TẬP HUẤN
Nhãm MODUL 3
MODUL: THCS 19
DẠY HỌC VỚI
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
I/ MỤC ĐÍCH:
-
Tăng cường năng lực sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học; khai thác những phần
mềm sẵn có; khai thác thông tin, tư liệu trên Internet… để
phục vụ bài giảng.
-
Giúp giáo viên dần tiếp cận với những công nghệ mới trong
giảng dạy.
-
Làm thay đổi nội dung và phương pháp truyền đạt trong
dạy học: Nhờ các công cụ đa phương tiện của máy tính như
văn bản, đồ họa, hình ảnh, âm thanh, hoạt cảnh giáo viên
sẽ xây dựng được bài giảng sinh động thu hút sự tập trung
của người học dễ dàng thể hiện được các phương pháp sư
phạm như: phương pháp dạy học tình huống, phương pháp
dạy học nêu vấn đề, thực hiện đánh giá và lượng giá học tập
toàn diện, khách quan ngay trong quá trình học…tăng khả
năng tích cực chủ động tham gia học tập của người học
- Góp phần thay đổi hình thức dạy và học: Hình thức dạy
dựa vào máy tính, hình thức học dựa vào máy tính
- Góp phần nâng cao tiềm lực của người giáo viên bằng
cách cung cấp cho họ những phương tiện làm việc hiện
công nghệ để phân phối các chương trình đào tạo, học
tập. Cụ thể là sử dụng các phương tiện như CD-Rom,
Internet, Intranet, điện thoại, các thiết bị không
dây…”
•
“Việc học tập được phân phối hay hỗ trợ bởi công
nghệ điện tử. Việc phân phối qua nhiều kỹ thuật khác
nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng
dạy thông minh và việc đào tạo dựa trên máy tính”
•
“Việc sử dụng các công nghệ mạng, để đào tạo và
phân phối các nội dung học tập bất cứ khi nào, bất cứ
nơi đâu”.
Tóm lại
•
E-learning: Là việc học tập có
sự hỗ trợ của CNTT&TT
Các kỹ năng cần thiết
•
Kỹ năng thực hiện trình diễn
•
Kỹ năng tìm kiếm thông tin qua mạng
Internet, vấn đề bản quyền, đánh giá
thông tin.
•
Kỹ năng sử dụng bách khoa toàn thư
•
Kỹ năng thiết kế ấn phẩm hoặc web đơn
Có rất nhiều tiêu chí, song dù đánh giá thế nào thì quá trình đó phải
hướng tới hình thành, rèn luyện ở người học một trong hai nhóm kỹ
năng: kỹ năng xã hội và kỹ năng tư duy. Kỹ năng xã hội bao gồm kỹ
năng làm việc nhóm, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kỹ năng
trình bày vấn đề, kỹ năng tự quản lý…Kỹ năng tư duy cần phải định
hướng tới các kỹ năng bậc cao như vận dụng, phân tích, tổng hợp
và đánh giá. Theo đó, dù giờ dạy được thực hiện bằng phương pháp
nào và với phương tiện nào thì cũng có thể nhận biết được đó có
phải là giờ dạy “đổi mới” hay không.
-
Đối với giáo dục, CNTT đóng nhiều vai trò khác nhau: vừa là
phương tiện dạy học mới với nhiều ưu điểm, vừa là môi trường học
tập mới với nhiều hình thức dạy học đa dạng, vừa là một môn học
với những đặc thù riêng. Trong giáo dục, CNTT được “sử dụng” theo
những cách khác nhau và được tóm lược qua sơ đồ sau:
CNTT trong
giáo dục
và đào tạo
CNTT là một
nội dung dạy học
CNTT là
phương tiện
dạy học
CNTT là một
công cụ quản lý
CNTT là một
công cụ để dạy
CNTT là một
công cụ để học
động trong môi trường đó.
Một cách trực quan, có thể biểu diễn ba hướng ứng dụng CNTT
trong dạy học vừa nêu trên trong sơ đồ sau:
GV
GV
GV
HS
HS
HS
1
3
2
CNTT
CNTT
CNTT
Quy trình thiết kế bài giảng điện tử:
a) Xác định mục tiêu bài học:
Mục tiêu bài học là căn cứ để đánh giá chất lượng học tập của
HS cũng như hiệu quả thực hiện bài giảng của GV. Mục tiêu bài
học phải giúp GV đo được, quan sát được mức độ học tập của
HS trong tiết học đó. Chia làm 3 nhóm mục tiêu như sau:
•
Nhóm mục tiêu kiến thức:
- Mức độ nhận biết
- Mức độ thông hiểu
- Mức độ vận dụng
•
Nhóm mục tiêu kỹ năng:
•
Xử lý tư liệu
-
Phân phối tư liệu cho mỗi hoạt động.
•
Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản:
-
Lựa chọn phần mềm công cụ thích hợp
-
Cài đặt (số hóa) nội dung
-
Tạo hiệu ứng trong các tương tác.
•
Chạy thử, chỉnh sửa và hoàn thiện:
-
Trình diễn thử
-
Soát lỗi
-
Kiểm tra tính logic, hợp lý của các thành phần.
-
Chỉnh sửa
-
Hoàn thiện
-
Đóng gói.
Các tiêu chí đánh giá bài giảng điện tử:
a) Tiêu chí về nội dung
b) Tiêu chí về hình thức
c) Tiêu chí về hiệu quả
các phần mềm ứng dụng tích hợp vào các môn học trên website
để cùng chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi học tập;
c) Khuyến khích giáo viên chủ động tự soạn giáo án, bài giảng và
tài liệu giảng dạy để ứng dụng CNTT trong các môn học;
- Ứng dụng CNTT trong dạy và học là việc ứng dụng những
thành tựu của CNTT một cách phù hợp và hiệu quả nhằm nâng
cao chất lượng dạy và học. Như vậy, Ứng dụng CNTT trong
giảng dạy và học tập không chỉ được hiểu theo nghĩa đơn giản là
dùng máy tính vào các công việc như biên soạn rồi trình chiếu
bài giảng điện tử ở trên lớp. Ứng dụng CNTT phải được hiểu là
một giải pháp trong mọi hoạt động liên quan đến đào tạo; liên
quan đến công việc của người làm công tác giáo dục; liên quan
đến hoạt động nghiên cứu, soạn giảng; lưu trữ, tìm kiếm, trao
đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tài nguyên học tâp… Và cao hơn, với
E-Learning, hoạt động dạy và học ngày nay được diễn ra mọi lúc,
mọi nơi. Trên lớp, ở nhà, ngay tại góc học tập của mình học sinh
vẫn có thể nghe thầy cô giảng, vẫn được giao bài và được
hướng dẫn làm bài tập, vẫn có thể nộp bài và trình bày ý kiến của
mình…
- Nhận thức được điều đó, việc ứng dụng CNTT nhằm
đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích
cực học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục, được
triển khai một cách đầy đủ và thiết thực nhất. Một số hoạt động
điển hình về ứng dụng CNTT trong dạy - học được giáo viên
thực hiện thành công và mang lại hiệu quả cao như:
Tra cứu thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, nâng cao kiến
thức chuyên môn và lấy tư liệu hỗ trợ soạn giảng;
Sử dụng các phần mềm hỗ trợ soạn giảng để tạo bài giảng
Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian
đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động
nhiều hơn trong giờ học. Những khả năng mới mẻ và ưu việt này
của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm
thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và
quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người.
Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng
học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính
tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép”
như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều
kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự
học tập, tự rèn luyện của bản thân mình.
2. Thuận lợi và thách thức:
2.1. Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng công
nghệ thông tin so với phương pháp giảng dạy truyền thống là:
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video,
camera … với âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua
máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua
một quá trình học đa giác quan;
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình,
hiện tượng trong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể
hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường;
-
Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực
học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không
đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó.
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn
lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học.
- Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được
sự đồng bộ trong thực hiện. Các phương tiện, thiết bị phục vụ
cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu
projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử
dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả.
- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để
và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí,
do tốc độ đường truyền. Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng,
tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù
tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và
công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một
cách có hiệu quả.