tấn (1996), trong
nghiên cứu “Tái lập hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi tôm tại khu vực duyên
hải tỉnh Minh Hải” đã có nhận định: Việc làm đê bao quanh một diện tích nào đó
để giữ tôm trong một thời gian ngắn (làm Đầm) sẽ gặp khó khăn trong việc lấy
nước ra vào cũng như vệ sinh khu vực nuôi trồng. Khi có tôm chết, sự lan truyền
dịch bệnh là rất khó kiểm soát. Việc giữ một mực nước thích hợp trong Đầm cho
sự sinh trưởng và phát triển của cây Đước là cần thiết [18].
- Hai tác giả Võ Văn Ngân và Nguyễn Thị Hoa (1996), trong bài báo cáo
“Thanh Phu forestry enterprise (Ben Tre) with its effective silvo-fishery
combination model” tại hội thảo quốc gia về mối quan hệ giữa việc tái lập rừng
ngập mặn và ngư nghiệp vùng duyên hải Việt Nam cho rằng, mô hình lâm ngư
kết hợp mang lại hiệu quả cao như:
* Rừng phát triển tốt, rừng phía trong phần đê bao phát triển tốt hơn phía
bên ngoài cả về đường kính và chiều cao.
* Sản lượng tôm thu hoạch tăng lên. Hiệu quả kinh tế của khu vực có Lâm
ngư kết hợp cao hơn từ 2 - 3 lần khu vực chỉ trồng Đước.
Tuy nhiên các tác giả lại không đưa ra phương pháp so sánh và đánh giá.
Bên cạnh đó việc xây dựng những đê ngăn nước lớn cao 1,2m, bề mặt rộng 4m,

16
đáy rộng 6m bằng cơ giới là hoàn toàn không khả thi với công tác quản lý rừng
ngập mặn tại Cần Giờ [20].
- Viên Ngọc Nam và các cộng sự cũng đã có một số nghiên cứu về tăng
trưởng của cây Đước trồng tại Cần Giờ: Tăng trưởng và cấu trúc rừng đước tại
khu thực nghiệm Huyện Duyên Hải (1988) [4], Tăng trưởng đường kính của
Đước tại huyện Cần Giờ, Tp. Hồ Chí Minh (1995) [6] hay Nghiên cứu xây dựng

17
Đất rừng và rừng chiếm 53,7%, diện tích sông ngòi và mặt nước chiếm
30,6 % diện tích.
Cần Giờ có bờ biển dài gần 20 km, vùng biển có thể nuôi trồng nhiều loài
hải sản như: nghêu, tôm, sò, hàu, cá Biển là nguồn lợi to lớn của Cần Giờ, vì
vậy trong cơ cấu phát triển kinh tế của huyện, ngành thủy sản luôn được xem là
ngành kinh tế mũi nhọn, là một trong những động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Huyện Cần Giờ hiện hữu một khu rừng ngập mặn đan xen với hệ thống
sông rạch dày đặc. Huyện được xác định có vị trí quan trọng về kinh tế, quốc
phòng, là huyện ven biển, cửa ngõ hướng ra Biển Đông, có khu rừng Sác là lá
phổi của Thành phố.
1.3.2. Địa hình
Huyện Cần Giờ có địa hình tương đối bằng phẳng, phần lớn diện tích
thuộc đồng bằng thấp ven biển. Độ cao địa hình thay đổi không lớn, khoảng từ
0,2 - 0,5 m đến 1,3 - 1,5 m. Nhưng nhìn chung, hướng địa hình thấp dần từ Tây -
Bắc và Đông - Nam vào trung tâm địa bàn và hình thành dạng lòng chảo.
Khu Tây - Bắc và Đông - Nam thuộc khu vực cao nhất địa bàn (trừ Giồng
Chùa) có cao độ địa hình 1,0 - 1,5 m là khu vực đang được đô thị hóa mạnh mẽ
và cũng là khu vực nông nghiệp tốt nhất của địa bàn. Khu trung tâm, địa hình
thấp nhất (0,2 - 0,5 đến 0,7 - 0,9 m) là khu vực của rừng phòng hộ và nuôi trồng
thủy sản.
Đường bờ biển Cần Giờ - Long Hòa dài khoảng 14 km và phân bố theo
hướng Tây Nam - Đông Bắc, mũi Đông Hòa ở phía Nam nhô ra Vịnh Đồng tranh
rộng khoảng 10 km và mũi Cần Giờ ở phía Đông Bắc nhô ra Vịnh Gành Rái.
1.3.3. Khí hậu
Cần Giờ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới xích đạo, nhìn chung mang đặc
tính nóng ẩm và chịu quy luật của gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưa và khô

18
rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm

có thể biến động từ 14 Kcal/cm
2
/tháng xuống 10 Kcal/cm
2
/tháng.
Gió: Chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính:
- Gió mùa Nam-Tây Nam, xuất hiện từ tháng 5-10, trùng với mùa mưa,
sức gió mạnh nhất thường vào tháng 7 và 8.
- Gió mùa Bắc - Đông Bắc, xuất hiện từ tháng 11 – 4, trùng với mùa khô,
mạnh nhất vào tháng 2 và 3.
Độ ẩm không khí và lượng bốc hơi: Độ ẩm tại huyện Cần Giờ nói chung,
cao hơn các nơi khác trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh từ 4% - 8%. Trong
mùa mưa, độ ẩm từ 79% - 83%, ẩm nhất là tháng 9, đạt 83%. Trong mùa khô, độ
ẩm từ 74% -77%, khô nhất là tháng 4 chỉ đạt 74%.

19
1.3.4. Mạng lưới sông ngòi
Trong địa bàn của huyện Cần Giờ, Lòng Tàu và Soài Rạp là hai hệ sông
chính chi phối toàn bộ thủy văn của hầu hết kênh rạch khác. Khu vực nghiên cứu
có mạng lưới sông rạch chằng chịt, đan xen nhau (sông Thị Vải, Gò Gia, Cái
Mép và sông Lòng Tàu). Sông Lòng Tàu, Cái Mép có cửa sông dạng phểu
(estuary), chính vì vậy nên thủy triều lên mạnh phía sông Lòng Tàu, Cái Mép.
Hiện sông Lòng Tàu là đường giao thông thủy chính, cho phép các tàu biển có tải
trọng dưới 20.000 tấn ra vào cảng Sài Gòn. Phần lớn các sông có hướng Bắc-
Đông Bắc, dạng uốn lượn.
Chế độ thủy triều: Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trong vùng có chế độ
bán nhật triều không đều (hai lần nước lớn và hai lần nước ròng trong ngày).
Biên độ triều khoảng 2 m khi triều trung bình và 4 m khi triều cường. Biên độ
triều lớn nhất thường xảy ra từ tháng 9 đến tháng giêng năm sau. Đỉnh triều cao
nhất thường xuất hiện vào tháng 10 và 11, thấp nhất vào tháng 4, 5.

tích trẻ hơn. Thành phần gồm lớp bùn xám xanh, phân bố khá liên tục và nằm
dưới mặt đất khoảng vài mét, giàu di tích thực vật và Trùng lỗ, hàm lượng
sulphat tổng số từ vài ngàn đến 20.000ppm; Canxi dồi dào trong khoảng 2.000 –
4.000ppm; mùn từ 1 – 3%; khoáng sét Montmorillonit chiếm ưu thế.
- Trầm tích bãi thủy triều (mQ
IV
2-3
): phân bố ở cửa sông Thêu, khu vực
giáp giữa tiểu khu 14 và 19, bề dày khoảng 10m trở lại, thành phần cát chiếm ưu
thế, một số nơi có thành tạo cát vôi.
- Trầm tích biển – đầm lầy (mbQ
IV
3
): còn được gọi là trầm tích rừng ngập
mặn hay trầm tích đầm mặn, phát triển trên các bãi thủy triều hoặc trầm tích
vũng vịnh, đang được hình thành và tiếp tục phát triển. Vật liệu mịn, giàu hữu
cơ, đôi nơi sự tích lũy các chất hữu cơ dồi dào sẽ tạo ra các vĩa than bùn. Hàm
lượng pyrite từ 2 – 10%, nguồn gốc của sự tạo phèn trong đất và các độc chất đối
với cây trồng. Sự có mặt pyrite trong trầm tích biển – đầm lầy Cần Giờ có lẽ liên
quan đến mực nước biển 2m hoặc muộn hơn. Bề dày trầm tích này khoảng 3m
trở lại.

21
Rừng ngập mặn, nhất là rừng Đước phát triển tốt trên trầm tích biển – đầm
lầy giàu sét và hạn chế hoặc cằn cỗi trên trầm tích biển – đầm lầy giàu cát.
1.3.6. Đặc điểm thổ nhưỡng
Theo Nguyễn Văn Đệ (2005), đất của Cần Giờ còn rất trẻ, đang hình thành
và chứa nhiều yếu tố bất lợi đối với sản xuất nông nghiệp, nổi bật là phèn và
mặn, nhưng mặn giữ yếu tố chủ đạo. Hầu như toàn bộ đất đai trên địa bàn đều có
tầng sét chứa pyrite (tầng sinh phèn) nằm ở các độ sâu khác nhau, khoảng từ 20 -

(Mp
2
m
2
): phân bố nhiều nhất ở tiểu khu 14 và một số ít ở tiểu khu 23. Sét và thịt
chiếm 85 – 95%. Đất đang được hình thành, chưa thật ổn định, nhão toàn phẩu
diện. Loại đất này có cùng tính chất hóa đất của nhóm đất mặn phèn tiềm tàng,
tầng sinh phèn sâu.
Ngoài ra, ở huyện Cần Giờ còn hiện diện một số loại đất khác: Đất mặn
phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn nông, ngập mặn theo con nước; Đất mặn phèn

22
tiềm tàng, tầng sinh phèn nông, nhiều bã hữu cơ, ngập mặn theo con nước; Đất
cát ngập triều; Đất bùn ngập triều . . .
1.3.7. Thảm thực vật và tài nguyên rừng
Rừng ngập mặn Cần Giờ là một quần thể động thực vật đa dạng, rất lý
tưởng cho mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái và nghỉ ngơi.
Diện tích rừng trước năm 1975 rất biến động do thiếu kiểm soát và ảnh hưởng
của thuốc khai quang. Từ năm 1978 rừng ngập mặn Cần Giờ được tập trung phục
hồi chủ yếu là trồng lại cây Đước và khoanh nuôi bảo vệ cho tái sinh tự nhiên
các loài khác trên bãi bồi. Sự phục hồi và phát triển tốt của hệ sinh thái rừng
ngập mặn đã tạo và môi trường sống thuận lợi cho các loài sinh vật. Nhiều loài
chim thú quý trở lại sinh sống và phát triển rất nhanh.
Về thực vật, theo điều tra của Ban Quản Lý Rừng Phòng Hộ Môi Trường
Thành Phố Hồ Chí Minh năm 1999 có 35 loài thực vật thân gỗ thực sự ngập
mặn, hiên nay đã thống kê được 37 loài gồm: Đước, Đưng, Bần, Mấm, Giá, Dà,
Cóc, Xu, Sú, Vẹt…. Mức độ phong phú này so với các khu rừng ngập mặn trong
nước cũng như các nước trong khu vực châu Á là phong phú, ví dụ Campuchia
(26/35 loài), Thái Lan (37/35 loài), Indonesia (37/35 loài), Malaysia (35/35 loài),
Philippines (32/35 loài), Pakistan (5/35 loài), New Zealand (1/35 loài). Đồng thời

chặt, ít ngập triều, thuần loại hoặc hỗn giao với Ráng đại (Acrostichum aurerum),
Lức (Pluchea indicas), Tra Lâm vồ (Thespesia populnea)…
- Quần xã Dà (Ceriops tagal, C. zippeliana) – Cóc – Giá (Excoecaria
agallocha) phân bố trên đất sét chặt ngập triều, cao.
- Quần xã Ráng phân bố khá rộng trên vùng đất từ mặn sang lợ, nơi đất
cao chỉ ngập khi triều cường.

24
- Quần xã Bần chua (Sonneratia caseolaris) phân bố ở vùng đất mới bồi
dọc bờ sông, nước lợ. Quần xã Bần chua có thể mọc thuần loại hoặc hỗn giao với
Mấm trắng, Mấm đen tùy theo độ cao của đất.
- Quần xã Dừa nước (Nypa fruiticans) phân bố dọc theo kinh rạch có độ
mặn thấp (nước lợ). Đất phù sa bồi đắp đã bắt đầu ổn định, chặt. Quần xã dừa
nước có thể mọc thuần loại hoặc hỗn giao với Mái dầm, Ô rô, Lác, Cói…
Về động vật, sau 22 năm phục hồi rừng ngập mặn Cần Giờ số lượng loài
cũng như số lượng cá thể đều tăng. Hiện nay theo khảo sát sơ bộ của dự án khả
thi Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Rừng Ngập Mặn Cần Giờ năm 1999 kết quả như
sau:
- Khu hệ động vật thủy sinh không xương sống có trên 700 loài thuộc 44
họ, 19 bộ, 6 lớp, năm ngành.
- Khu hệ cá có trên 137 loài thuộc 39 họ và 13 bộ.
- Khu hệ động vật có xương sống trên cạn có 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò
sát. Trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như: Tắc kè
(Gekko gekko), Kỳ đà nước (Varanus salvator), Trăn đất (Python molurus), Trăn
gấm (Python reticulatus), Rắn Cạp nong (Bungarus fasciatus), Rắn Hổ mang
(Naja naja), Rắn Hổ chúa (Ophiophagus hannah), Vích (Chelonia mydas), Cá
sấu hoa cà (Crocodylus porosus)…
- Khu hệ chim có khoảng 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ. Trong đó có 51 loài
chim nước và 79 loài không phải chim nước sống trong nhiều sinh cảnh khác
nhau. Với 130 loài chim Cần Giờ có khu hệ chim phong phú hơn so với rừng

nhiều so với các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh.
+ Về giao thông
Đặc thù riêng của Cần Giờ là tiếp giáp với biển và hệ thống sông rạch
chằng chịt. Trước kia, đường thủy là tuyến giao thông chính của huyện Cần Giờ
trong lưu thông hàng hóa và đi lại của cư dân Cần Giờ, giữa các xã và với bên
ngoài. Hiện nay, tuy đã có hệ thống giao thông đường bộ nối liền giữa các xã (trừ

26
xã đảo Thạnh An) phục vụ cho việc đi lại của nhân dân trong huyện nối liền với
thành phố Hồ Chí Minh bằng phà Bình Khánh, nhưng hệ thống đường thủy vẫn
còn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng
Cần Giờ. Đặc biệt, hệ thống sông Lòng Tàu được xem là đường giao thông thủy
chính đê các tàu biển có tải trọng lên đến 20.000 tấn từ biển Đông vào cảng Sài
Gòn.
Về đường bộ, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện Cần Giờ gồm một
trục đường chính (từ phà Bình Khánh đến thị trấn Cần Thạnh) đang được nâng
cấp mở rộng trãi nhựa lên đến 6 làn xe, dài 36,5 km và các tuyến đường liên xã
được trãi đá với lớp nhựa mõng đáp ứng cơ bản nhu cầu đi lại của nhân dân.
Ngoài ra, các đường nội xã cũng đã và đang được nâng cấp trãi bê tông, cầu khỉ
được thay thế và bê tông hóa trên 60%.
+ Về điện nước
Hệ thống mạng lưới điện trung – hạ thế của Cần Giờ được khởi công từ
năm 1990, cho đến nay gần như đã được hoàn chỉnh, bảo đảm cho nhu cầu sinh
hoạt, sản xuất cũng như hoạt động thương mại – dịch vụ - du lịch. Theo thống kê
năm 2010 của huyện Cần Giờ, đên nay đã có đến 90% hộ dân ở Cần Giờ được
cung cấp điện.
Về cung cấp nước sạch, hầu hết các xã đều có hệ thống cung cấp nước cục
bộ, đáp ứng được phần nào nhu cầu nước sạch trên địa bàn. Hiện nay nguồn cung
cấp nước sạch cho 5 xã: Bình Khánh - An Thới Đông - Tam Thôn Hiệp - Lý
Nhơn – Thạnh An chủ yếu được chở bằng sà lan cùng hệ thống đường ống dẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status