RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT MỘT ĐOẠN VĂN NGẮN
CHO HỌC SINH LỚP 2.
A.PHẦN I: MỞ ĐẦU
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ta biết rằng dạy văn nhằm phát triển và hoàn thiện năng lực văn cho học
sinh trên bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Trong đó kĩ năng nói và viết có vai
trò quan trọng trong đời sống học sinh, giúp các em hình thành các kĩ năng học
tập khác. Thế nhưng hiện nay đa số các em học sinh lớp 2 đều rất sợ phân môn
tập làm văn vì không biết nói gì ? Viết gì ? Ngay cả giáo viên cũng đôi khi
không tự tin lắm khi dạy phân môn tập làm văn. Do đó, khi đứng lớp tôi luôn
chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng viết văn cho học sinh.
Đứng trước vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc dạy Tập làm văn cho
học sinh Tiểu học nói chung và đối với học sinh lớp Hai nói riêng, tôi thấy việc
hướng dẫn cho các em có kĩ năng viết một đoạn văn ngắn là hết sức cấn thiết.
Ở chương trình Tiếng Việt lớp 2 các em mới được làm quen với phân
môn tập làm văn. Vì vậy, ngay từ đầu năm các em được rèn kỹ năng viết đoạn
văn từ 3 đến 5 câu. Trong thời gian các em làm bài tôi thấy phần lớn các em
còn lúng túng, rất nhiều bài làm chưa đạt yêu cầu. Các câu văn các em sử dụng
thường sai về chấm câu, lặp từ, dùng từ chưa phù hợp, câu không đủ ý,…
Là một giáo viên đang trực tiếp dạy lớp 2 nên tôi rất quan tâm đến việc
giúp các em tự tin học tốt phân môn Tập làm văn đặc biệt là viết một đoạn văn
ngắn. Tôi luôn băn khoăn làm thế nào để giúp các em thực hiện tốt một bài văn
đúng với yêu cầu đề ra. Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra biện pháp năng cao
cho học sinh của lớp mình. Chính vì thế tôi chọn nghiên cứu, thực nghiệm
chuyên đề: Rèn kĩ năng viết một đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2.
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu:
Rèn kĩ năng viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2.
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Học sinh lớp 2 trường Tiểu học Nguyễn Huệ
- Sách Tiếng Việt 2, Tài liệu giảng dạy lớp 2, các bài viết của học sinh lớp
Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ
năng nói và viết. Thế nhưng hiện nay, phần đa các em học sinh lớp 2 ít thích
học phân môn Tập làm văn vốn từ các em còn hạn hẹp, một số từ ngữ khi dung
nhưng các em chưa hiểu nghĩa của từ nên khi dung từ đặt câu chưa đúng nghĩa.
Ngay cả bản thân giáo viên đôi khi cũng còn lung túng khi dạy phân môn này
so với các môn học khác.
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em được
làm quen với đoạn văn và được rèn kỹ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu. Trong
quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều HS làm bài chưa
đạt yêu cầu. Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, cách chấm câu còn
hạn chế có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm
bảo về số câu nhưng viết không đủ ý, không đúng ý. Bởi ở lứa tuổi các em vốn
kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp.
Từ những thực trạng trên, tôi nhận thấy bởi các nguyên nhân sau:
1.Về phía học sinh :
-Học sinh thường ít đọc sách báo hoặc tìm tòi sưu tầm những tài liệu phục
vụ cho kiến thức có liên quan đến môn học dẫn đến nghèo vốn từ, nghèo vốn
sống nên khó có thể viết được một đoạn văn hay.
-Thiếu sự quan tâm, hỗ trợ động viên của phụ huynh.
2
-Học sinh chỉ quan tâm đến những sở thích không phục vụ cho môn học
như: đọc truyện tranh nhảm nhí, chơi điện tử, xem phim ảnh không phù hợp
với lứa tuổi nên vốn văn học rất hạn chế.
-Đa phần phụ huynh học sinh làm nghề nông hoàn cảnh gia đình khó
khăn nên phần lớn chưa quan tâm đến việc học của các em dẫn đến vốn từ ít
phong phú việc diễn đạt ngôn ngữ kém.
2/ Về phía giáo viên:
-Giáo viên còn lúng túng khi vận dụng phương pháp dạy Tập Làm Văn:
lập dàn bài rập khuôn dẫn đến bài làm của học sinh giống nhau về ý tưởng,
nội dung.
b. Tăng cường củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh:
3
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần liên hệ những nội dung kiến
thức có liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn Tập đọc, Luyện từ
và câu với phân môn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ ngữ
về sự vật, hiện tượng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến thức, không bỡ
ngỡ khi gặp những đề bài mới chưa được luyện tập trên lớp. Giúp học sinh có
hiểu biết về đề tài, vận dụng kỹ năng thực hành để bài viết đạt kết quả.
Ví dụ:
Khi học về chủ đề “ Ông bà”, “Cha mẹ”, “Anh em” ( từ tuần 10 đến tuần
16), với rất nhiều những bài đọc thắm đượm tình cảm thương yêu trong gia
đình, cùng với những tiết học phân môn Luyện từ và câu cung cấp, mở rộng
vốn từ ngữ cho HS, ngoài việc giúp HS hiểu rõ và nắm chắc người thân của
mình là những ai, ngoài việc khai thác và giáo dục tình cảm cho HS thông qua
các nhân vật trong bài Tập đọc, nhấn mạnh cái hay, cái đẹp của nội dung bài,
hướng cho HS liên hệ đến bản thân, gia đình, người thân của mình, tôi còn cung
cấp thêm từ ngữ, hướng dẫn các em hệ thống lại, lựa chọn, ghi nhớ các từ ngữ
phù hợp với đề tài (ông bà, cha mẹ, anh em) để chuẩn bị cho bài làm văn sắp tới
(viết về người thân), tôi luôn nói với các em sự cần thiết phải học thuộc và lựa
chọn những từ ngữ đã học để các em vận dụng vào bài tập làm văn, khơi gợi và
kích thích tinh thần học tập của các em.
c.Hướng dẫn học sinh hình thành đoạn văn trên cơ sở các câu hỏi
gợi ý :
Các bước hình thành:
- Hướng dẫn học sinh làm miệng, trả lời miệng từng câu hỏi. Gợi ý cho
học sinh trả lời bằng nhiều ý kiến khác nhau.
-Nhận xét, sửa chữa những câu trả lời chưa đúng ; cung cấp và gợi ý để
các em có thể chọn từ đồng nghĩa thay thế cho từ cũ, có thể hướng dẫn mẫu các
câu văn có hình ảnh nhân hóa hoặc so sánh để bài văn sinh động hơn ( khuyến
khích học sinh khá giỏi vận dụng, không bắt buộc tất cả các đối tượng học sinh
cường sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ rất cần thiết trong giờ học Tập
làm văn. Sử dụng phương pháp này để GV có cơ sở giúp HS nhận ra cấu tạo
câu, nhằm giúp các em viết câu đúng, đủ bộ phận.
Ví dụ:
Dựa vào các mẫu câu được học trong phân môn Luyện từ và câu: “ Ai –
là gì?”, “ Ai – làm gì?”, “ Ai – như thế nào?”, GV hướng dẫn HS nhận biết
những vấn đề sau:
- Câu văn của em viết ra đã đủ hai bộ phận chưa: Bộ phận trả lời cho
câu hỏi Ai?( hoặc cái gì?/ con gì) ?, bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì (hoặc làm
gì?/ như thế nào? ( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo câu).
- Người đọc, người nghe có hiểu nội dung chưa ? (Đảm bảo về mặt nghĩa
của câu)
Trên cơ sở đó, GV hướng dẫn HS viết dấu chấm khi hết câu.
2. Về kỹ năng:
Để tránh tình trạng học sinh không làm được bài hoặc viết lan man quá
nhiều câu dẫn đến lạc đề, giáo viên giúp học sinh cần biết làm như thế nào để
viết được một đoạn văn và cần phải viết những gì trong đoạn văn ấy.
a. Giáo viên chuẩn bị một hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng:
Trong chương trình, hầu hết các bài văn đều có câu hỏi gợi ý rõ, đầy đủ.
GV có thể tranh thủ thời gian cuối tiết học hướng dẫn HS chuẩn bị, đọc
câu hỏi gợi ý, suy nghĩ bài viết cho tiết sau. Hoặc chuẩn bị phần tự học khi ở
nhà, trước khi lên lớp. Đối với những bài không có câu hỏi gợi ý, GV có
thể soạn , cung cấp những câu hỏi cho các em. Đồng thời có thể cho các em
quan sát một số bức tranh, hình ảnh có liên quan đến bài dạy để các em có thêm
5
vốn sống, tạo cho bài văn thêm sinh động.
Ví dụ:
Bài viết về gia đình :( Tuần 13 - trang 110- lớp 2)
- Gia đình em gồm những ai ?
- Những người đó làm công việc gì ?
+ Con chó nhà em đang nuôi có tên gọi rất phù hợp với màu lông của
chú. Đấy chính là con Mực.
+ Nhà em nuôi rất nhiều con vật nhưng em thích nhất là con chó.
+ Các con vật nuôi trong nhà em đều rất thong minh, xinh đẹp nhưng nổi
bật nhất là chú chó Mực.
6
- Viết về một loài cây: (Bài: Đáp lời chia vui.Tả ngắn về cây cối – Tuần
28, lớp 2)
Nhà em trồng rất nhiều loại cây, nhưng em thích nhất là cây mít.
Hoặc : Đầu hồi nhà em có trồng một cây mít.
Ở lớp 2 lứa tuổi này việc sử dụng từ ngữ trong bài tập làm văn còn nhiều
hạn chế. Phần lớn các em sử dụng từ ngữ chưa phù hợp, chưa chính xác hầu hết
trong các câu văn. Vì vậy giáo viên cần giới thiệu, cung cấp thêm các từ cùng
nghĩa phù hợp với câu văn, bài văn
Ví dụ:
Khi viết đoạn văn kể về người thân thì HS sẽ có nhiều bài làm khác nhau, GV
cần giúp HS chọn lựa từ ngữ cho phù hợp, khi kể về bố là thầy giáo thì từ ngữ
sử dụng phải khác với bài viết bố làm nông; viết về tình cảm của em đối với với
cha mẹ, ông bà thì từ ngữ dùng phải khác với viết về tình cảm của mình đối với
bạn bè; Viết về cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa như: bình
minh, hừng đông, sớm mai; viết về gia đình có các từ như đoàn tụ, sum họp,
quây quần…; để diễn tả mặt trời mùa hè có các từ: chói chang, gay gắt, đỏ rực,
như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa…GV cần chuẩn bị kỹ với mỗi bài để
hướng dẫn HS vận dụng các từ ngữ thích hợp vào bài viết.
* Phát triển đoạn văn : Kể về đối tượng: Có thể dựa theo gợi ý , mỗi gợi
ý có thể diễn đạt 2đến 3 câu tùy theo năng lực học sinh.
Ví dụ: Viết về một con vật gồm các gợi ý sau:
- Nó sống ở đâu ? Hình dáng nó như thế nào ?
- Hoạt động của nó có gì nổi bật ?
Ví dụ 1: - Kể về chim sáo
viện của nhà trường để đọc sách báo. Từ đó, các em có thêm vốn kiến thức nhất
định để khi viết văn các em sẽ dễ dàng dùng từ, đưa các từ hay vào bài văn của
mình. Đối với gia đình học sinh tôi thường xuyên liên lạc với từng gia đình đặc
biệt là những học sinh ít quan tâm để nhắc nhở, động viên phụ huynh tạo điều
kiện cho các em đọc nhiều sách báo ở nhà.
3. Việc chấm và chữa bài cho học sinh:
Đây là việc làm hết sức cần thiết, giúp học sinh nhận ra lỗi sai để điều
chỉnh, sửa chữa, hoàn chỉnh bài văn. Học sinh lớp 2 chưa được học và luyện tập
nhiều về từ ngữ, ngữ pháp, chắc chắn trong bài viết của các em sẽ rất nhiều lỗi
sai. Trong quá trình chấm bài, GV phát hiện, giúp HS khắc phục, biết lựa chọn,
thay thế các từ ngữ cho phù hợp. Đối với những bài làm có ý hay, GV giúp học
sinh gọt giũa, trau chuốt thêm cho bài văn được hay hơn. Thường câu văn của
các em viết đúng về mặt cấu trúc ngữ pháp nhưng lại sai về nghĩa.
Ví dụ:
-Mùa xuân chim én bay. Sửa lại: Mùa xuân chim én bay về từng đàn.
-Nhà em có nuôi một ông nội. sửa lại: Nhà em có cả ông nội và bà nội.
Khi sửa bài, GV nên giới thiệu những bài làm hay ở năm học trước, hoặc
những bài hay của học sinh trong lớp cho các em tham khảo, từ đó nhận thấy sự
khác nhau về cach diễn đạt trong cùng một đề tài để các em hiểu rằng những bài
làm thể hiện suy nghĩ độc lập của cá nhân luôn được khích lệ và tôn trọng.
III. TIẾN TRÌNH TIẾT DẠY PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN.
Tập làm văn (Tuần 21): Tả ngắn về loài chim.
TẬP LÀM VĂN
TẢ NGẮN VỀ LOÀI CHIM
I) Mục đích yêu cầu
Thực hiện được yêu cầu của bài tập 3 (tìm câu văn miêu tả trong bài, viết
2, 3 câu về một loài chim).
8
- Gv hướng dẫn HS nêu ý nghĩa của câu chuyện; cần yêu quý những sự vật
trong môi trường thiên nhiên quanh ta để cuộc sống thêm đẹp đẽ và có ý
bông?
b/ Những câu tả hoạt động chim chích bông?
- Hát vui
- Đọc yêu cầu và bài chim chích
bông.
-Gồm có 3 ý học sinh đọc 3 ý.
*Hình dáng:
+ Là một loài chim bé xinh đẹp.
+ Hai chân xinh xinh bằng hai
chiếc tăm.
+ Hai cánh nhỏ xíu
+ Cặp mỏ tí tẹo bằng hai mảnh vỏ
trấu chắp lại.
*Hoạt động:
+Hai cái chân tăm nhảy cứ liên
liến
9
*Tác giả đã sử dụng giác quan nào để tả chim
chích bông (nhìn,ngửi hay nghe) ?
-Trong đoạn văn trên tác giả miêu tả chủ yếu về
hình dáng, hoạt động và lợi ích của chú chích
bông.
- Dựa vào đoạn văn các em vừa được tìm hiểu
các em hãy đọc cho cô yêu cầu của ý c trong bài
tập 3.
c/Viết 2,3 câu về một loài chim mà em thích.
- Để làm tốt bài tập này, khi viết các em cần chú
ý những điều sau.
- cần giới thiệu tên loài chim cần tả. Viết 1 câu
- Đọc bài vừa viết
-HS chú ý
10
-Khi muốn viết một đoạn văn tả về một con vật
các em cần lưu ý:
-Con vật em định kể là con gì?
-Nó sống ở đâu,hình giáng nó ntn?
- Hoạt động của nó có gì nổi bật?
- Vì sao em thích con vật đó?
+ Và khi viết một đoạn văn chúng ta cần phải
đảm bảo về các hình thức cấu tạo như:
-Câu văn chúng ta viết đã đủ hai bộ phận chưa?
nếu đã đủ có nghĩa là đã thành câu chúng ta phải
có dấu chấm ở cuối câu.
- Khi đọc lên người nghe đã hiểu chúng ta muốn
nói gì chưa?Đó là những điều cần thiết khi viết
một đoạn văn mà các em cần lưu ý.
5) Nhận xét – Dặn dò.
-Các em về nhà xem lại bài và bạn nào chưa
hoàn thành xong bài tập 3 thì phải hoàn thành
cho xong.Xem trước cho cô bài tập làm văn của
Tuần 22. Đáp lời xin lỗi và tiếp tục đi tả ngăn về
loài chim.
- Nhận xét tiết học
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Sau khi sử dụng các giải pháp trên, tôi nhận thấy kết quả
học tập phân môn Tập làm văn của lớp tôi đạt kết quả như sau:
Lớp
-Tạo ra không khí gần gũi, thoải mái, tự nhiên từ đó giúp học sinh mạnh
dạn trình bày suy nghĩ của mình.
-Khi chữa bài cho học sinh cần cụ thể, tỉ mỉ và phải đề xuất được nội
dung thay thế.
V.KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận chung:
Khi áp dụng các biện pháp trên vào dạy ở từng tiết tập làm văn, tôi nhận
thấy các em không sợ học phân môn tập làm văn nữa vì bản thân các em đã
được đóng vai trò chủ đạo trong tiết học. Tôi nghĩ rằng với biện pháp trên,
không chỉ áp dụng ở lớp 2 mà các khối khác đều áp dụng được. Nếu người
giáo viên biết vận dụng các biện pháp trên để tiến hành dạy trong giờ học, có
lẽ chất lượng giáo dục, hiệu quả giáo dục của môn Tiếng Việt cụ thể là phân
môn Tập làm văn ngày càng tăng cao một cách rõ rệt. Các biện pháp đó tôi đã
thực hiện trong giảng dạy, tôi thấy học sinh tiến bộ hẳn trong từng năm.
2. Ý kiến đề xuất:
Các cơ quan quản lý giáo cấp trên nên chỉ đạo các cụm, vùng tổ chức
chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm về việc giúp học sinh viết đoạn văn, bài văn
trong giờ tập làm văn hiệu quả hơn nữa.
Chắc chắn rằng giải pháp đưa ra còn nhiều hạn chế, thiếu sót do đúc kết
từ kinh nghiệm giảng dạy của cá nhân. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến
của bạn bè và đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn.
Giáo viên thực hiện
Nguyễn Thị Từ
12