Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
LỜI NÓI ĐẦU
Đặt vấn đề nghiên cứu:
Tối ưu hóa cấu trúc vốn của các Công ty là nhiệm vụ quan trọng của nhà
Quản trị tài chính. Có nhiều lý thuyết hiện đại về cấu trúc vốn công ty để giải thích sự
khác biệt trong việc lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty. Tuy nhiên, ở trong bối cảnh
kinh tế và môi trường thể chế của Việt Nam đã có những tác động đến việc lựa chọn
cấu trúc vốn tại các công ty. Đề tài này tập trung phân tích cấu trúc vốn của các công ty
niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP.HCM để tìm hiểu và phân tích
những nhân tố tác động đến việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn cho công ty một cách tối
ưu.Hiện nay xu hướng xây dựng cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn
là một vấn đề bỏ ngỏ, đang được các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp rất quan tâm
để tìm cách làm tăng giá trị của doanh nghiệp mình lên. Vì thế, đây là một vấn đề mang
tính thực tiễn rất cao, giúp điều chỉnh hiệu quả điều hành hoạt động tài chính của doanh
nghiệp, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Nhận thức được vấn đề trong quá trình học tập
tại trường và quá trình tìm hiểu về thực trạng Doanh nghiệp Việt Nam nên em nghiên
cứu đề tài : “XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU
TRÚC VỐN CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM”
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung: Có được một đánh giá sơ bộ về những nhân tố nào ảnh
hưởng đến cấu trúc vốn doanh nghiệp, ảnh hưởng như thế nào và ở mức độ nào, tìm
hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đó. Trên cơ sở phân tích các số liệu cấu trúc vốn của các
công ty cổ phần tại Việt Nam trong năm 2011 vừa qua, em đã dùng phần mềm Eview
để tiến hành chạy hồi quy và đưa ra được các kết quả của bài nghiên cứu.
Mục tiêu cụ thể: phân tích đánh giá các chỉ tiêu tài chính ảnh hưởng đến
quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp như:
- Nhân tố đặc trưng của từng ngành trong nền kinh tế
Page | 1
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
- Nhân tố tăng trưởng
1.1.1. Khái niệm
Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp
hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương
tiện vật chất và hoạt động kinh doanh.
Cấu trúc vốn là sự kết hợp nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần
ưu đãi, cổ phần thường được dùng để tài trợ quyết định đầu tư của một doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính
thông qua các phương án kết hợp giữa bán cổ phần, quyền chọn mua cổ phần, phát
hành trái phiếu và đi vay. Cấu trúc vốn tối ưu là phương án, theo đó, doanh nghiệp có
chi phí vốn nhỏ nhất và có giá cổ phiếu cao nhất.
Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp
không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới
doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này
tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.
Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của
doanh nghiệp. Tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp, đồng
thời giảm mức độ phân tán các quyết định quản lý (đặc biệt với số lượng hạn chế cơ hội
kinh doanh và đầu tư). Gánh nặng nợ, mặt khác, tạo áp lực với doanh nghiệp. Chi phí
vay nợ có tác động đáng kể tới vận hành kinh doanh, thậm chí, dẫn tới đóng cửa doanh
nghiệp. Tài trợ từ vốn góp cổ phần không tạo ra chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, các cổ đông có thể can thiệp vào hoạt động điều hành doanh nghiệp. Kỳ
vọng cao vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư cũng tạo sức ép đáng kể
cho đội ngũ quản lý.
Page | 3
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
1.1.2. Đặc điểm
1.1.2.1 Nguồn vốn vay
Trong nền kinh tế thị trường hầu như không một doanh nghiệp nào hoạt động
sản xuất kinh doanh chỉ bằng nguồn vốn tự có mà phải hoạt động bằng nhiều nguồn
vốn, trong đó nguồn vốn vay sử dụng đáng kể.
trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn gồm vốn đầu tư xây dựng
cơ bản và kinh phí sự nghiệp (kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp phát không hoàn
lại )
Như vậy, khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu là nói đến nguồn vốn đầu tiên
mà doanh nghiệp huy động được. Bởi vì, một doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt động
sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có vốn điều lệ ( vốn góp nếu công ty cổ phần
hoặc là vốn từ ngân sách nhà nước cấp nếu là doanh nghiệp nhà nước). Tỷ trọng nguồn
vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản phản ánh tình hình chủ động về tài chính của doanh
nghiệp
1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN TRONG DOANH
NGHIỆP.
1.2.1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp
1.2.1.1. Qui mô doanh nghiệp
Được đo lường bằng giá trị logarith của tổng tài sản. Theo Lý thuyết đánh đổi
thì quy mô của công ty có mối quan hệ tỷ lệ thuận (+) với nợ vay, bởi vì các công ty lớn
thường có rủi ro phá sản thấp và có chi phí phá sản thấp. Ngoài ra, các công ty lớn có
chi phí vấn đề người đại diện của nợ vay thấp, chi phí kiểm soát thấp, ít chênh lệch
thông tin hơn so với các công ty nhỏ hơn, dòng tiền ít biến động, dễ đang tiếp cận thị
trường tín dụng, và sử dụng nhiều nợ vay hơn để có lợi nhiều hơn từ tấm chắn thuế. Các
Page | 5
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
nghiên cứu của Wiwattnakantang (1999), Huang và Song (2002) và Chen (2004) ở các
nước đang phát triển; nghiên cứu của Titman và Wessels (1988) và Rajan và Zingales
(1995) ở các nước phát triển cho thấy quy mô của công ty và đòn bẩy tài chính có mối
quan hệ tỷ lệ thuận (+). Mặt khác, nghiên cứu của Beven và Danbolt (2002) lại cho thấy
quy mô công ty có quan hệ tỷ lệ nghịch với nợ ngắn hạn và tỷ lệ thuận với nợ dài hạn.
1.2.1.2. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Được đo lường bằng tỷ lệ tài sản lưu động trên tổng nợ ngắn hạn. Tính thanh
khoản này có tác động (+) và (-) đến quyết định cơ cấu vốn. Thứ nhất, các công ty có tỷ
lệ thanh khoản cao có thể sử dụng nhiều nợ vay do công ty có thể trả các khoản nợ vay
giả định này.
1.2.1.5. Chính sách quản lý của lãnh đạo công ty
Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers đã cho rằng không có thể không có
một cấu trúc vốn mục tiêu riêng. Lý thuyết này hàm ý rằng các doanh nghiệp thích tài
trợ nội bộ hơn. Nợ thường sẽ được ưu tiên phát hành đầu tiên và vốn cổ phần bán ra
bên ngoài là lựa chọn cuối cùng. Bởi vì, tài trợ nội bộ giúp các doanh nghiệp sẽ không
phải công bố thông tin và chịu sự giám sát theo luật như khi bán chứng khoán mới.
Việc cấp quản lý có sẵn lòng chấp nhận rủi ro hay không thường có tác động
lớn đến cấu trúc vốn mà doanh nghiệp lựa chọn. Một vài giám đốc chấp nhận cấu trúc
vốn có nhiều rủi ro và có những giám đốc lại không thích rủi ro. Doanh nghiệp sẽ bị
chịu chi phí phá sản khi sử dụng vốn không hiệu quả.
Chủ sở hữu và các thành viên góp vốn không muốn phát hành thêm cổ phiếu
vì sợ mất đi một phần hay toàn bộ quyền kiểm soát việc điều hành doanh nghiệp. Nếu
cổ phần thường của doanh nghiệp có sẵn ngoài công chúng, một doanh nghiệp lớn có
thể mua quyền kiểm soát doanh nghiệp một các tương đối dễ dàng. Vì vậy, các chủ sở
hữu đều giữ cổ phần của mình và tài trợ tăng trưởng bằng nợ, cổ phần ưu đãi hay lợi
nhuận giữ lại hơn so với phát hành thêm cổ phần thường. Ngay cả khi biện pháp này
làm cho tốc độ tăng trưởng bị chậm lại còn hơn là chủ doanh nghiệp bị mất quyền kiểm
soát.
Page | 7
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
1.2.1.6. Nhân tố tài sản hữu hình của doanh nghiệp
Đặc điểm riêng của tài sản có thể đo lường bằng tỷ lệ giá vốn hàng bán trên
tổng doanh thu thuần hoặc tỷ lệ chi phí R&D trên tổng doanh thu. Các công ty có các
sản phẩm độc đáo thường có đòn bẩy tài chính thấp bởi vì nếu công ty bị phá sản, thị
trường thứ cấp có tính cạnh tranh cho hàng tồn kho và các thiết bị sản xuất của công ty
có thể không có. Do vậy, đặc điểm riêng của tài sản công ty tỷ lệ nghịch (-) với đòn bẩy
tài chính.
1.2.2. Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
1.2.2.1. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
các doanh nghiệp nhà nước đều đó làm ảnh hưởng đến vốn chủ sở hữu của các doanh
nghiệp. Các chính sách quản lý điều tiết vĩ mô của nhà nước ảnh hưởng đến nguồn vốn
vay của doanh nghiệp
Điều này làm ảnh hưởng đến quyết định tài trợ vốn đầu tư của các doanh
nghiệp. Hiện nay chính phủ đang thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát ở mức hai
con số bằng chính sách thắt chặt tiền tệ với mức lãi suất cơ bản cao ( năm 2011 là
14%/năm) làm cho các doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn vốn vay gặp rất nhiều khó
khăn trong khi tình hình hoạt động kinh doanh sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008
đến nay đang gặp rất nhiều khó khăn để bù đắp được chi phí sử dụng vốn
1.2.2.5. Các tiêu chuẩn của ngành kinh doanh
Cấu trúc vốn giữa các ngành công nghiệp khác nhau rất nhiều. Kester nghiên
cứu thấy rằng các ngành càng sinh lợi cao, càng có khuynh hướng sử dụng ít nợ vay.
Một số nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ đòn bẩy tài chính trong cấu trúc vốn có tương
quan phủ định với tần suất phá sản trong ngành. Các doanh nghiệp phát sinh các dòng
tiền ổn định qua chu kỳ kinh doanh thường có khuynh hướng có tỷ lệ đòn bẩy tài chính
cao hơn. Nói chung, các doanh nghiệp có khuynh hướng tập trung sát tỷ lệ nợ của
ngành, có thể phản ánh sự kiện là phần lớn rủi ro kinh doanh mà một doanh nghiệp gặp
phải là do ngành hoạt động ấn định. Một doanh nghiệp có cấu trúc vốn khác biệt lớn so
Page | 9
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
với mức bình quân ngành sẽ phải có sự khác biệt về rủi ro so với rủi ro bình quân của
ngành.
1.2.2.6. Tác động của tín hiệu thị trường
Các nghiên cứu cho thấy, khi doanh nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ vốn cho
doanh nghiệp từ nợ vay hay phát hành cổ phiếu thì nó sẽ cho thấy viễn cảnh tương lai
của công ty. Khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu thì giá cổ phiếu sẽ giảm. Việc mua
lại cổ phần thường sẽ làm tăng thu nhập trên một cổ phiếu. Các hành động làm tăng đòn
bẩy tài chính thì thu nhập cổ phiếu là dương và ngược lại khi giảm đòn bẩy tài chính thì
thu nhập cổ phiếu là âm. Vì vậy, khi quyết định thay đổi cấu trúc vốn thì các doanh
nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể có về các viễn cảnh thu nhập tương lai và hiện tại
đợi giống nhau và giá trị giống nhau cũng phải có WACC giống nhau ở mọi mức độ tỷ
lệ giữa vốn nợ và VCSH.
Mặc dù những giả định về thị trường vốn hoàn hảo là không có thực, tuy
nhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến kết quả
- Giả định là không có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và một trong
những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế cho những chi tiêu tiền lãi.
- Nguy cơ trong lý thuyết của MM được tính toán hoàn toàn bởi tính biến đổi
của các luồng tiền. Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ. Đây là một
vấn đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao.
Đưa ra các giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền (nợ rẻ
hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí VCSH tăng cùng với nợ vì tỷ lệ
vốn vay so với tổng vốn)
Modigliani và Miler chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chính
xác. Việc sử dụng nợ mang đến cho CSH tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi tức cao hơn
Page | 11
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng
vốn. Với các giả thuyết trên, dẫn đến các phương trình cho lý thuyết của MM
Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của
doanh nghiệp không sử dụng nợ.
Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc
loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo MM, với thuế thu nhập doanh
nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Vì chi phí lãi vay là chi
phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu
nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển được chuyển cho các nhà đầu tư
theo phương trình: Vg = Vu + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của
doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ. Trong đó, D là
tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc
sử dụng nợ.
Như vậy, theo mô hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị
mặt tự do đó. Vì vậy, nảy sinh mâu thuẫn giữa các nhà quản lý và chủ nợ khi các chủ
nợ lo sợ các khoản vốn cho vay của mình không thể thu hồi khi kết quả đầu tư không
hiệu quả do trách nhiệm hữu hạn của các khoản đầu tư. Do đó, họ đưa ra các điều
khoản hạn chế trong hợp đồng vay.
Bằng chứng thực nghiệm phù hợp với điểm thuyết này ở những điểm sau:
1.Tỷ suất hối đoái tăng (giảm) theo tác dụng đòn bẩy sẽ làm tăng (giảm) giá trị cổ
phiếu.
2.Các doanh nghiệp có tiền mặt lớn sẽ có tỷ lệ D/A cao hơn (D/A: Nợ/Tài sản)
1.3.5. Vấn đề trung gian và kết cấu vốn
Giả thuyết của vấn đề này nằm trong quyền lợi tốt nhất của ban quản trị đối
với việc đẩy thấp tỷ suất vay nợ của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu khả năng phá sản
bởi vị trí không đa dạng của họ.
Page | 13
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
Dự đoán: Các doanh nghiệp sẽ bị đẩy lùi xuống bởi vấn đề trung gian và mức
độ tác động của đòn bẩy sẽ bị ảnh hưởng bởi mức độ giám sát của ban quản trị (các hội
đồng quản trị tích cực/ độc lập, các nhà đầu tư tích cực) và sự khuyến khích sẽ được tạo
ra cho ban quản trị.
Bằng chứng thực nghiệm phù hợp với thuyết này ở điểm sau:
Nhìn chung, các doanh nghiệp có lực đòn bẩy thấp.
Tỷ giá hối đoái tăng (giảm) theo tác dụng đòn bẩy sẽ làm tăng (giảm) giá trị.
1.3.6. Mô hình cấu trúc vốn tối ưu (Lý thuyết cân bằng)
Tại thị trường hoàn hảo và hiệu quả, Modilligani và Miler (1958) chứng
minh rằng cấu trúc vốn là không thích hợp. Nhưng theo mô hình MM (1963), việc đánh
thuế cao hơn vào lợi tức cho thấy nợ nhiều hơn. Còn DeAngelo và Masulis (1980) thì
cho rằng bảo trợ thuế cao hơn cho thấy nợ ít hơn.
Mô hình MM giả định tiền lãi mong đợi hàng năm không đổi nên giá trị DN
là như nhau bất chấp cấu trúc vốn. Nếu thực tế tiền lãi mong đợi đang ở chiều hướng đi
xuống thì việc sử dụng nợ sẽ có tác động ngược lại và có thể dẫn DN đến chỗ phá sản.
cấu trúc vốn. Những mô hình này đều thừa nhận một cấu trúc vốn tối ưu.
1.3.7. Thuyết trật tự phân hạng (Thông tin bất cân xứng)
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và
Majluf (1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng.
Giả thuyết rằng ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh
nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin không cân xứng) và việc quyết
định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn
về lưu lượng tiền mặt tương lai.
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp,
họ có thể phát hành chứng khoán (nguồn tài chính bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp
đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh
giá cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không
Page | 15
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị
trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn
này, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được
đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh
giá cao.
Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều
thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền cho vay. Điều này khiến các nhà
quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu.
Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà
được quyết định từ việc phân hạng thị trường. Trước hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử
dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay, và cuối cùng là
phát hành vốn cổ phần.
Tiêu điểm của thuyết này không tập trung vào kết cấu vốn tối ưu nhưng tập
trung vào sự quyết định tài chính hiện hành sắp tới.
Tỷ lệ Nợ/Tài sản = f {hoạt động kinh doanh, nhu cầu đầu tư}
Như vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu với
thay đổi quyết định khi mà các doanh nghiệp có vẻ như được đánh giá đúng và giá trị
cổ phiếu là bình thường, bỏ qua các dao động tạm thời trong giá cả thị trường so với giá
cả trên sổ sách nhằm có những ảnh hưởng vĩnh viễn lên nợ. Mô hình điều chỉnh thị
trường thứ 2 không yêu cầu thị trường phải thực sự không hiệu quả. Nó không đòi hỏi
các nhà quản lý phải dự báo thành công lãi của cổ phiếu. Đơn giản giả thuyết cho rằng
các nhà quản lý tin rằng họ có thể điều chỉnh được thị trường.
Theo thuyết này, các doanh nghiệp nợ thấp có xu hướng tăng nguồn vốn khi
giá trị tiền của họ cao, và ngược lại những doanh nghiệp nợ cao có xu hướng tăng
nguồn vốn khi giá trị tiền của họ thấp. Phần lớn cấu trúc vốn là kết quả liên tiếp của
những nỗ lực điều chỉnh thị trường cổ phiếu. Trong thuyết này, không có cấu trúc vốn
tối ưu, vì thế mà các quyết định tài chính điều chỉnh thị trường chỉ nhiều lên thành kết
quả cấu trúc vốn theo thời gian.
Page | 17
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
1.3.9. Thuyết hệ thống quản lý
Trong thuyết cấu trúc vốn được dựa trên hệ thống quản lý của Zwiebel
(1996), giá trị tiền cao và cơ hội đầu tư thuận lợi tạo điều kiện dễ dàng cho tài chính cổ
phần, nhưng cũng vào lúc đó cho phép các nhà quản lý trở nên cố thủ. Họ có thể từ chối
tăng nợ để tạo tính cân bằng cho các giai đoạn sau. Điều này có khả năng điều chỉnh thị
trường chứ khơng phải sự là sự phân tích thị trường khác biệt vì các nhà quản lý phát
hành cổ phiếu khi giá trị tiền cao và sau đó khơng cân bằng lại. Các nhà quản lý vẫn
khơng cố khai thác hết các nhà đầu tư mới. Đúng hơn, họ chỉ khai thác các nhà đầu tư
hiện có từ trước đến giờ mà khơng cân đối lại.
Các nhà lý thuyết thuần túy thường bắt đầu bằng cách chứng minh từ thị
trường hồn hảo nơi khơng có thuế và các chi phí rủi ro phá sản, sự gia tăng của rủi ro
lên VCSH được bù đắp bằng việc gia tăng tỷ suất sinh lời kỳ vọng, do đó đòn bẩy tài
chính khơng có ảnh hưởng gì đến giá trị doanh nghiệp. Sau đó, các nhà kinh tế học sẽ
bỏ bớt các giả định khơng có thuế, khơng có chi phí phá sản để chứng minh rằng quyết
định cấu trúc vốn có liên quan nhất tới sự cân bằng giữa việc tận dụng lá chắn thuế của
nợ vay với việc gia tăng rủi ro phá sản. Ở mức thấp của việc vay nợ chủ yếu là lợi ích
của cơng ty cổ phần này tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận. Nếu tỷ số này mang giá trị
dương, là cơng ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là cơng ty làm ăn thua lỗ.
Cũng như tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh
doanh. Ngồi ra, nó còn phụ thuộc vào quy mơ và mức độ rủi ro của cơng ty. Để so
sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một cơng ty cổ phần với tỷ số bình qn của
tồn ngành, hoặc với tỷ số của cơng ty tương đương trong cùng ngành.
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay được đem so sánh với tỷ số lợi
nhuận trên tổng tài sản (ROA). Nếu tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu lớn hơn ROA
thì có nghĩa là đòn bẩy tài chính của cơng ty đã có tác dụng tích cực, nghĩa là cơng ty
đã thành cơng trong việc huy động vốn của cổ đơng để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao
hơn tỷ lệ tiền lãi mà cơng ty phải trả cho các cổ đơng.
Page | 19
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
1.4.3. Tài sản cố định vơ hình trên tổng tài sản
sản tài Tổng
hìnhvô đònh cố sản Tài
sản tài tổng trên hìnhvô đònh cố sản Tài
=
Tỷ số này cho thấy một đồng tài sản thì tài sản cố định vơ hình chiếm bao
nhiêu đồng, tỷ số này cao cho thấy doanh nghiệp có lợi thế về thương hiệu tăng khả
năng cạnh tranh trong đối thủ cùng ngành. Tỷ số này còn phụ thuộc rất nhiều vào lĩnh
vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.4 Tài sản cố định hữu hình trên tổng tài sản
sản tài Tổng
hình hữònh cố sản Tài
sản tài tổng trên hình hữònh cố sản Tài =
Tỷ số này cho thấy một đồng tài sản thì tài sản cố định hữu hình chiếm bao
nhiêu đồng, tỷ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp đang đầu tư nhiều vào tài sản cố
định như: máy móc thiết bị, nhà xưởng,… cho thấy qui mơ hoạt động của doanh nghiệp
lớn. Bên cạnh đó khi đầu tư q nhiều vào tài sản cố định hữu hình sẽ làm cho doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình qn
tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo
ra thu nhập của doanh nghiệp.
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành
nghề kinh doanh. Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số này
trong so sánh doanh nghiệp với bình qn tồn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng
ngành và so sánh cùng một thời kỳ.
1.4.7. Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS)
thuần thu Doanh
ròngnhuận Lợi
thu doanh trên lợi sinhsuất Tỷ
=
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu cho thấy 1 đồng lợi nhuận ròng doanh nghiệp
tạo trong trong đó doanh thu chiếm bao nhiêu đồng, nếu tỷ suất sinh lợi trên doanh thu
càng cao cho thấy để được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tạo ra nhiều doanh thu, chỉ
tiêu này đánh giá đặc điểm của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, để đánh giá khả năng
của doanh nghiệp ta nên so sánh với chỉ tiêu chung của ngành để biết doanh nghiệp
Page | 21
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
hoạt động có hiệu quả khơng trong cùng lĩnh vực kinh doanh với các doanh nghiệp
khác.
1.4.8. Tỷ lệ chi phí thuế trên thu nhập trước thuế
nghiệp doanh nhập thu thuế trước nhuận Lợi
hành hiệnnộp phảithuế phíChi
hành hiệnnộp isuất phả Thuế =
Thuế suất phải nộp hiện hành của doanh nghiệp cho thấy mức thuế phải nộp
của doanh nghiệp, hiện nay thuế suất hiện hành áp dụng chung cho các doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay là 25%/năm, nhưng do đặc điểm của từng loại hình kinh doanh mà
mức thuế suất có những mức ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp được qui định ưu đãi
thuế suất.
Nam hiện nay được nghiên cứu bằng việc chạy mô hình hồi qui sử dụng Eview 5.1 để
suất mô hình hồi qui dựa trên các báo cáo tài chính của 150 công ty cổ phần được niêm
yết sở giao dịch chứng khoán cả 2 sàn giao dịch Hà Nội và TP.HCM. Để chạy được mô
hình hồi qui ta phải xác định được các biến trong mô hình xem xét các biến có ảnh
hưởng như thế nào đến cấu trúc của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:
- Biến Total liability đo lường tỷ lệ tổng nợ trên vốn cổ phần, biến Total
liability cho chúng ta biết được doanh nghiệp sử dụng nợ là bao nhiêu so với vốn cổ
phần.
- Biến Long liability đo lường tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn cổ phẩn, biến Long
liability cho biết doanh nghiệp sử dụng nợ dài hạn bao nhiêu so với vốn cổ phần.
- Biến Liquidity đo lường tỷ số thanh khoản tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn,
biến Liquidity cho biết khả năng chuyển đổi tài sản ngắn hạn thành tiền mặt để thanh
toán khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn trả nợ
- Biến Tangible fixed asset đo lường tỷ lệ tài sản cố định hữu hình trên tổng
tài sản, biến Tangible fixed asset cho biết doanh nghiệp đã sử dụng tài sản cố định hữu
hình là bao nhiêu so với tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh
đặc trưng của từng doanh nghiệp
- Biến Intangible fixed asset đo lường tỷ lệ tài sản cố định vô hình trên tổng
tài sản, biến Intangible fixed asset cho biết doanh nghiệp đã sử dụng tài sản cố định vô
hình là bao nhiêu so với tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh
đặc trưng của từng doanh nghiệp
Page | 23
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Đăng Hậu
- Biến ROA đo lường tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (Return on total
assets), biến ROA cho biết doanh nghiệp tạo ra 1 đồng lợi nhuận ròng cần bỏ ra bao
nhiêu đồng tài sản.
- Biến ROE đo lường tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn cổ phần (Return on
equity), biến ROE cho biết doanh nghiệp tạo ra 1 đồng lợi nhuận ròng cần bỏ ra bao
nhiêu đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được nhiều nhà đầu tư quan
tâm bởi vì nó phản ánh khả năng sinh lợi trên vốn họ bỏ ra để đầu tư.