nghiên cứu phòng trừ bệnh héo xanh cây bầu do vi khuẩn raltoniasolanacearum gây ra bằng biện pháp ghép tại xã nhuận đức, củ chi tp.hcm - Pdf 25

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Thông tin chung:
Tên đề tài: Nghiên cứu phòng trừ bệnh héo xanh cây bầu do vi khuẩn Ralstonia
solanacearum gây ra bằng biện pháp ghép tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi,
thành phố Hồ Chí Minh
Chủ nhiệm đề tài: Chu Trung Kiên
Năm sinh: 1979 Nam/Nữ: nam
Học vị: thạc sĩ Chuyên ngành: BVTV Năm đạt học vị: 2011
Chức vụ (nếu có): Phó phòng NC Bảo Vệ Thực Vật
Tên cơ quan đang công tác: Viện KHKT Nông Nghiệp Miền Nam
Địa chỉ cơ quan: 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1, Tp.HCM
Điện thoại cơ quan: 08.39104027 Fax: 08.38297650
Địa chỉ nhà riêng: 59/9 đường 48, P. Hiệp Bình Chánh, Q. Thủ Đức,
TPHCM
Điện thoại nhà riêng: 0837273574 DTDĐ: 0983.509.167
E-mail:
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ
Điện thoại: (08) 38.233.363 – (08) 38.230.780 Fax: (08) 38.244.705
E-mail: Website: www.khoahoctre.com.vn
Địa chỉ: Số 1 Phạm Ngọc Thạch, phường Bến Nghé, quận 1, TP. Hồ Chí
Minh
Số tài khoản: 94690.01000.36 tại Kho bạc Nhà nước Q.1 – TP. HCM
Mã số thuế: 0301744926
Thời gian thực hiện đề tài: 2010-2012
Kinh phí đƣợc duyệt: 79,55 triệu đồng
Kinh phí đã cấp: 67 triệu đồng theo TB số: TB-SKHCN ngày / /

2

- Thử nghiệm quy trình trồng bầu
bằng cây ghép
Nội dung 1: Điều tra thực trạng sản
xuất bầu tại xã Nhuận Đức, huyện
Củ Chi
- Điều tra thực trạng sản xuất bầu tại
xã Nhuận Đức
- Điều tra thực trạng bệnh héo xanh vi
khuẩn hại bầu tại xã Nhuận Đức
Nội dung 2: Nghiên cứu phòng trừ
bệnh chết dây bằng biện pháp ghép
- Thí nghiệm chọn gốc ghép tốt, có tỷ
lệ sống sau ghép cao
- Thí nghiệm phòng trừ bệnh chết dây
bằng biện pháp ghép sử dụng 2
giống bầu thương phẩm ghép trên 02
giống gốc bầu kháng
Nội dung 3: Xây dựng quy trình
trồng bầu bằng cây ghép
- Xây dựng quy trình ghép và quy
trình trồng bầu bằng cây ghép
- Thử nghiệm quy trình trồng bầu
bằng cây ghép

3

2.3 Sản phẩm của đề tài
- Báo cáo khoa học
- Giải pháp phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn hại bầu hiệu quả


TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
1.1.1 Ngoài nước:
1.1.1.1 Lịch sử ghép rau và vai trò của cây rau ghép
* Lịch sử ghép rau:
Trên thế giới, ghép rau đã được thực hiện từ nhiều thế kỷ qua, đến nay kỹ
thuật này đã được áp dụng phổ biến trong sản xuất ở nhiều quốc gia. Theo Lee và
Oda (2003), kỹ thuật ghép để tạo ra quả bầu lớn hơn bằng cách tăng số lượng rễ
và ngọn thông qua ghép nhiều gốc đã được mô tả trong sách cổ Trung Hoa từ thế
kỷ 5 và ở Hàn Quốc từ thế kỷ 17. Từ cuối năm 1920 đến 1930, kỹ thuật ghép dưa
hấu trên cây bầu dài (Lagenaria siceraria) được khuyến cáo nhanh chóng đến
nông dân qua các trương trình khuyến nông ở Nhật Bản, sau đó ở Hàn Quốc
(Oda, 2002). Nghiên cứu ghép dưa leo cũng được bắt đầu từ năm 1920, nhưng
không được thương mại rộng rãi cho đến năm 1960 (Sakata và cs., 2008). Đối
với cây họ cà (Solanaceae) gồm cà tím (Solanum melongena L.) được ghép trên
gốc cà bát đỏ (Solanum integrifolium) từ năm 1950 (Oda, 1999), ghép cà chua
(Lycopersicon esculentum Mill) được thương mại từ năm 1960 (Lee và Oda,
2003). Sau đó, phát triển nhanh chóng để trở thành công nghệ bảo vệ cây trồng
trong nhà vòm và nhà màng, ghép rau đã trở thành công cụ cốt yếu để hạn chế
bệnh hại phát sinh từ đất và dịch hại khác. Vào năm 1990, gần 60% số ruộng và
nhà màng của Nhật Bản trồng dưa xạ (Cucumis melo L.), dưa hấu, dưa leo, cà
chua, và cà tím được trồng bằng cây ghép và 81% cây ghép được trồng ở Hàn
Quốc (Lee, 1994). Những năm gần đây, hơn 500 triệu cây ghép được trồng hàng
năm ở Nhật Bản (Kobayashi, 2005). Ở Mỹ, cà chua được ghép trên gốc cà độc
dược (Datura stramonium L.) từ hơn 60 năm trước để hạn chế tuyến trùng nốt
sần (Meloidogyne spp.) (Lowman và Kelly, 1946) và có 40 triệu cây cà chua
ghép được trồng trong năm 2002 và 2006 tại khu vực Nam Mỹ (Kubota and
5


ghép trên gốc bầu dài tăng 21-112% so với không ghép (Yetisir và cs., 2003). Ở
6

Đài loan, năng suất khổ qua ghép trung bình đạt 82-127 tấn/ha so với năng suất
trung bình 16 tấn/ha của khổ qua không ghép (Yi-Sheng Lin, 2004).
Đã có nhiều báo cáo trái chiều về sự thay đổi chất lượng quả của cây
ghép. Sự khác nhau của các kết quả báo cáo có thể được cho là một phần do môi
trường sản xuất, loại gốc ghép sử dụng và ngày thu hoạch khác nhau. Bởi vì việc
ghép có ảnh hưởng đến ngày ra hoa và thu hoạch (Davis và cs., 2008). Theo
Yetisir và cs. (2003), chất lượng quả dưa hấu ghép trên bầu dài (Lagenaria
siceraria) chỉ khác biệt nhỏ so với không ghép, trong khi chất lượng quả dưa hấu
ghép trên gốc bí ngô (Curcubita) thấp hơn không ghép. Chất lượng quả chín
không bình thường được báo cáo đối với cây dưa lê mùa đông (Cucumis melo L.
var. inodorus) như giảm lượng chất hòa tan, các sọc màu xanh bền, quả lên men,
thịt quả xơ, và mất vị (Chung, 1995; Kamiya và Tamura, 1964; Kautsika-Sotiriou
và Traka-Mavrona, 2002; Lee, 1989; Lee và cs., 1998 và Muramatsu, 1981).
Perkins và cs. (2008) cho rằng ghép dưa hấu làm tăng hàm lượng Lycopene và
Caroten tổng số đến 20%, Amino acids đặc biệt là Citrolin tăng 35%.
Ngoài ra, dưa hấu còn được ghép phổ biến để tăng khả năng hấp thu dinh
dưỡng khoáng (Pulgar và cs., 2000), cải thiện khả năng chống chịu nhiệt độ thấp
(Bulder và cs., 1990), nhiệt độ cao (Rivero và cs., 2003), thiếu sắt trong đất chứa
đá vôi (Romero và cs., 1997), cải thiện khả năng chịu mặn của cây (Yetisir và
Uygur, 2010), tăng hấp thu dinh dưỡng (Ruiz và cs., 1997) và cải thiện sự sử
dụng nước (Cohen và Naor, 2002).
* Nguyên nhân gây ra ảnh hưởng của gốc ghép đến ngọn ghép
Các giống ngọn ảnh hưởng cuối cùng đến kích thước, năng suất và chất
lượng quả trên cây ghép, nhưng sự ảnh hưởng của các gốc ghép có thể làm thay
đổi mạnh mẽ hơn các đặc tính này (Davis và cs., 2008). Có rất nhiều lý do cho
thấy gốc ghép có ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả mà cơ bản nhất là
sự không tương thích của cây ghép gây ra sự phát triển mạnh hay yếu của ngọn

trùng. Vi khuẩn cũng có thể xâm nhiễm vào cây qua vết chích hút của côn trùng,
vết thương do quá trình chăm sóc cây tạo ra và có thể gây bệnh cho cây trồng
trên đất đã mang nguồn bệnh hoặc nước tưới cho cây đã nhiễm vi khuẩn (Janse,
1996). Khi xâm nhiễm vào cây vi khuẩn nhân nhanh số lượng trong các bó mạch
làm chậm quá trình vận chuyển nước và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây.
Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển và gây hại của vi khuẩn Ralstonia
8

solanacearum từ 24
0
C - 35
0
C. Vi khuẩn lây lan theo nguồn nước tưới và có thể
tồn tại trong đất và ở những lớp đất sâu (> 75cm) trong nhiều năm.
Trên khoai tây, cây nhiễm bệnh có tán lá kém phát triển, màu vàng và héo.
Ban đầu, chỉ phần chóp lá bị héo và có thể phục hồi vào ban đêm. Sau đó triệu
chứng héo không phục hồi và cây bị chết. Bó mạch của cây có màu xám hoặc
nâu, cắt ngang thân và đặt vào cốc nước quan sát sẽ thấy dịch vi khuẩn tiết ra từ
bó mạch (Elphiinstone, 2004). Ở củ nhiễm bệnh, khi cắt ngang sẽ xuất hiện
những vân tròn có màu vàng hoặc nâu sáng lúc mới nhiễm bệnh, sau đó vân
chuyển sang màu nâu sậm.
Các nghiên cứu của Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Trường đại học Florida và
Wisconsin, Hoa kỳ đã chỉ ra rằng bệnh héo rũ vi khuẩn thường xảy ra ở những
nơi đất thấp thuộc vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới. Một nhóm phụ của vi khuẩn
Ralstonia solanacearum được gọi là chủng 3 nòi sinh học 2 (viết tắt là R3bv2)
tấn công những cây trồng ở các khu vực cao hơn hoặc những vùng ôn đới. R3bv2
phá hại rất nặng trên khoai tây ở những vùng cao nhiệt đới của châu Phi, châu Á
và châu Mỹ La Tinh.
Cây bầu đã được chứng minh là cây ký chủ mới của vi khuẩn Ralstonia
solanacearum. Các dòng vi khuẩn phân lập được từ cây nhiễm bệnh đã xác định

phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn Ralstonia solanacearum vẫn còn nhiều hạn
chế. Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo Vệ Thực Vật (2007) cho thấy: chế phẩm
BE (Có nguồn gốc từ Bacillus vallismortis) và BC (Bacillus subtilis) có thể hạn
chế được bệnh héo xanh vi khuẩn trên khoai tây ở ngoài đồng ruộng, nhưng hiệu
quả phòng trừ chỉ ở mức dưới 50%. Ngoài 2 giải pháp nêu trên, giải pháp canh
tác mà cụ thể là biện pháp ghép (ghép cà chua, ớt, dưa hấu,…) đã được các nhà
khoa học nghiên cứu thành công và đang được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất.
Kết quả nghiên cứu của Viện KHKT NN Miền Nam (2002 – 2004) cho thấy:
ghép ngọn cà chua thương phẩm trên giốc cà chua, cà tím kháng với vi khẩn
Ralstonia solanacearum (thường là các giống cà chua hoang dại, không có giá trị
thương phẩm) có khả năng hạn chế bệnh héo xanh trên 95%. Ghép ngọn dưa hấu
Hắc Mỹ Nhân 777 và An Tiêm 95 trên giống bầu gốc ghép B1 và B2 hạn chế
100% số cây bị chết do Ralstonia solanacearum gây ra, và chất lượng quả không
giảm so với không ghép (Ngô Quang Vinh và Chu Trung Kiên, 2006). Đến nay,
10

nhờ ứng dụng kỹ thuật ghép mà diện tích cà chua, dưa hấu, … của tỉnh Lâm
Đồng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Bà Rịa – Vũng
Tàu, không những được đảm bảo và ngày càng có chiều hướng tăng lên.
Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về bệnh héo xanh do vi khuẩn
Ralstonia solanacearum gây ra trên cây bầu, tuy nhiên những thành công trong
việc nghiên cứu giải pháp ghép nhằm hạn chế tác hại của vi khuẩn Ralstonia
solanacearum gây bệnh héo xanh trên cây cà chua, dưa hấu, ớt,… của Viện
KHKT Nông Nghiệp Miền Nam trong những năm qua là cơ sở khoa học tin cậy
cho việc thực hiện nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh héo xanh trên cây bầu.

Stt
Tên giống
Ký hiệu
Nguồn gốc
Giống gốc
1
Giống bầu B1
G1
ARVDC
2
Giống bầu B2
G2
ARVDC
3
Giống mướp M1
G3
ARVDC
4
Giống bí rợ trái dài
G4
Ct. Đại Địa
5
Giống bí sáp Chánh Phong
G5
Ct. TNHH Nông nghiệp
Chánh Phong
Giống ngọn
1
Giống bầu F1 449

G1
ARVDC
2
Giống bầu B2
G2
ARVDC
Giống ngọn
1
Giống bầu F1 449
N1
Công ty Cổ phần Phát
Triển và Đầu Tư Nhiệt Đới
2
Giống bầu F1 6168
N2
Công ty TNHH Hạt giống
Tân Lộc Phát
- Phương pháp thí nghiệm: bố trí 2 thí nghiệm tương ứng với 2 giống bầu ngọn
được ghép trên 2 giống bầu gốc ghép B1 và B2, thiết kế thí nghiệm theo kiểu
khối hoàn toàn ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design, RCBD) với
3 lần lặp, mỗi ô cơ sở 50m
2
tương ứng 100 cây.
- Phương pháp thu thập số liệu: khi bệnh bắt đầu xuất hiện, theo dõi số cây bị
bệnh trên ô định kỳ 10 ngày/lần.
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Tỷ lệ bệnh chết cây (%) = (số cây bị bệnh/100 cây điều tra) x 100
+ Năng suất (tấn/ha): (năng suất quả của ô x 10.000m
2
)/50m

Giống ngọn
1
Giống bầu F1 449
N1
Công ty Cổ phần Phát
Triển và Đầu Tư Nhiệt Đới
2
Giống bầu F1 6168
N2
Công ty TNHH Hạt giống
Tân Lộc Phát
- Phương pháp bố trí thử nghiệm: bố trí 2 thử nghiệm diện rộng tương ứng với 2
giống bầu ngọn được ghép trên giống bầu gốc ghép B1. Mỗi thử nghiệm được
thiết kế không lặp lại, diện tích lô cơ sở là 500m
2
tương ứng 1000 cây.
- Phương pháp thu thập số liệu: khi bệnh bắt đầu xuất hiện, điều tra định kỳ 10
ngày/lần tại 5 điểm ngẫu nhiên trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm điều tra
50m
2
, cố định điểm điều tra.
14

- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Tỷ lệ bệnh chết cây (%) = (số cây bị bệnh/100 cây điều tra) x 100
+ Năng suất (tấn/ha): (năng suất quả của điểm điều tra x 10.000m
2
)/50m
2


Chƣơng III
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Điều tra thực trạng sản xuất bầu tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi
3.1.1 Hiện trạng sản xuất bầu tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh
Kết quả điều tra 30 hộ trồng bầu tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi cho
thấy hầu hết các hộ trồng bầu 1 vụ/năm, mật độ trồng từ 14.000 – 20.000 cây/ha,
trong đó có 46,67% số hộ trồng với mật độ 20.000 cây/ha, 10% số hộ trồng với
mật độ 16.000 cây/ha và 43,33% số hộ trồng với mật độ 14.000 cây/ha. So với
mật độ cây bầu được các công ty cung ứng hạt giống khuyến cáo, mật độ cây bầu
trồng tại xã Nhuận Đức dày hơn từ 3,5 – 5 lần (Bảng 3.1). Nguyên nhân là do,
nông dân Nhuận Đức có tập quán trồng cây bầu trước hoặc sau khi trồng các cây
rau cùng họ bầu bí (Cucurbitaceae) như khổ qua, dưa leo, mướp hoặc bí đao
chanh để tận dụng màng phủ, giàn cắm nhằm giảm chi phí làm đất, làm giàn và
mua màng phủ, theo nông dân mặc dù chi phí mua hạt giống tăng nhưng ít hơn
nhiều so với chi phí mua mới màng phủ, làm đất, làm giàn, Ngoài ra, nông dân
thường trồng bầu với mật độ rất dày như một giải pháp đảm bảo có thu nhập từ
trồng bầu vì số lượng cây bầu bị bệnh virus và chết cây không cho thu hoạch rất
lớn.

Bảng 3.1: Mật độ cây bầu trồng vụ Đông Xuân 2010 -2011 và vụ Hè Thu năm
2011 tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi
Stt
Số hộ áp dụng
Tỷ lệ
(%)
Mật độ
(cây/ha)
Mật độ tăng so
với khuyến cáo

2
O từ 96,9 – 120,7
kg/ha, trung bình lượng phân khoáng sử dụng cho cây bầu tại xã Nhuận Đức là
148,74 ± 11,66 kg N/ha; 148,74 ± 11,66 kg P
2
O
5
/ha và 103,09 ± 7,56 kg
K
2
O/ha (Bảng 3.2) được chia thành 5 lần bón, bắt đầu từ 7 - 10 NST và kết thúc
khi cây bầu được 70 - 75 NST. Như vậy, lượng phân khoáng được áp dụng trên
cây bầu trồng tại xã Nhuận Đức tương tự như lượng phân phón khuyến cáo sử
dụng trên cây dưa leo và khổ qua, thành phần NPK áp dụng là khá hợp lý, tuy
nhiên lượng phân này cao hơn lượng phân của quy trình kỹ thuật trồng bầu do
các công ty hạt giống khuyến cáo.

Bảng 3.2: Lượng phân khoáng áp dụng trong sản xuất bầu vụ Đông Xuân 2010 -
2011 và vụ Hè Thu năm 2011 tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi
Stt
Phân bón nguyên
chất

Mức thấp
(kg/ha)
Mức cao
(kg/ha)
Trung bình
(kg/ha)
1

triệu đồng/vụ, tổng thu từ 63,00 – 150,00 triệu đồng/ha/vụ và lợi nhuận thu được
từ -4,67 – 72,00 triệu đồng/ha/vụ (Bảng 3.3). Như vậy, lợi nhuận thu được từ
trồng bầu khá cao, tuy nhiên mức lợi nhuận thu được là rất khác nhau giữa các hộ
(29,625 ± 19.854 triệu/ha/vụ), nguyên nhân chủ yếu là do mức độ bệnh virus và
chết cây bầu xảy ra ở các thời điểm trồng và giữa các ruộng của các hộ là khác
nhau.
17

Bảng 3.3: Hiệu quả kinh tế cây bầu trồng vụ Đông Xuân 2010 -2011 và vụ Hè
Thu năm 2011 tại Nhuận Đức, huyện Củ Chi
Stt
Mức
Chi phí đầu tư
(1000 đồng)
Tổng thu
(1000 đồng)
Lãi
(1000 đồng)
1
Mức thấp
56.250
63.000
- 4.667
2
Mức cao
91.000
150.000
72.000
3
Trung bình

70WP, Carbenda 50SC và Metaxyl 25WG. Bệnh chết cây gần như không có giải
pháp phòng trừ, rất ít nông dân sử dụng Kasumin 2L và Bavistin 50 FL phun
phòng nhưng không có hiệu quả (Bảng 3.4b).
Như vậy, có 10 loài sâu, bệnh chính xuất hiện và gây hại trên cây bầu,
trong đó Bọ phấn trắng là côn trùng gây hại được nông dân rất quan tâm phòng
trừ do xuất hiện thường xuyên trên ruộng ngay từ khi cây còn nhỏ và sớm xuất
hiện trở lại sau mỗi lần phun thuốc BVTV phòng trừ. Bọ phấn vừa gây hại trực
tiếp trên cây, đồng thời là môi giới truyền virus gây bệnh khảm lá và chùn ngọn
dẫn đến cây sinh trưởng kém và phần lớn không cho thu hoạch quả. Bên cạnh bọ
phấn trắng, bệnh chết cây được nông dân xem là bệnh hại nghiêm trọng nhất trên
cây bầu, gây chết toàn bộ cây. Những ruộng bị bệnh sớm và nặng cây bầu bị chết
hàng loạt từ khi cây chưa cho thu hoạch nên thiệt hại năng suất thường rất lớn,
trong khi giải pháp phun thuốc BVTV hóa học áp dụng không mang lại hiệu quả.
Ngoài ra, một số loài sâu, bệnh hại khác cũng xuất hiện trên ruộng được nông
dân phòng trừ hiệu quả bằng các loại thuốc BVTV nên mức độ gây hại không
nhiều. Các loại thuốc BVTV được nông dân sử dụng có trong danh mục các loại
thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam theo Thông tư số 36/2011/TT-
BNNPTNT ngày 20 tháng 5 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn và đúng đối tượng dịch hại được nhà sản xuất khuyến cáo.
19

Bảng 3.4a: Sâu hại chính trên cây bầu trồng vụ Đông Xuân 2010 -2011 và vụ Hè Thu năm 2011 tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi
Stt
Tên côn trùng gây hại
Tên khoa học
Tỷ lệ ruộng
bị nhiễm
(%)
NST
Loại thuốc phòng trừ

Tổng số hộ điều tra là 30, NST là ngày sau trồng. 20

Bảng 3.4b: Bệnh hại chính trên cây bầu trồng vụ Đông Xuân 2010 -2011 và vụ Hè Thu năm 2011 tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi
Stt
Tên bệnh hại
Nguyên nhân gây bệnh
Tỷ lệ
ruộng bị
nhiễm (%)
NST
Tỷ lệ
hại
(%)
Loại thuốc phòng trừ
1
Héo xanh
Ralstonia solanacearum
100
35-50
35-58
Kasumin 2L, Bavistin 50 FL

Metaxyl 25WG
Tổng số hộ điều tra là 30, NST là ngày sau trồng.
21

3.2 Nghiên cứu phòng trừ bệnh chết cây bằng biện pháp ghép
3.2.1 Thí nghiệm chọn giống gốc ghép có tỷ lệ sống sau ghép cao
Kết quả thí nghiệm chọn gốc ghép tốt được ghi nhận ở Bảng 3.5 cho thấy
2 giống bầu F1-449 và F1-6168 ghép trên 5 giống gốc cho tỷ lệ cây ghép sống từ
62,78 – 85,00% ở thời điểm 10 ngày sau ghép, trong đó giống bầu gốc ghép B1
và B2 cho tỷ lệ cây ghép sống tương ứng 85,00% và 82,22% cao hơn rất có ý
nghĩa thống kê (p < 0,01) so với các giống gốc ghép khác, không có sự khác biệt
trong thống kê giữa hai giống bầu F1-449 và F1-6168 ghép trên 5 giống gốc thí
nghiệm.

Bảng 3.5: Tỷ lệ phần trăm (%) cây ghép sống ở thời điểm 10 ngày sau ghép
Giống gốc
Giống ngọn
Trung bình gốc
N 1
N 2
G 1
85,56
84,44
85,00
a

G 2

thân nhỏ), chậm hóa xơ nên diện tích tiếp xúc với ngọn ghép lớn, thân mềm,
chứa nhiều nhựa nên vết ghép kín và dễ liền do đó ngọn ghép sớm phục hồi và
phát triển, vì vậy tỷ lệ sống cao. Các giống gốc ghép là mướp, bí rợ, bí sáp có đặc
điểm thân rỗng, nhiều xơ nên diện tích tiếp xúc với ngọn ghép nhỏ, vết ghép
thường hở nên chậm liền do đó ngọn ghép dễ bị héo và chậm phục hồi nên tỷ lệ
22

cây ghép sống thấp. Ngô Quang Vinh và Chu Trung Kiên (2006) cho biết giống
dưa hấu Hắc mỹ nhân 777 và An tiêm 95 ghép trên giống bầu gốc ghép B1 hoặc
B2 cho tỷ lệ cây ghép sống > 95% và > 85%, trong khi đó tỷ lệ cây ghép sống
khi được ghép trên cây bí rợ, bí sáp và bí đao chanh là < 70%. Trên thế giới, bầu
dài (Lagenaria siceraria) là một trong những loài bầu được sử dụng làm gốc
ghép cho dưa hấu và cho thấy tỷ lệ tương thích cao với dưa hấu (Lee, 1994; Oda,
1995; Yetisir và Sari, 2003). Trong điều kiện nhà màng, tỷ lệ cây dưa hấu ghép
sống khi ghép trên gốc bầu cao hơn các giống bí đỏ (Khankahdani và cs., 2012),
tỷ lệ dưa hấu ghép trên 21 giống bầu dài sống đạt 83 – 100% (Karaca Fatih và
cs., 2011). Kết quả nghiên cứu của Davis và cs. (2008) cho thấy sự sống của cây
ghép phụ thuộc vào sự tương thích giữa gốc ghép và ngọn, bị ảnh hưởng bởi sự
khác nhau về mô và cấu trúc, các đặc tính sinh lý và sinh hóa, tình trạng phát
triển của gốc và ngọn ghép, các phytohormon, và môi trường. Nói chung, sự
tương thích của cây ghép có liên quan đến mối quan hệ về phân loại thực vật.

3.2.2 Nghiên cứu phòng trừ bệnh chết cây do vi khuân Ralstonia solanacearum
gây ra bằng biện pháp ghép
Kết quả thí nghiệm phòng trừ bệnh chết cây do vi khuẩn Ralstonia
solanacearum gây ra bằng biện pháp ghép được ghi nhận ở Bảng 3.6 cho thấy ở
những ô trồng giống bầu F1-449 không ghép có số cây chết trung bình là 3,33%
so với 0% ở những ô trồng giống bầu F1-449 ghép trên các giống bầu gốc ghép
B1 và B2 ở thời điểm 40 NST. Đến thời điểm 50 NST, có 1,33% và 2,00% số
cây bầu giống F1-449 được ghép trên giống bầu gốc ghép B1 và B2 bị chết tương

2,00
b

3,00
b
3,67
b
N1/G2
0
2,00
b
3,67
b
4,33
b
6,33
b
N1
3,33
10,00
a
18,33
a
28,00
a
34,33
a
Pro.

0,0054

0,0004
0,0004
0,0003
0,0004
CV(%)

14,79
9,63
10,74
11,43
Các trung bình cùng ký tự không khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất p
= 0,01 qua phép thử Duncan. Số 0 được chuyển thành 1/4n trước khi chuyển đổi
các số liệu xử lý thống kê sang arsin (x)
1/2
. NST là ngày sau trồng. N1/G1 là
giống bầu F1-449/giống bầu B1, N1/G2 giống bầu F1-449/giống bầu B2, N2/G1
là giống bầu F1-6168/giống bầu B1, N2/G2 là giống bầu F1-6168/giống bầu B2,
N1 là giống bầu F1-449 và N2 là giống bầu F1-6168 không ghép.

24

Ở những ô thí nghiệm trồng giống bầu F1-449 và F1-6168 không ghép có
tỷ lệ bệnh chết cây cao hơn nhiều lần so ở những ô trồng bầu có ghép dẫn đến
năng suất quả ở những ô không ghép thấp hơn có ý nghĩa (p < 0,05) qua phép thử
Duncan so với những ô trồng cùng giống bầu được ghép trên giống bầu gốc ghép
B1 và B2 (Hình 3.1). Các kết quả nghiên cứu trước đó của Ngô Quang Vinh và
Chu Trung Kiên (2006) cho biết ghép giống dưa hấu Hắc mỹ nhân 777 và An
tiêm 95 trên giốc bầu gốc ghép B1 và B2 cho năng suất cao hơn so với dưa hấu
không ghép từ 14,1 – 15,4 tấn/ha và 23,8 – 24,4 tấn/ha do dưa hấu ghép không bị
bệnh chết cây. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, năng suất dưa hấu ghép trên gốc bầu tăng 21 -

ghép là > 7%. Tại thời điểm 70 NST, tỷ lệ bệnh chết cây ở những lô trồng bầu
ghép là < 1% thấp hơn có ý nghĩa (p < 0,05) qua trắc nghiệm T-test so với tỷ lệ
bệnh chết cây là > 16,38% ở những lô trồng bầu không ghép. Đến 80 NST, ở
những lô trồng bầu ghép tỷ lệ bệnh chết cây là < 4% thấp hơn rất có ý nghĩa (p
<0,01) qua trắc nghiệm T-test so với tỷ lệ bệnh chết cây là > 27% ở những lô
không ghép (Bảng 3.7).
Thí nghiệm 1
Thí nghiệm 2

Trích đoạn Grouping Mea nN goc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status