MỤC LỤC
LIỆT KÊ CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ 4
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
3. Mục tiêu của đề tài 9
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9
5. Nội dung nghiên cứu 10
6. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 10
7. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu, khảo sát 10
7.1. Phạm vi nghiên cứu 10
7.2. Giới hạn khảo sát của đề tài 11
8. Lý thuyết nghiên cứu ứng dụ
ng trong đề tài 11
9. Giả thuyết nghiên cứu 19
10. Khung phân tích 20
11. Phương pháp nghiên cứu 20
12. Đặc điểm mẫu khảo sát 21
13. Bố cục đề tài 24
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 25
1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. 25
1.1. Thời trang 25
1.2. Xu hướng 27
1.3. Nhu cầu 27
1.3.1. Các quan niệm về nhu cầu. 27
1.3.2. Vai trò của nhu cầu 29
1.3.3. Thỏa mãn nhu cầu 30
1.3.4. Phân loại nhu cầu 31
1.4. Nhu cầu thờ
i trang và thỏa mãn nhu cầu thời trang 34
ới 123
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 127
1. Kết luận 127
2. Khuyến nghị 128
2.1. Đối với bản thân giới trẻ 128
2.2. Đối với gia đình 128
2.3. Đối với nhà trường 130
2.4. Đối với các nhà quản lý 131
2.5. Đối với doanh nghiệp 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
3
PHỤ LỤC 1. PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN 136
PHỤ LỤC 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT 142
PHỤ LỤC 3. BÀI BÁO KHOA HỌC……………………………………… 162
4
LIỆT KÊ CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
CÁC BẢNG
Bảng 1. Sự quan tâm của giới trẻ đến cách ăn mặc 65
Bảng 2. Lý do mua sắm quần áo của giới trẻ và công việc 67
Bảng 3. Yếu tố quan trọng khi lựa chọn kiểu dáng quần áo 68
Bảng 4. Nhận định chung về xu hướng thời trang 70
Bảng 5. Yếu tố quan trọng khi lựa chọn quần áo và vùng miền 76
Bảng 6. Mức độ thường xuyên mua sắm quần áo và vùng miền 89
Bảng 7. Phương thức tìm kiếm thông tin sản phẩm 91
Bảng 8. Phương thức tìm kiếm thông tin sản phẩm theo tỉ lệ vùng miền 92
Bảng 9. Lý do thích hàng may đo 95
Bảng 10. Tổng thu nhập hàng tháng và công việc 98
Bảng 11. Số lượng quần áo mua trong năm của giới trẻ 100
Biểu đồ 17. Đồng ý với quần áo có kiểu dáng, mẫu mã phong phú 97
Biểu đồ 18. Lựa chọn quần áo theo xuất xứ 98
Biểu đồ 19. Tỉ lệ tiêu dùng các sản phẩm may mặc của công chức 98
Biểu đồ 20. Giá quần/áo thường mua của giới trẻ 106 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được
nâng cao, các mặt hàng thời trang đã và đang trở thành một vấn đề được nhiều
người quan tâm. Việc xuất hiện các sản phẩm thời trang phong phú với những
kiểu dáng và mẫu mã đa dạng có thể đáp ứng tất cả mọi nhu cầu của ngườ
i tiêu
dùng và ngược lại sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng thời trang phát triển. Giới trẻ,
với bản chất trẻ trung, năng động, yêu thích cái đẹp, đồng thời cũng là đối
tượng sẵn sàng chi tiêu để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, trong đó mặc là nhu cầu
đặc trưng và thiết yếu trong cuộc sống. Bên cạnh phần lớn các bạn trẻ có trình
độ thẩm mĩ tốt, có ý thức giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống dân tộ
c, trong
trang phục họ có xu hướng tìm đến cái đẹp chân phương, giản dị, mang đậm vẻ
đẹp văn hóa truyền thống, thì vẫn còn bộ phận không nhỏ có tư tưởng “hướng
ngoại”, tiếp thu không chọn lọc những luồng văn hóa ngoại nhập, một số ít các
bạn trẻ khác vì ăn chơi đua đòi, chạy theo thời trang quá đà đã chi dùng cho
thời trang một cách không chính đáng. Khi nhu cầu về mặc v
ượt quá thu nhập,
điều kiện bản thân và không phù hợp với những nét văn hóa dân tộc sẽ dẫn đến
hiện tượng lệch chuẩn như ăn cắp, cờ bạc, mại dâm
Trong bối cảnh đó, việc đặt và giải quyết vấn đề nhu cầu thời trang, thỏa
mãn nhu cầu thời trang của giới trẻ về mặt thực tiễn và lý luận là một quan tâm
dùng vật chất như ă
n, mặc, ở, đi lại… và nhu cầu tiêu dùng cho lĩnh vực văn
hóa tinh thần như tiêu dùng cho vui chơi giải trí, cho hưởng thụ các hoạt động
văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch… Kết quả đề tài đã nêu lên thực
trạng nhu cầu tiêu dùng văn hóa của đội ngũ trí thức - giảng viên, dự báo xu
hướng tiêu dùng văn hóa của đội ngũ trí thức - giảng viên các trường đại học ở
Hà Nội nói riêng và trí thức – giảng viên cả nước nói chung.
2.3. Trần Thúy Bình (1995), Mốt thời trang trong sản xuất kinh doanh
hàng may mặc ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội. Với cách tiếp
cận để nâng cao hiệu quả từ phía thị trường, luận án đã làm rõ tính tất yếu của
hiện tượng mốt và đề cập một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực
tiễn củ
a phạm trù kinh tế mốt thời trang. Xuất phát từ nhu cầu mặc để nghiên
cứu đặc điểm sản phẩm may mặc và hiện tượng mốt thời trang, nhằm làm sáng
tỏ bản chất của hiện tượng mốt thời trang, mối quan hệ của mốt thời trang với
các sản phẩm may mặc. Nghiên cứu những tác động của mốt thời trang đến sản
xuất kinh doanh hàng may mặc, rút ra nh
ững kết luận có tính chiến lược cho
việc sản xuất kinh doanh hàng may mặc, đề xuất cách tiếp thị, tìm kiếm sản
phẩm mới, sáng tác mẫu mới cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thời
trang.
2.4. Đỗ Long, Tâm lý tiêu dùng và xu thế diễn biến, Nxb. Hà Nội, 1997.
Nội dung tác phẩm đi sâu đánh giá, phân tích và nêu lên những nhận định bước
đầu về các lĩnh vực trong hoạt động sống của con người. Giới hạn cu
ốn sách
dừng lại ở những tìm hiểu về nhu cầu, tập quán, phong tục, thị hiếu của nếp ăn,
ở, mặc, đi lại, của việc tiêu tiền bạc và thời gian dành cho hưởng thụ văn hóa…
và nêu lên những xu thế diễn biến của nó.
8
ọ thường xuyên chịu những tác động tiêu
cực từ thị trường như nạn hàng giả, hàng nhái… Từ đó tác giả đề ra các cơ chế
bảo vệ người tiêu dùng cũng như vai trò của Nhà nước trong vấn đề này.
2.8. Võ Thị Thanh Tuyền, Nhu cầu vật chất trong cuộc sống của công
chức trẻ ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Thực trạng và xu hướng, Đề tài
thuộc chương trình V
ườn ươm Khoa học trẻ (Thành đoàn Thành phố Hồ Chí
Minh) năm 2008. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để thu
thập thông tin về nhu cầu vật chất của công chức trẻ tại Thành phố Hồ Chí
9
Minh. Kết quả đề tài đã phác họa bức tranh thực trạng nhu cầu và thỏa mãn nhu
cầu vật chất như: nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại… của công chức trẻ Thành phố Hồ
Chí Minh và đưa ra một số dự báo chung về nhu cầu vật chất trong cuộc sống
của công chức trẻ. Mặc dù đề tài đã đề cập đến một phần nhu cầu mặc như
ng
chưa đi sâu phân tích nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu thời trang, những yếu tố ảnh
hưởng đến nhu cầu thời trang của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, các công trình đề cập ở trên chưa nghiên cứu một cách hệ thống
nhu cầu thời trang của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh; chưa phân tích một
cách cụ thể quan điểm, nhận thức của giới trẻ về
thời trang, thỏa mãn nhu cầu
thời trang và những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thời trang của giới trẻ Thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay. Đó cũng là lý do chúng tôi thực hiện đề tài này.
3. Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu thời trang của giới trẻ Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay.
- Lý giải những yếu tố cá nhân và xã hội ảnh hưởng đến nhu cầu thời trang
của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
- Dự báo về xu hướng thời trang của giới trẻ và đưa ra các khuyến nghị
5. Nội dung nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: khái niệm thời trang, các số quan điểm về nhu cầu, nhu
cầu thời trang, thỏa mãn nhu cầu thời trang, nh
ững yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu
thời trang của giới trẻ.
5.2. Phân tích thực trạng nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu thời trang của giới trẻ
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có sự so sánh với giới trẻ Hà Nội.
5.3. Những yếu tố cá nhân và xã hội ảnh hưởng đến nhu cầu thời trang của
giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
5.4. Dự báo xu hướng thời trang của giớ
i trẻ và đưa ra một số khuyến nghị
nhằm giáo dục, định hướng thẩm mĩ thời trang cho giới trẻ.
6. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Xu hướng thời trang của giới trẻ Thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay.
- Khách thể nghiên cứu: Giới trẻ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu, khảo sát
7.1. Phạm vi nghiên cứu
- Đố
i tượng nghiên cứu của đề tài là “Xu hướng thời trang của giới trẻ
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, trong quan điểm nghiên cứu của đề tài này,
chúng tôi xác định xu hướng thời trang sẽ được bộc lộ ra ở một số khía cạnh cơ
bản như: nhu cầu thời trang, thỏa mãn nhu cầu thời trang, sự đáp ứng nhu cầu
thời trang của cá nhân, gia đình, xã hội, những yếu tố
ảnh hưởng đến nhu cầu
và thỏa mãn nhu cầu thời trang của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
- Thời trang là trang phục bao gồm nhiều vật dụng như quần áo, giày dép,
mũ nón, túi xách, trang sức, mỹ phẩm… được khoác trên cơ thể. Trong những
trang phục này, thời trang may mặc có tính chất đại diện nhất và phổ cập nhất
cấu trúc của hệ thống xã hội. Bên cạnh
đó chức năng còn được hiểu là quá trình
hoạt động đáp ứng nhu cầu, tạo ra lợi ích, thỏa mãn các nhu cầu của chỉnh thể
xã hội.
Áp dụng lý thuyết chức năng của Parsons vào đề tài này ta thấy rõ việc
thỏa mãn nhu cầu thời trang may mặc trước tiên là do chức năng vốn có là bảo
vệ cơ thể một cách đơn giản nhất khỏi những ảnh hưởng bất lợi t
ừ môi trường
bên ngoài. Bên cạnh đó trang phục còn có chức năng thẩm mỹ, khiến người
12
mặc trở nên đẹp hơn, tự tin hơn trong thực hiện các hoạt động thậm chí trang
phục thời trang còn thể hiện quyền lực, vai trò và vị thế của mỗi cá nhân. Vì
vậy, đối với các bạn trẻ các chức năng này của trang phục thời trang càng được
coi trọng.
8.2. Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 - 1970) được xem như một trong
những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn. Năm 1943,
ông đ
ã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa
nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm xã hội
học, tâm lý học, kinh tế học Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy
of Needs) của con người. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con
người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao
hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn
trước.
- Nhu cầu cơ bản (basic needs).
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu
sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như
ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải
người trưởng thành cảm thấy tự do hơn.
- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs).
Maslow mô tả nhu cầu này như sau: “self-actualization as a person's need
to be and do that which the person was “born to do” (nhu cầu của một cá nhân
mong muốn
được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để
làm”). Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả
năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành
quả trong xã hội.
Trong cuộc sống, con người có xu hướng đáp ứng nhiều nhu cầu trong một
hành vi và luôn ở trong trạng thái mong muốn đạt được những nhu cầu ở mức
cao hơn. Sau khi thỏ
a mãn được các nhu cầu cơ bản như “ăn no mặc ấm” con
người lại có nhu cầu cao hơn “ăn ngon mặc đẹp” và tìm cách thỏa mãn nó.
Trang phục cũng vậy, trước tiên con người có nhu cầu bảo vệ cơ thể, sau đó nó
phải đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và đặc biệt phải phù hợp với công việc để người
tiêu dùng trẻ khẳng định mình trong mọi hoàn cảnh.
Ngoài ra, ứng dụ
ng lý thuyết nhu cầu của Maslow trong nghiên cứu này sẽ
giúp chúng ta nhận biết được nhu cầu thời trang của giới trẻ đang ở mức độ
nào. Đồng thời giúp các nhà kinh doanh hiểu được các sản phẩm khác nhau phù
hợp như thế nào với các ý đồ, mục đích và đời sống của những người tiêu nhất
là người tiêu dùng trẻ.
8.3. Lý thuyết xã hội hóa
Xã hội hóa là một khái niệm, một phạm trù cơ bản c
ủa xã hội chỉ quá trình
cá thể tiếp thu, học tập nền văn hóa xã hội mà cá nhân đó được sinh ra và sống
trong đó, nghĩa là họ lĩnh hội được các kinh nghiệm xã hội, học những cái gì
14
- Gia đình: là tác nhân xã hội hóa đầu tiên và quan trọng. Đối với hầu hết
các cá nhân, gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên, dạy cho trẻ em những
kinh nghiệm xã hội, các giá trị, tiêu chuẩn văn hóa và dần dần trẻ tự kết hợp
vào ý thức cá nhân.
15
- Trường học là tác nhân xã hội hóa quan trọng. Đây là nơi con người bắt
đầu tiếp xúc với tính đa dạng xã hội, tương tác với nhiều thành viên không phải
là những người gần gũi trong gia đình, được dạy dỗ nhiều điều mới mẻ. Nhà
trường cung cấp kiến thức và kỹ năng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
mà nhiều khi các thành viên trong gia đình cũ
ng chưa thể nắm vững và truyền
tải hết được. Trong môi trường này, các cá nhân bắt đầu có những ý niệm về
các nhóm, các tổ chức, vị trí, vai trò và tính kỷ luật trong nhóm. Bên cạnh đó,
qua tương tác với thành viên khác góp phần hình thành nên những giá trị, chuẩn
mực, tiêu chuẩn văn hóa quan trọng.
- Bạn bè cũng là tác nhân xã hội hóa không kém phần quan trọng. Theo
G.Mead, nhóm bạn cùng lứa tuổi là những người khác quan trọng. Phần lớn trẻ
em đều có nhóm bạ
n mà thường là đồng trang lứa hoặc cùng chung mối quan
tâm, các quan điểm xã hội hoặc ở gần nơi cư trú. Khác với môi trường gia đình
và trường học, khi tham gia hoạt động với các nhóm bạn thường trẻ sẽ không
hoặc ít có sự giám sát trực tiếp của người lớn. Nhóm bạn tạo cơ hội cho cá nhân
thể hiện vai trò độc lập, được chia sẻ những mối quan tâm mà thường ít làm
được điều t
ương tự với cha mẹ, thầy cô. Đó là do sự khác biệt về nhận thức
giữa các thế hệ và vị trí, vai trò của các bên. Tuy nhiên, trong nhóm bạn thường
dễ có xu hướng tuân thủ và đánh giá tích cực về nhóm mình, thậm chí có cái
nhìn tiêu cực với các nhóm khác. Điều này đôi khi đem lại những tiêu cực khi
một số thành viên không phù hợp các tiêu chuẩn của nhóm sẽ bị cách ly, tách
ương tiện nào để đạt được
mục đích.
Max Weber đưa ra công thức hành động xã hội:
Ngoại cảnh
µ
¶
Nhu cầu Æ Động cơ Æ Chủ thể Æ Mục đích
Loại hành động thứ hai do G.M. Mead khởi xướng, hành động xuất phát từ
mối quan hệ liên cá nhân (người – người): ông đặt vấn đề bằng cách nào đó con
người lại có thể hiểu
được mình, đó là quá trình học hỏi được những người
khác. “Con người trở thành cá nhân tự phát triển như thế nào thông qua sự
tương tác với cá nhân khác”. Thuyết hành động của ông là thuyết hành động
giao tiếp và vị trí hàng đầu trong nghiên cứu là những hình thức những dạng
giao tiếp giữa người với người trong đó ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng.
Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu để có thể xem xét hành vi tiêu
dùng sản phẩm thời trang củ
a giới trẻ (nhất là hành vi mua hàng ngẫu hứng,
hành vi mua hàng có dự định, có kế hoạch trước) và những hành vi này xuất
phát từ những động cơ nào.
8.5. Lý thuyết học tập xã hội
Những mẫu hành vi có thể được quan sát và bắt chước, bao gồm đối tượng
là những người đồng trang lứa, những thành viên trong gia đình cũng như
17
những mẩu quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chính những
yếu tố xã hội này đã ảnh hưởng và thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm,
đặc biệt là những người trong cùng độ tuổi, cùng địa vị xã hội và cùng nền văn
hoá dân tộc.
Quan điểm này nhấn mạnh hiệu quả của việc học hỏi và bắt chước hành vi
vị của khách hàng. Theo Philip Kotler, hành vi khách hàng sẽ bị chi phối bởi
nền văn hoá mà họ được tích luỹ từ khi còn nhỏ, một đứa trẻ khi lớn lên sẽ họ
c
18
hỏi, tích luỹ một giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của
nó. Khi đứa bé này lớn lên sẽ hành xử theo giai cấp xã hội mà nó đang sống,
hành vi mua hàng của nó cũng sẽ bị chi phối bởi gia đình của nó (gia đình cha
mẹ và gia đình riêng) và khi đứa bé trưởng thành sẽ tham gia vào nhiều nhóm,
tổ chức… và vị trí của người này được xác định dựa vào vai trò và địa vị của
mình. Cuối cùng người này sẽ lựa chọ
n sản phẩm phù hợp với vai trò và địa vị
của mình trong xã hội.
- Theo philip kotler, ngoài yếu tố môi trường thì nhu cầu tiêu dùng của khách
hàng cũng bị chi phối bởi đặc điểm cá nhân như tuổi tác, giai đoạn của chu kỳ
sống, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống, nhân cách và ý niệm bản thân.
Khách hàng sẽ mua sản phẩm khác nhau trong suốt cuộc đời của mình, thị hiếu về
quần áo, đồ trang s
ức cũng tuỳ thuộc vào tuổi tác, nghề nghiệp của họ.
Hoàn cảnh kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng đối với hành vi tiêu dùng
của khách hàng. Những người có mức sống khác nhau sẽ có xu hướng may mặc
khác nhau. Những người có thu nhập thấp thiên theo xu hướng chắc bền; mặc
đẹp, lịch sự, hợp thời trang thường xuất ở những người có mức sống trung bình
hoặc mức số
ng khá giả. Bên cạnh hoàn cảnh kinh tế, còn có lối sống, nhân cách
và ý niệm về bản thân của khách hàng, vì mỗi khách hàng đều có cá tính riêng
ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của mình. Nhân cách được mô tả bằng các
cụm từ như: sự tự tin, táo bạo, lòng tôn trọng, tính tự lập, tính chan hoà, kín
đáo, dễ thích nghi… Do đó, nhân cách là một biến số hữu ích trong việc phân
tích nhu cầu của người tiêu dùng. Tất cả những đặc điểm này chính là đặc điểm
rằng tri thức của một người được tạo ra thông qua sự tác động qua lại của
những thôi thúc, tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng đáp lại
và sự củng cố. Thông qua hoạt động và tri thức, người ta có được niềm tin và
thái độ. Những yếu tố này lại có ảnh hưởng đến nhu cầu và hành vi mua sắm
của con người (Nguyễn Ng
ọc Thanh, 2008).
Từ những lý thuyết tiếp cận trên, có thể khái quát thành những yếu tố ảnh
hưởng đến nhu cầu thời trang của giới trẻ trong những nội dung sau:
- Yếu tố văn hóa, xã hội: gia đình, nhà trường, bạn bè, phương tiện thông
tin đại chúng, phong tục tập quán, sự giao lưu hội nhập, sự phát triển kinh tế thị
trường.…
- Yếu tố cá nhân: Tuổi, giới tính, nghề
nghiệp, thu nhập, điều kiện kinh tế
(bản thân, gia đình), nhận thức, thái độ, lối sống, địa vị xã hội…
9. Giả thuyết nghiên cứu
- Mua sắm quần áo thời trang của giới trẻ nhằm mục đích thể hiện cá tính,
sự khác biệt của bản thân.
- Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu thời trang của giới trẻ tỷ lệ thuận với điều
ki
ện kinh tế của bản thân.
- Giới trẻ đang có xu hướng chi tiền nhiều hơn cho việc tiêu dùng thời
trang.
- Nhóm yếu tố cá nhân ảnh hưởng mạnh hơn đến nhu cầu tiêu dùng thời
trang của giới trẻ so với nhóm yếu tố xã hội.
20
10. Khung phân tích
11. Phương pháp nghiên cứu
* Về phương pháp thu thập thông tin: sử dụng phương pháp thu thập
trường trung học phổ thông, 100 người là sinh viên đang học tập tại các trường
đại học, 100 người đang làm việc trong các cơ quan, công ty nhà nước, công ty
tư nhân, công ty nước ngoài tại các địa bàn như: quận 3, 4 (quận trung tâm), quận
7, 8 (vùng ven đang phát triển), quận 12, huyện Nhà Bè. Sau khi xác định được
các ch
ỉ tiêu, chúng tôi tìm và khảo sát những người phù hợp với các chỉ tiêu vừa
vạch ra chứ không dựa vào một danh sách cụ thể nào cả. Vì đây là cách chọn
mẫu phi xác suất nên chúng tôi không dám khẳng định rằng kết quả của chúng
tôi sẽ khái quát cho tổng thể (tức cho toàn bộ nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu thời
trang của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh).
12. Đặc điểm mẫu khảo sát
- Về giới tính.
Giớ
i tính
Giới tính Số lượng Phần trăm
Nam 95 31.7
Nữ 205 68.3
22
Tổng 300 100.0
Cuộc khảo sát tiến hành tại 6 quận/huyện với 300 bạn trẻ đang là học sinh,
sinh viên và đang làm việc trong các cơ quan, công ty nhà nước, tư nhân, công ty
nước ngoài. Trong đó nữ bao gồm 205 người chiếm hơn 68.3%, nam 95 người
chiếm 31.7%.
- Về độ tuổi.
Tuổi
Tuổi Số lượng Phần trăm
Dưới 18 tuổi 104 34,7
Từ 18 đến 24 tuổi 120 40,0
Từ 25 đến 32 tuổi 76 25,3
Từ các tỉnh miền Nam
71 23.7
Từ Tây Nguyên 13 4.3
Tại Thành phố Hồ Chí Minh
102 34.0
Tổng 300 100
- Công việc hiện nay.
Công việc hiện nay
Công việc hiện nay Số lượng Phần trăm
Đã đi làm 100 33.3
Sinh viên 100 33.3
Học sinh 100 33.3
Tổng 300 100.0
- Về nơi làm việc.
+ Đối với những người đã đi làm: Trong 100 người đi làm thì 65% làm
trong cơ quan, công ty nhà nước, 35% làm việc trong công ty tư nhân và công ty
nước ngoài.
+ Đối với sinh viên: có 10% sinh viên năm 1, 9% sinh viên đang học năm
thứ 2, 70% sinh viên đang học năm thứ 3 và 11% sinh viên đang học năm thứ 4.
+ Đối với học sinh: 50% học sinh đang học lớp 11, 50% học sinh học đang
học lớp 12
.
Bên cạnh kết quả nghiên cứu của nhóm thực hiện đề tài, chúng tôi có kế
thừa một số khái niệm trong phần cơ sở lý luận và một vài số liệu khảo sát của
đề tài “Nhu cầu vật chất trong cuộc sống của công chức trẻ Thành phố Hồ Chí
Minh – thực trạng và xu hướng”, chủ nhiệm Võ Thị Thanh Tuyền (2008) nhằm
so sánh đối chiếu nhu cầu của giới trẻ nă
m 2008 so với hiện nay (2012).
24
3. Xu hướng thời trang của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm tới
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
25
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
1.1. Thời trang
Thời trang là trang phục đương thời, là tập hợp những thói quen và thị
hiếu phổ biến trong cách mặc, thịnh hành trong môi trường xã hội nhất định,
với một khoảng thời gian nhất định.
Thời trang luôn gắn liền với thị hiếu thẩm mỹ của một con người, một xã
hội. Thị hiếu thẩ
m mỹ về thời trang có thể được hiểu như một năng lực sẵn có
của con người thể hiện sự ưa thích, lựa chọn, khả năng cảm thụ và thực hành cái
đẹp thông qua trang phục. Do vậy, thời trang phản ánh trình độ thẩm mỹ của đối
tượng đó, trình độ cao hay thấp, phù hợp với thời đại hay không phù hợp.
Thời trang hay hiện tượng nổi của nó - mố
t thời trang, do đó, phải được tìm
hiểu qua hàng loạt yếu tố nội hàm và ngoại diên liên quan như: truyền thống văn
hóa, môi trường thẩm mỹ, điều kiện kinh tế, đặc điểm tâm sinh lý, quá trình giao
lưu hội nhập
*Trước hết là những tác động ngoại tại: mang tính xã hội của truyền
thống dân tộc, của hệ thống kinh tế văn hóa, của đạo đức, môi trường, tâm sinh
lý, giới tính, nghề nghiệp của chủ thể trang phục (cá nhân, nhóm xã hội, cộng
đồng).
- Yếu tố truyền thống về trang phục nói riêng và văn hóa nói chung là yếu
tố quan trọng. Có thể nói, những yếu tố truyền thống có những tác động, chi
phối không nhỏ tới quan điểm phục trang và cách thể hiện trang phục trong đời
sống con người. Mốt thời trang là hiện tượng biểu hiện sự phá bỏ và