ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu) TÁC DỤNG CỦA VÉC-NI SHELLAC F TRONG NGĂN CHẶN
SÂU RĂNG Ở TRẺ EM 12 TUỔI TẠI TRƯỜNG THCS AN LẠC,
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỒNG CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI TS. Hoàng Đạo Bảo Trâm BS CKII Trần Đức Thành
ngẫu nhiên gồm: (1) nhóm Shellac F, (2) nhóm Duraphat
®
, (3) nhóm chứng không sử
dụng véc-ni; các nhóm sử dụng véc-ni được áp dụng phác đồ bôi véc-ni ba tháng một
lần. Khám đánh giá sâu răng mỗi sáu tháng theo tiêu chí ICDAS II, được thực hiện bởi
ba người khám đã được chuẩn hóa. Kết quả cho thấy tình trạng sâu răng ở nhóm Shellac
F và nhóm Duraphat
®
thấp hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng ở các thời điểm
12, 18 và 24 tháng; tuy nhiên không có khác biệt có ý nghĩa khi chỉ xét tổn thương thành
lỗ. Sau 24 tháng, nhóm Shellac F có tỷ lệ giảm sâu răng là 52% (S
1
) và 37% (S
3
), tỷ lệ
này là 56% và 12% ở nhóm Duraphat
®
. Véc-ni Shellac F có hiệu quả trong ngăn chặn
sâu răng ở trẻ 12 tuổi sau 24 tháng và hiệu quả này tương đương véc-ni Duraphat
®
.
SUMMARY OF RESEARCH CONTENT
The objective of this study was to evaluate the efficiency of Shellac F in dental
caries prevention. A single-blind, randomized controlled trial was conducted at An Lac
school, Binh Tan district, HCM city, on 207 children (12 years-old) living in a non-
fluoridated area. Shellac F and Duraphat
®
were applied in the two experimental groups
every three months and no application of fluoride varnishes was done in the control
Danh sách chữ viết tắt
IV
Bảng đối chiếu thuật ngữ Việt Anh
V
Danh sách bảng
VI
Danh sách biểu đồ
VII
Danh sách hình
VII
PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2
1.1
Bệnh sâu răng
4
1.1.1
Quan niệm hiện đại về bệnh sâu răng
4
1.1.2
Hệ thống đánh giá và phát hiện sâu răng ICDAS II
5
3.2
Mức độ giảm sâu răng
31
3.3
Mức độ trầm trọng của tình trạng sâu răng
31
3.4
Mức độ gia tăng chỉ số sâu mất trám
35
3.5
Phân bố theo mức độ gia tăng số mặt răng sâu mất trám
38 III
CHƯƠNG IV. BÀN LUẬN
40
4.1
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
40
4.2
Tình trạng sâu răng của các nhóm thử nghiệm
42
4.2.1
Tình trạng sâu răng toàn bộ
42
4.2.2
Tình trạng sâu răng thành lỗ
47
FHA Tinh thể fluorhydroapatite
HA Tinh thể hydroxyapatite
ICDAS International Caries Detection and Assessment System
M Mất
N Số học sinh
S Sâu
(S) Nhóm Shellac F
SMT-R Sâu mất trám răng vĩnh viễn
SMT-MR Sâu mất trám mặt răng vĩnh viễn
T Trám
TB Trung bình
THCS Trung học cơ sở
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
WHO World Health Organization
△SMT Mức độ gia tăng trung bình sâu mất trám V
BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT ANH Tiếng Việt Tiếng Anh
Bão hòa Saturation
Dưới bão hòa Undersaturation
Kỹ thuật bôi véc-ni Fluoride varnish application technique
Quá trình mất khoáng Demineralization
Quá trình tái khoáng Remineralization
Quá bão hòa Supersaturation
Véc-ni fluor Fluoride varnish
3
) của ba nhóm tại các thời điểm……….…………30
Bảng 3.5: Tỷ lệ giảm sâu răng của nhóm Shellac F và nhóm Duraphat
®
so với nhóm chứng sau 12 tháng và sau 24 tháng………………………………… 31
Bảng 3.6: Trung bình S
1
MT-R của ba nhóm ở các thời điểm .………….………… 32
Bảng 3.7: Trung bình S
1
MT-MR của ba nhóm ở các thời điểm ………………….32
Bảng 3.8: Trung bình S
3
MT-R của ba nhóm ở các thời điểm …………………….34
Bảng 3.9: Trung bình S
3
MT-MR của ba nhóm ở các thời điểm ………………….34
Bảng 3.10: Mức độ gia tăng S
1
MT-R (∆S
1
MT-R) của ba nhóm……… ………… 36
Bảng 3.11: Mức độ gia tăng S
3
MT-R (∆S
3
MT-R) của ba nhóm……… ….37
Bảng 3.12:
Phân bố theo mức độ gia tăng S
®
………………… ……………….19
Hình 2.2: Bộ đồ khám…………………………… ……………………………… 20
Hình 2.3: Tiêu chí đánh giá sâu răng ICDAS-II…………… ……… ……………23
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Tên đề tài/dự án:
TÁC DỤNG CỦA VÉC-NI SHELLAC F TRONG NGĂN CHẶN SÂU RĂNG
Ở TRẺ EM 12 TUỔI TẠI TRƢỜNG THCS AN LẠC, QUẬN BÌNH TÂN, TP HCM
Chủ nhiệm đề tài/dự án: TS. Hoàng Đạo Bảo Trâm
BS CKII Trần Đức Thành
Cơ quan chủ trì: Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian thực hiện: 2007-2013
Kinh phí được duyệt: 600 tr.đ
Kinh phí đã cấp: theo TB số: TB-SKHCN ngày /
Mục tiêu:
Đánh giá tác dụng của véc-ni Shellac F trong dự phòng sâu răng và điều trị sang
thương sâu răng mới chớm ở trẻ em 12 tuổi trường THCS An Lạc, Quận Bình Tân,
thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung:
1. Đánh giá sự thay đổi về tỷ lệ và các chỉ số sâu răng ở trẻ 12 tuổi sau 24 tháng sử
dụng Shellac F.
2. So sánh sự khác biệt về tỷ lệ và các chỉ số sâu răng ở trẻ 12 tuổi sau 24 tháng
được điều trị cao tương tự như kết quả khảo sát đối với các răng sữa [10].
Điều tra năm 1999 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chỉ số SMT-R ở trẻ 8 tuổi
vùng nội thành là 0,68 (±1,37) và ở vùng ngoại thành là 1,19 (±1,33) [12]. Năm 2003,
theo kết quả điều tra về tỷ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh sâu răng, của Đào Thị
Hồng Quân và cộng sự [13]: (1) Ở vùng fluor hóa nước, tỷ lệ sâu răng là 36,4%, SMT-
R là 1,22 và SiC là 2,39; (2) Ở vùng không fluor hóa nước, tỷ lệ sâu răng là 72,9%,
SMT-R là 2,7 và SiC là 4,83. Kết quả điều tra cho thấy hiệu quả của các chương trình
dự phòng sâu răng đã và đang được triển khai tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời
gian qua. Tuy nhiên, việc tìm giải pháp hiệu quả và kinh tế hơn nữa, có thể phù hợp với
các đối tượng cộng đồng và cá thể khác nhau, đặc biệt là trẻ sống tại vùng không fluor
hóa nước và trẻ có nguy cơ sâu răng cao còn là một câu hỏi đặt ra đối với các nhà
nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học.
3
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tác dụng của fluor chủ yếu là do tiếp xúc
trực tiếp với bề mặt men răng và hiệu quả này vượt trội hơn hẳn sau khi răng đã mọc
[27],[36],[38]. Véc-ni fluor được phát triển từ cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970,
tiếp theo sau các sản phẩm chứa fluor có tác dụng tại chỗ như gel và dung dịch súc
miệng có fluor, nhằm kéo dài thời gian tiếp xúc giữa men răng và fluor. Đến thập niên
1980, véc-ni fluor được sử dụng rộng rãi ở châu Âu trong các chương trình phòng bệnh
cho cộng đồng và đã đưa đến kết quả giảm sâu răng có ý nghĩa tại một số nước.
Với cơ chế tạo hợp chất không bền chứa fluor và dự trữ trên men răng, véc-ni fluor
chỉ cần tồn tại và tiếp xúc sát với bề mặt men răng trong vài giờ, mà không bám dính
vĩnh viễn trên mặt răng. Các nghiên cứu in vitro và in vivo đều kết luận rằng so với các
tác nhân cung cấp fluor tại chỗ khác, véc-ni fluor có ưu điểm là an toàn và dễ sử dụng.
Hơn nữa, việc sử dụng véc-ni fluor có thể được điều chỉnh để phù hợp với từng trường
hợp lâm sàng, chẳng hạn như đối với trẻ có nguy cơ sâu răng cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ.
Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế cũng là một yếu tố làm cho sử dụng véc-ni fluor có thể
4
)
6
(OH)
2
.
Khi pH nước bọt giảm dưới mức bão hòa, một phần tinh thể men răng tan rã, quá
trình mất khoáng diễn ra, các thành phần khoáng khuếch tán ra khỏi mô răng. Trong
điều kiện pH giảm từ 7 xuống 4, mức độ tinh thể hydroxyapatite bị hòa tan tăng lên
gấp 7 lần. Hiện tượng phóng thích chất khoáng ra từ nước bọt, vôi răng và các hợp
chất của Ca-F… làm ổn định lại tình trạng bão hòa. Cân bằng được lập lại khi lượng
chất khoáng (Ca
2+
, PO
4
3-
, OH
-
) đã được giải phóng đủ mức.
Khi pH tăng, tình trạng quá bão hòa, hiện tượng mất khoáng đảo ngược. Ca
2+
, PO
4
3
,
F
-
khuếch tán vào trong răng, lắng đọng một lớp mới trên phần còn lại của các tinh thể.
Khuynh hướng kết tụ chất khoáng để trở về bão hòa nhằm tái khoáng các tinh thể đã
mất khoáng một phần.
6
tương ứng từ 0 đến 8. Riêng răng không tồn tại trên cung hàm tùy theo lý do răng mất
sẽ được ghi nhận với mã số từ 96 đến 99.
- Chữ số thứ hai: được mã hóa từ 0 đến 6 tùy theo mức độ trầm trọng của tổn thương
sâu răng.
Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy tiêu chí ICDAS II có tính toàn diện khi mô tả và
đo lường nhiều mức độ trầm trọng của tổn thương, có mối tương quan giữa độ sâu của
tổn thương theo mô học, độ tin cậy cao, có thể ứng dụng trong nghiên cứu và thực
hành [34][45].
1.2.Fluor và dự phòng sâu răng
1.2.1.Vai trò của fluor
Fluor là nguyên tố có độ âm điện lớn, có khả năng tạo liên kết ion mạnh hơn OH
-
.
Fluor có ái lực mạnh với Ca
2+
, dễ thay thế vị trí nhóm hydroxyl (OH
-
) trong tinh thể
hydroxyapatite (HA) tạo thành tinh thể fluoroapatite (FA). FA có cấu trúc tinh thể đối
xứng hơn HA, sức hút tĩnh điện giữa Ca
2+
- F
-
lớn hơn Ca
2+
- OH
ít
hòa tan, tồn tại trên bề mặt men răng, mảng bám răng làm giảm khả năng hòa tan của
men răng và đây cũng là nguồn dự trữ fluor do đặc tính tan chậm của CaF
2
[4],[39],[40].
.
1.2.2.Véc-ni fluor
Véc-ni fluor là một hỗn hợp dạng keo lỏng được làm từ nguyên liệu tự nhiên hoặc
tổng hợp, có chứa các muối fluor được hòa tan trong dung môi như ethanol. Véc-ni
phủ thành một lớp mỏng trên bề mặt men răng, lớp này sẽ khô cứng lại sau vài phút.
Véc-ni fluor giúp kéo dài thời gian tiếp xúc của men răng với fluor để tạo tinh thể
hydroxyapatite và fluorapatite, giúp tăng cường độ cứng của men răng, giảm tốc độ
hòa tan men răng, gia tăng sức đề kháng với acid gây sâu răng và thúc đẩy quá trình tái
khoáng hóa các tổn thương sâu răng mới chớm.
Trong nhiều thập niên cuối thế kỷ 20, các nghiên cứu trên thế giới đã tập trung
nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của fluor đối với bệnh sâu răng, trong đó, tác dụng
của việc sử dụng fluor tại chỗ ngày càng được khẳng định.
Từ những năm 1960, Mellberg đã thấy rằng có một lượng đáng kể fluor được phóng
thích từ men răng trong vòng 24 giờ sau khi được sửa soạn với acid fluoride
phosphate. Hiệu quả của fluor sử dụng tại chỗ có liên quan với khoảng thời gian tiếp
xúc với men răng (Brudevold và cs, 1967). Richardson chứng minh rằng, sự hấp thu
8
fluor của men răng tăng tỷ lệ thuận với khoảng thời gian răng được cách ly với nước
bọt sau khi tiếp xúc với fluor và đề nghị nên phủ một lớp chất không thấm nước lên bề
mặt men sau khi bôi fluor. Năm 1964, Schmidt đã giới thiệu một phương pháp bôi
fluor tại chỗ mới bằng véc-ni với hàm lượng fluor cao là Duraphat
(OH)
2
+ F
-
Ca
10
(PO
4
)
6
OHF
+ OH
-
(tinh thể fluorhydroxyappatite)
Ca
10
(PO
4
)
6
(OH)
2
+ 2 F
-
Ca
10
(PO
4
–
(calcium fluoride)
9
Calcium fluoride (CaF
2
) là chất lắng đọng chủ yếu được tìm thấy trên bề mặt men
và trong tổn thương sâu răng dưới lớp bề mặt. CaF
2
chỉ hoạt động trên bề mặt men và
dễ bị mất khi tiếp xúc với dung dịch kiềm. Mặc dù là một hợp chất không bền trong
nước bọt, nhưng CaF
2
có thể tồn tại tốt dưới bề mặt men răng, tránh sự tiếp xúc trực
tiếp với nước bọt để trở thành nguồn dự trữ ion F
-
.
CaF
2
hòa tan chậm cung cấp ion F
-
, tiếp tục thay thế gốc OH
-
trong tinh thể
hydroxyapatite tạo thành tinh thể fluorapatite. Trong trường hợp môi trường miệng
bão hòa với ion Ca
2+
Ca
10
(PO
4
)
6
(OH)
2
+ 8 H
+
→ 6 CaHPO
4
.2H
2
O + 4 Ca
2+
(dicalcium phosphate dehydrate)
Khi có sự hiện diện của ion F
-
, dicalcium phosphate dehydrate không bền vững, sẽ
kết hợp với ion F
-
để tạo thành tinh thể fluorapatite; cả dicalcium phosphate dehydrate
và Calcium fluoride đều có thể lắng đọng dưới dạng fluoroapatite trong điều kiện
thuận lợi khi có sự hiện diện của ion PO
4
3-
(quá trình tái khoáng hóa) [37].
Tuy nhiên, theo Fejerskov (1981), không có mối liên hệ rõ rệt giữa hàm lượng fluor
0,1% dưới dạng difluorosilane hòa tan trong dung dịch ethyl acetate và
isoamylpropianate; Duraflor (Pharmascience Inc.) với công thức tương tự Duraphat
®
,
trong Duraflor còn có thêm chất ngọt nhân tạo là xylitol nhằm cải thiện mùi vị và được
trình bày dưới dạng tube 10ml, lượng F
-
mỗi lần bôi là 6,8-11,3 mg; Cavity Shield
(Omnii Products, FL) có NaF 5% trong chất căn bản nhựa, trình bày dưới dạng liều
nhỏ riêng biệt 0,25 ml (12,5mg NaF) hoặc 0,4 ml (20mg NaF).
Mức độ an toàn của véc-ni fluor [43]
Phần lớn các loại véc-ni fluor trên thế giới chứa 22,6mgF/ml (22.600 ppm ion F
-
).
Khả năng trẻ nuốt và nhiễm độc fluor vẫn có thể xảy ra dù véc-ni đông đặc nhanh và
dùng liều lượng ít. Tuy nhiên, nếu bôi vừa đủ (0,5ml) thì lượng fluor trẻ có thể nuốt
vào là 11,30 mg, nằm trong mức an toàn. Liều gây ngộ độc fluor là 5mg/kg cân nặng.
Theo kết quả đánh giá của Ekstrand và cộng sự, hàm lượng fluor trong huyết tương
và trong nước tiểu của trẻ sau khi bôi véc-ni Duraphat
®
sau 12 giờ là 500-1100µg ion
fluor/ml, rất thấp so với liều gây ngộ độc.
Lượng fluor trong nước tiểu tăng sau khi sử
11
dụng véc-ni Duraphat
®
của hai nhóm thử nghiệm là 5,5 và 5,7, và 14,3 và 14,9, nếu bao gồm cả các tổn
thương sâu răng mới chớm, không có khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm. Seppä và
cộng sự cho rằng không có sự khác biệt đáng kể giữa hai véc-ni có nồng độ fluor khác
nhau về hiệu quả phòng ngừa sâu răng, và nên cân nhắc chọn lựa loại véc-ni có nồng
độ fluor thích hợp, đặc biệt đối với trẻ nhỏ [47].
12
Năm 2001, Autio-Gold và cộng sự tiến hành thử nghiệm trên 142 trẻ 3-5 tuổi. Các
tác giả nhận thấy sau khi bôi Duraphat
®
, 81,2% mặt răng có tổn thương sâu răng mới
chớm trở nên bất hoạt sau hai lần bôi, 2,4% tiếp tục sâu nặng thêm và 8,2% không
thay đổi. Tỷ lệ này so với nhóm chứng tương ứng là 37,8%; 3,6% và 36,9%. Các chỉ
số smt của nhóm sử dụng véc-ni cũng thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng [26].
Năm 2008, Xhemnica và cộng sự tiếp tục tìm hiểu hiệu quả của véc-ni fluor qua
một thử nghiệm trên 92 học sinh, được chia làm hai nhóm có và không sử dụng véc-ni
fluor. Trong thời gian nghiên cứu, véc-ni được bôi trên các răng ba lần, mỗi lần cách
nhau ba tháng. Kết quả cho thấy chỉ số SMT của nhóm sử dụng véc-ni thấp hơn so với
nhóm chứng. Khi xét tình trạng sâu răng bao gồm cả tổn thương sâu răng mới chớm,
khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê [54].
Năm 2007, Hardman và cộng sự đánh giá tình trạng sâu răng răng sữa và răng vĩnh
viễn sau 26 tháng trên những sang thương sâu men và sâu ngà. Trên 350 trẻ 6 tuổi
được bôi véc-ni Duraphat
®
mỗi sáu tháng một lần trong hai năm, các tác giả chỉ ghi
nhận được sự giảm có ý nghĩa số lượng sang thương sâu men kích thước nhỏ ở bộ răng
sữa trên đối tượng có mức độ sâu răng ban đầu thấp. Hardman kết luận rằng ông đã
thất bại trong việc chứng minh hiệu quả của véc-ni Duraphat
trọng lượng phân tử thấp hơn, gọi là nhựa mềm. Phần sau cùng này tác dụng như tác
nhân làm dẻo, có thể tách ra khỏi phần lưới cứng và ít hòa tan hơn phần nhựa cứng,
bằng cách ly trích với dung môi benzene, toluene, xylene, trichloroethylene. Nhựa
mềm chủ yếu chứa các chất màu. Bảng 2.1 mô tả tỷ lệ từng thành phần hóa học chính
của shellac, theo Cockeram và Levine.
Bảng 1.1: Tỷ lệ các thành phần hóa học của shellac.
Thành phần hóa học
% (khối lượng)
Aleuritic acid
46%
Shellolic acid và đồng chất
27%
Kerrolic acid
5%
Butolic acid
1%
Các esters của cồn và acid
2%
Các tạp chất trung tính, chất màu
7%
Các polybasic acid
12%
14
Shellac là một loại nhựa có liên kết hydrogen phân cực nên với trọng lượng phân tử
thấp (khoảng 1000) shellac vẫn tạo được màng liên tục cứng nhắc trong khi các chất
khác phải có phân tử lớn hơn 10.000 mới tạo được màng.
Véc-ni Shellac F biến tính epoxy có tính thấm và chảy tự nhiên trên đáy hố rãnh,
chui được vào đến đáy các hố rãnh trên mặt nhai của răng. Giao diện Shellac F tương
tự giao diện của vật liệu trám bít hố rãnh. Véc-ni hình thành các trụ nhựa có tác dụng
vi lưu trong lớp men bị xoi mòn bằng acid phosphoric. Do tính kết tủa trong môi
trường ẩm và khả năng thấm nhập mô men, nhựa của véc-ni Shellac F có thể tạo
những nút chặn vật lý lớn hơn kích thước của các hạt tinh thể.
Ngay cả ở vùng men không bị xoi mòn trước bằng acid thì nhựa shellac vẫn bám
dính tự nhiên rất sát trên bề mặt men. Việc không thổi khô bề mặt răng trước khi bôi
véc-ni hay làm ô nhiễm nước bọt trên bề mặt men răng trước khi bôi véc-ni fluor ít ảnh
hưởng đến sự lưu của véc-ni fluor. Một số kết quả thí nghiệm cho thấy, mức độ bám
dính của véc-ni Shellac F tốt hơn khi bề mặt men răng được xoi mòn bằng acid.
Khả năng phóng thích fluor của véc-ni Shellac F [6],[7],[9]
Kết quả khảo sát khả năng phóng thích fluor của nhựa cánh kiến biến tính hóa học
có NaF với Duraflor và Fluor Protector trong các môi trường nước bọt có pH khác
nhau (3,5; 6,5 và nước cất) cho thấy không có thành phần lạ phóng thích. Lượng fluor
phóng thích từ nhiều đến ít trong từng trường hợp sau:
Về vật liệu: nhựa cánh kiến biến tính hóa học NaF 3% phóng thích fluor nhiều hơn
Duraflor và Fluor Protector. Điều này là do kết quả của quá trình biến tính hóa học, sự
kết hợp của nhựa cánh kiến và nhựa epoxy giúp cho fluor dễ dàng phóng thích hơn.
Quá trình phóng thích fluor có thể kéo dài đến ngày thứ 10 trên các mẫu răng được
đánh bóng trước khi bôi. Nhựa cánh kiến không tẩy trắng phóng thích fluor nhiều nhất
trong mọi môi trường.
Về môi trường: lượng fluor phóng thích giảm dần ở nước bọt có pH 3,5; pH 6,5;
thấp nhất trong môi trường nước cất.
Về thời gian: Lượng fluor phóng thích giảm dần theo thời gian, cao nhất ở ngày đầu
tiên, sau ngày thứ 7 nồng độ fluor dưới mức phát hiện của điện cực.
16
chân răng [14]. Shellac F cũng thể hiện tác dụng giảm tính thấm ngà răng thông qua cơ
chế tạo các khối tinh thể bít kín các ống ngà mở [32].
17
Độc tính của véc-ni Shellac F
Năm 1999, Phan Ái Hùng và cộng sự khảo sát khả năng phóng thích fluor từ
Shellac F biến tính hóa học NaF 3% trong môi trường nước bọt, không thấy sự hiện
diện của chất lạ, ngoại trừ các thành phần có sẵn hoặc thêm vào trong môi trường
(CaHPO
4
, NaOH, NaF ) [6].
Ngành hóa mỹ phẩm đã xác định shellac, dù chưa tinh khiết hay đã tẩy sạch các
chất sáp, không có độc tính và có thể nuốt được. Shellac tẩy trắng được sử dụng rất
nhiều để làm chất bao trong công nghệ bánh kẹo và dược phẩm, không gây phản ứng
dị ứng hay mẫn cảm. Ở nước ta, cánh kiến được nhuộm răng từ nhiều thế kỷ trước, vật
liệu tồn tại rất lâu trong miệng và không có trường hợp nào được báo cáo là gây biến
chứng [9].
Khi tiến hành thử nghiệm theo phương pháp thử độc tính với tế bào qua chất tiết từ
vật liệu theo tiêu chuẩn Châu Âu ISO10993-5 (mô phỏng ở mức độ mạnh hơn so với
thực tế lâm sàng), mức độ độc tính đối với tế bào của véc-ni Shellac F tương tự như
véc-ni Duraphat
®
. Cả hai vật liệu này đều không còn độc với tế bào ở nồng độ pha
loãng 1/10, tỉ lệ tế bào còn sống là 90% [18],[19],[20],[32].
Kết quả các thử nghiệm in vitro, in vivo, in situ cho thấy véc-ni Shellac F là một vật
liệu nha khoa an toàn và có thể sử dụng trên lâm sàng.
Một số thử nghiệm lâm sàng về tác dụng của véc-ni Shellac F