Nghiên cứu xây dựng hệ thống tuyển chọn vận động viên Canoeing tại TP.HCM - Pdf 25



1

PHẦN MỞ ĐẦU
Tuyển chọn khoa học, huấn luyện khoa học và quản lý khoa học đã trở thành 3
yếu tố lớn quyết định trình độ thể thao hiện đại. Đào tạo nhà vô địch thế giới hiện
đại phải có đủ 3 điều kiện: huấn luyện khoa học trình độ cao, điều kiện (môi trường)
huấn luyện tối ưu hóa và điều kiện thiên bẩm ưu việt của cá nhân VĐV.
BS.Vêborich (Tiệp Khắc cũ): “Tuyển chọn là sự tìm kiếm những yếu tố ưu việt của
điều kiện thiên bẩm, phù hợp với từng môn thể thao của mỗi người được tuyển chọn
để bồi dưỡng có mục đích từ khi tuổi còn nhỏ”
Tiến sĩ Haley (CHDC Đức cũ): “Tuyển chọn là sự xác định chính xác khả năng
của một VĐV thiếu niên có thể thành công hay không trong việc tham gia tập luyện
một môn thể thao trong lực lượng hậu bị, đồng thời tham gia tập luyện và thi đấu để
giành được thành tích cao ở các giai đoạn huấn luyện tiếp theo”
Giáo sư Neeolmo (CHLB Đức cũ): Tuyển chọn chỉ là sự xác định được các
nhân tố thiên tài đó bằng cách trực tiếp hay gián tiếp.
Theo PGS.TS Trịnh Hùng Thanh – PGS.TS Lê Nguyệt Nga (1993) : Tuyển
chọn thể thao là biện pháp nhiều giai đoạn dựa chính vào khả năng của VĐV về
hình thái – chức năng – tâm lý, kể cả kỹ chiến thuật phù hợp với chuyên môn thể
thao. Tuyển chọn thể thao là tổng hòa các vấn đề y sinh học, tâm lý, sư phạm. Thể
thao là hiện tượng xã hội nên tuyển chọn thể thao phải phù hợp với vấn đề xã hội.
Theo PGS-TS Lâm Quang Thành (2000) : “Tuyển chọn VĐV là một quá trình
khoa học liên tục, gắn liền với quá trình huấn luyện khoa học và quá trình quản lý
khoa học của tiến trình đào tạo bồi dưỡng VĐV thể thao. Tuyển chọn khoa học,
huấn luyện khoa học và quản lý khoa học là 3 mặt hữu cơ của chỉnh thể khoa học
hóa đào tạo người tài, trong đó hai mặt tuyển chọn và huấn luyện gắn chặt hữu cơ
với nhau”
Từ những năm 1890 môn Canoeing đã được hình thành và phát triển tại Bắc Mỹ và
Châu Âu. Hiệp hội Canoe Áo, Đan Mạch, Đức, Thụy Điển thành lập ra

nhất là nữ VĐV Đoàn Thị Cách đã có trong tay 1 HCV, 1HCB, 1 HCĐ
- Năm 2004, Đoàn Thị Cách được đặc cách tham gia vòng loại Olympic
Athens và lọt vào vòng bán kết ở nội dung 500m K1.
- Năm 2005 tại SEA Games 23 tổ chức ở Philippin Canoeing Việt Nam giành
được 1 HCV, 1HCB, 3HCĐ xếp hạng 3.
- Năm 2007 tại SEA Games 24 Canoeing Việt Nam giành được 3 HCV, 3
HCB, 1 HCĐ xếp hạng 3.
Tại TP.HCM môn Canoeing được bắt đầu tập luyện từ năm 2001. Số lượng
VĐV tham gia tập luyện ở thời điểm đông nhất là 31 người (26 nam, 5 nữ).
Thành tích tốt nhất VDV Canoeing đạt được:
- Tại giải vô địch trẻ năm 2009: với 4 HCV, 3 HCB xếp hạng 2 (14 đơn vị
tham gia)
- Tại giải vô địch quôc gia năm 2007: với 5 HCV, 4 HCB, 3 HCĐ xếp hạng 2
(13 đơn vị tham gia)
- Nhìn chung Canoeing Tp.Hồ Chí Minh thuộc đơn vị tương đối mạnh trong
toàn quốc. Tuy nhiên, thành tích năm 2008 và 2009 tại giải vô địch quốc gia bị giảm
sút nhiều. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu.
Qua 9 năm phát triển môn Canoeing tại TP.HCM, hàng năm các HLV đều tiến
hành tuyển chọn VĐV. Việc hồi cứu công tác tuyển chọn đã làm, kết hợp ứng dụng
các phương pháp tuyển chọn khoa học sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với công tác tuyển
chọn, huấn luyện sau này.
Để rút ngắn khoảng cách chuyên môn, xây dựng một lực lượng VĐV mạnh của
Thành phố đạt thành tích tốt trong các giải quốc gia và quốc tế cần rất nhiều giải
pháp đồng bộ. Trong đó công tác tuyển chọn khoa học là yếu tố quan trọng đầu tiên
góp phần hình thành một thế hệ mới VĐV Canoeing Thành phố. 3

CHƢƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN VỀ LIÊN ĐOÀN CANOE QUỐC TẾ - ICF
International Canoe Federation (ICF)
Với mục tiêu khuyến khích phát triển môn thể thao Canoeing và củng cố mối quan
hệ ràng buộc về tình bạn liên kết những người bạn cùng tham gia, Hiệp hội Canoe
Áo, Đan Mạch, Đức, Thụy Điển thành lập ra INTERNATIONALE
REPRASENTANTSCHAFT FUR KANUSPORT (IRK) tại Cophenhaghen ngày 20
tháng 1 năm 1924. 4

Đại hội tổ chức tại Stockhom từ ngày 7 đến 10 tháng 6 năm 1946 quyết định đặt tên
liên đoàn là THE INTERNATIONAL CANOE FEDERATION (ICF) – LIÊN
ĐOÀN CANOE QUỐC TẾ.
ICF là tổ chức thế giới phi lợi nhuận, phi chính phủ vì môn thể thao canoe đa nội
dung và không hạn chế về thời gian.
ICF được Ủy ban Olympic quốc tế (IOC), Tổng hiệp hội các liên đoàn thể thao
quốc tế (GAISF), Hiệp hội các liên đoàn quốc tế vận hội mùa hè (ASOIF) công
nhận là tổ chức duy nhất quản lý môn thể thao canoe quốc tế.
TRỤ SỞ : Trụ sở hiện tại của ICF ở Lausanne – Switzerland…
ICF Website http://.canoeicf.com/
BIỂU TRƯNG
Các liên đoàn thành viên:
Hiện nay ICF có tổng cộng 149 Liên đoàn quốc gia là thành viên và liên đoàn châu
lục (Châu Phi, Mỹ, Á, Âu, Châu Đại Dương)
Các môn thể thao thuộc ICF: hiện nay ICF có 9 môn thể thao
Đề tài nghiên cứu chỉ nằm trong nội dung thi đấu Canoe Sprint (Flat Water) – Đua
tốc độ.

 Sự phát triển phong trào đua thuyền thế giới (từ năm 1936)

STT
Tên nƣớc
Huy chƣơng
Vàng
Bạc
Đồng
Tổng số
1
Hungari
3
3
2
8
2
Đức
3
1
3
7
3
Balan
1
2

3
4
Cuba
1
-
1

1
10
Argentina
-
1
1
2
11
Tiệp Khắc
-
1

1
12
Tây Ban Nha
-
1
2
3
13
Rumani
-
-
1
1
14
Thụy Điển
-
-
1

thành điểm phát triển mới. Trên cơ sở khai thác triệt để chức năng sinh học cơ thể
người, tác dụng lý luận khoa hoc và kỹ thuật TDTT sẽ được phát triển và thể hiện
đầy đủ, ứng dụng nguyên vật liệu mới, công nghệ mới, khoa học kỹ thuât cao để
chế tạo ra các dụng cụ, thiết bị đua thuyền sẽ tạo nên sự đổi mới nhanh chóng
không ngừng về trang thiết bị, dụng cụ đua thuyền, xúc tiến nâng cao tương đối
nhanh trình độ thể thao. Khoa học giáo dục, quản lý và cơ chế kích thích (vật chất
và tinh thần) sẽ phát huy năng lượng tâm lý cực đại của con người, thúc đẩy trình
độ tập luyện của VĐV không ngừng tiến bộ. Vận dụng cải tiến thiết bị và phương
pháp chẩn đoán, đánh giá trong lĩnh vực khoa học, y học TDTT sẽ nâng cao được
khả năng khống chế lượng vận động. Đồng thời với việc khai thác tối đa tiềm năng
cơ thể VĐV, lại có thể đề phòng chấn thương thể thao.
1.1.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN MÔN CANOEING TẠI VIỆT NAM
Để chuẩn bị cho SEA Games 22 năm 2003 tổ chức tại Việt Nam, từ năm 1997
Lãnh đạo ngành thể thao Việt Nam đã quyết định đưa môn đua thuyền Canoeing
vào chương trình thi đấu tại SEA Games 22. Được sự giúp đỡ của ICF, ACC, và
SEACAF, Canoeing đã nhanh chóng phát triển tại Việt Nam, khởi đầu từ sở TDTT
Hà Nội nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội.
- Ngày 28 tháng 7 năm 2003 Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban thể dục thể thao
ký quyết định số: 1178/2003/QĐ- UBTDTT quy định về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của vụ thể thao thành tích cao I, trong đó có bộ môn
đua thuyền ở Trung Ương.
- Ngày 12 tháng 8 năm 2006 Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban thể dục thể thao
ký quyết định số: 1043/ QĐ- UBTDTT về việc cử cán bộ phụ trách Bộ môn đua
thuyền. 7

- Ngày 28 tháng 6 năm 2006 Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban thể dục thể thao
ký quyết định số: 1132/ QĐ- UBTDTT về việc ban hành tiêu chuẩn phong đẳng cấp

được 1 HCV, 1HCB, 3HCĐ xếp hạng 3.
- Tháng 12 năm 2005 VĐV Trần Văn Long đạt HCB tại Giải vô địch trẻ Châu
Á.
- Năm 2007 tại SEA Games 24 Canoeing Việt Nam giành được 3 HCV, 3
HCB, 1 HCĐ xếp hạng 3. 8

- Cho tới năm 2009, Hà Nội vẫn là đơn vị dẫn đầu toàn quốc môn Canoeing về số
lượng VĐV cũng như số huy chương giành được trong các giải vô địch trẻ và vô
địch quốc gia.
1.1.3 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
Môn Canoeing được VĐV bắt đầu tập luyện từ năm 2001
Số lượng VĐV tham gia tập luyện ở thời điểm đông nhất là 31 người (26 nam, 5
nữ)
Về thành tích thi đấu của VĐV Canoeing TP.HCM chúng ta có thể tóm tắt như sau:
 Giải vô địch trẻ:
- Năm 2005: với 2 HCV, 5 HCB, 2 HCĐ xếp hạng 4 (12 đơn vị tham gia)
- Năm 2006: với 6 HCB, 8 HCĐ xếp hạng 4 (10 đơn vị tham gia)
- Năm 2007: với 6 HCV, 2 HCB, 5 HCĐ xếp hạng 2 (13 đơn vị tham gia)
- Năm 2008: với 1 HCB, 1 HCĐ xếp hạng 11 (14 đơn vị tham gia)
- Năm 2009: với 4 HCV, 3 HCB xếp hạng 2 (14 đơn vị tham gia)
 Giải vô địch quốc gia:
- Năm 2005: với 3 HCV, 5 HCB, 2 HCĐ xếp hạng 2 (13 đơn vị tham gia)
- Năm 2006: với 1 HCV, 7 HCB, 3 HCĐ xếp hạng 6 (14 đơn vị tham gia)
- Năm 2007: với 5 HCV, 4 HCB, 3 HCĐ xếp hạng 2 (13 đơn vị tham gia)
- Năm 2008: với 1 HCV, 3 HCB,7 HCĐ xếp hạng 7 (13 đơn vị tham gia)
- Năm 2009: với 1 HCV, 4 HCB, 8 HCĐ xếp hạng 6 (15 đơn vị tham gia)
Nhìn chung Canoeing Tp.Hồ Chí Minh thuộc đơn vị tương đối mạnh trong toàn

Cạnh tranh trong thể thao thành tích cao là cạnh tranh về nhân tài.
Một khái niệm về tài năng được nhiều nhà khoa học thừa nhận : tài năng là
một tổ hợp các điều kiện thuận lợi bên trong và bên ngoài để tạo ra khả năng đạt
thành tích vượt trội trong lĩnh vực hoạt động nhất định, dù những thành tích đó có
thể vẫn ở mức độ đã đạt được của xã hội tại thời điểm đó.
Ở góc độ tâm lý học thể thao, quan niệm về tài năng thể thao như sau :
Tài năng thể thao là sự phối hợp ổn định, sáng tạo và hiệu quả các năng lực
của cá nhân với các điều kiện thuận lợi bên ngoài trong hoạt động thể thao để tạo ra
thành tích vượt trội, được xã hội thừa nhận và tôn vinh.
Tài năng nhìn từ chế độ đào tạo (Theo tài liệu đăng trên tạp chí TDTT) :
Theo tài liệu đã được công bố của nhà tài năng học Mỹ Renzulli (1985) đã
cho thấy các bằng chứng nổi tiếng nhất và cổ nhất cho đến nay có được đã khẳng
định rằng, việc lựa chọn tài năng phục vụ cho Nhà nước đã diễn ra ở Trung Hoa vào
khoảng 2.200 năm trước công nguyên. Theo nhà tài năng học người Đức,
K.K.Urban, sự hỗ trợ phát triển tài năng một cách có hệ thống đã diễn ra cách đây
khoảng 2500 năm.
Lần đầu tiên nhà triết học Trung Hoa là Khổng Phu Tử (551 – 479 trước
công nguyên) đề xuất với “sự phát triển có hệ thống những thanh thiếu niên có năng
khiếu đặc biệt”. Dưới thời Vua Hán Vũ Đế (140 – 87 trước CN), kế hoạch do
Khổng Tử đưa ra đã được thực hiện, theo đó những thanh thiếu niên có năng khiếu
trên trung bình được tuyển lựa vào đào tạo tại triều đình. Ở đây, tất cả các hình thức
tưởng tượng sáng tạo – đặc biệt là sáng tác thơ văn, được đánh giá cao. Họ được
nhà nước ưu đãi, tôn vinh và được coi như là những người bảo đảm cho sự giàu
mạnh, trường tồn của đất nước.
Việc tích cực tìm kiếm những người có tiềm lực để đào tạo thành tài năng
nhằm phục vụ cho sự phát triển của quốc gia đang là quốc sách của các nước phát
triển cũng như các nước đang phát triển.
Từ những năm 1958 ở Mỹ đã có đạo luật về tuyển chọn và đào tạo học sinh
tài năng bậc phổ thông. Năm 1960, Mỹ từ bỏ việc giáo dục động loạt mà chủ trương
phá triển tối đa tài năng của từng cá nhân ở mọi lĩnh vực và học đặc biệt quan tâm

khả năng thể thao tốt hơn cả. Hiệu quả hoạt động ở những người này thậm chí có
thể đạt đến mức tuyệt đối.
Tại Viện nghiên cứu thể thao Australia, người ta đã lấy khoảng 400 mẫu
gene của các VĐV thể thao có thành tích ở mức trung bình để tiến hành các cuộc so
sánh. Kết quả là ở những người này, đa số đều chỉ có ACTN2 và bị thiếu hai phiên
bản gene ACTN3. Do đó, dù có nỗ lực và kiên trì tập luyện đến đâu, học cũng
không thể trở thành những “tài năng” thể thao đỉnh cao. Trái lại, ở những VĐV
được coi là “tài năng” hơn cả, họ có đầy đủ chức năng của phiên bản gene ACTN3.
Như vậy, theo các nhà khoa học thì không nghi ngờ gì về việc chính gene ACTN 3
là nhân tốt tạo nên “tài năng” của các VĐV thể thao, đặc biệt là các VĐV điền kinh.
Các yếu tố liên quan đến hoạt động thể chất ở con người:
Trong quá trình đi tìm lời giải về mối quan hệ giữa gene và tài năng của con
người, các nhà khoa học Anh và nhiều quốc gia khác đã tìm ra một số gene và yếu
tốt đặc biệt có liên quan đến khả năng hoạt động thể chất ở con người như sau : 11

Gene ACTN3 còn được coi là loại gene tốc độ, có tác dụng thúc đẩy hoạt
động của các cơ một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Bradykinin beta 2 receptor (BDKBR2) là loại gene tăng cường sự dẻo dai và
sức bền của cơ thể - loại gene cực kỳ hữu ích đối với các VĐV chạy xa (dài).
IGF – 1 là loại hormone có vai trò thúc đẩy quá trình phát triển của tế bào.
Những VĐV mà cơ thể có nồng động IGF – 1 ở mức cao, thường có sự phát triển
chiều cao rất nhanh chóng.
PEPCK – C : Thí nghiệm trên chuột đã cho thấy : khi nồng độ enzym có tên
gọi là phosphoenolypyruvate Carbonxykinases ( PEPCK – C) trong cơ thể cao, nó
thúc đẩy các cơ và hệ xương hoạt động rất tích cực. Loại enzym này giúp cơ thể sản
sinh ra ít acid lacic (vốn là nguyên nhân gây đau nhức cơ khi vận động), đồng thời
giúp đốt cháy nhiều chất béo trong cơ thể. Điều này đã giúp cho những con chuột

Daniel Coyle đã đi nhiều nơi trên thế giới để nghiên cứu và giải mã tài năng.
Ông cũng đã đến thăm các phòng thí nghiệm thần kinh học hiện đại – nơi đang
nghiên cứu về myelin – và trao đổi với các nhà khoa học.
Quá trình giải mã tài năng của Coyle, đặc biệt là những câu chuyện ông thu
thập được từ cuộc hành trình đến những cái nôi tài năng của thế giới : từ đội bóng
chày ở một hòn đảo nhỏ bé trên vùng biển Caribe cho dến một học viện âm nhạc bị
lãng quên ở vùng núi Adirondacks của tiểu bang New York, từ các nghiên cứu
trường hợp về những cầu thủ bóng đá giỏi nhất thế giới, những tên cướp nhà băng
khét tiếng, cho đến những nhạc công vĩ cầm, phi công chiến đấu, ca sĩ, VĐV trượt
ván…
Dựa trên những kết quả nghiên cứu thần kinh học hiện đại và nghiên cứu
trực tiếp ở những cái nôi tài năng đó, Coyle đã xác định được ba yếu tố cho phép
phát triển tài năng và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của con người trong thể thao,
nghệ thuật, âm nhạc, toán học, hoặc bất cứ lĩnh vực nào. Đó là :
1) Tập luyện chuyên sâu : Mọi người đều biết rằng thực tế là chìa khóa để
thành công. Nhưng cái mà mọi người chưa biết là có một dạng tập luyện cho phép
tăng tốc độ đạt được kỹ năng lên gấp mười lần so với tập luyện thông thường.
2) Đánh lửa : Chúng ta cần một chút động lực để bắt đầu. Nhưng cái gì thật
sự phân biệt thành công với thất bại? Có một thứ cao hơn sự cam kết – đó là niềm
đam mê, được một “tín hiệu điều khiển căn bản” kích hoạt – sẽ sản sinh ra ham
muốn sâu thẳm trong tâm thức của chúng ta. Vấn đề là cần biết cách làm thế nào để
tạo ra những tín hiệu kích hoạt, thắp lên niềm đam mê, khiến nó trở thành chất xúc
tác mạnh mẽ để phát triển kỹ năng.
3) Cách huấn luyện bậc thầy : Khám phá những bí quyết của các giáo viên,
giảng viên, huấn luyện viên hiệu quả nhất trên thế giới; khám phá bốn đức tính cho
phép họ - “những người nói thầm đầy tài năng” – đốt cháy lên niềm đam mê, truyền
cảm hứng cho tập luyện sâu và mang lại kết quả tốt nhất cho học trò của mình.
Ba yếu tố nói trên sẽ cùng nhau làm việc với bộ não của bạn đề hình thành
myelin – một vi chất thần kinh, chất dẫn truyền xung điện cho các tế bào não và
lượng meyelin trong não nói lên tốc độ và độ chính xác của các hành động và suy

“Phương pháp tuyển chọn tài năng thể thao” của Học viện thể dục thể thao Vũ Hán
(2003) đã đề cập toàn diện các nội dung: cơ sở lý luận, nội dung, phương pháp, tổ
chức quá trình tuyển chọn VĐV nhiều môn thể thao.
Trong những năm 80 – 90 của thế kỷ trước trên Bản tin khoa học TDTT, Thông tin
khoa học TDTT đã đăng tải nhiều bài báo về tuyển chọn VĐV như.
- Nguyễn Mậu Loan (1982): “Vấn đề phát hiện năng khiếu và bồi dưỡng nhân
tài thể thao”. Năm 1983: “Vấn đề định hướng và tuyển chọn nhân tài thể thao.
- Phạm Sĩ Minh (1982): “Hệ thống tuyển chọn vào trường năng khiếu thể thao”
- Nguyễn Toán (1984): “ Mô hình tuyển chọn VĐV một số môn bóng”
- Bùi Thế Hiển (1987): “ Những công trình nghiên cứu về đề tài tuyển chọn
VĐV trẻ”
- Phạm Ngọc Viễn (1992): “ Một số vấn đề về tuyển chọn năng khiếu bóng đá”
- Phan Hồng Minh và CS (1996): “ Về tuyển chọn VĐV thể thao” ; “ Nội dung
và tiêu chuẩn tuyển chọn môn bóng chuyền” (1999)
Các sách có liên quan tới tuyển chọn thể thao như:
- Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga(1993): “ Cơ sở sinh học và sự phát triển
tài năng thể thao”; “Hình thái học và tuyển chọn thể thao” (1996)
- Nguyễn Thế Truyền và CS (2002): “ Tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện
trong tuyển chọn và huấn luyện thể thao”.
Ngoài ra còn có tài liệu của Viện khoa học TDTT: Nguyễn Ngọc Cừ và CS
(1998): “ Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao (2 tập)”
Chúng ta có thể tham khảo một số công trình nghiên cứu sau đây: 14

1. Th.S. Hồ Việt (1999): “Nghiên cứu hiện trạng tuyển chọn VĐV bơi lội
TP. Hồ Chí Minh” luận văn thạc sĩ.
2. TS. Huỳnh Trọng Khải (2008): “Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vận
động viên nam 13 – 15 tuổi môn xe đạp đường trường tại TP. Hồ Chí Minh” đề tài

thể hiện ở năng lực thi đấu.
15

1.2.1 ĐẶC TRƢNG MANG TÍNH BẢN CHẤT – ĐUA TỐC ĐỘ :
Từ góc độ học thuyết thi đấu môn đua thuyền, VĐV thi đua tốc độ, tốc độ
trung bình toàn cự ly = tần số chèo trung bình x cự ly 1 lần chèo (bước chèo) trung
bình. Đặc trưng biểu hiện học thuyết thi đấu của VĐV đua thuyền căn cứ vào đặc
điểm tự thân, với kỹ thuật hoàn hảo, tần số chèo và cự ly một lần chèo (bước chèo)
đạt tới mức độ phù hợp nhất. Mức độ đó ta gọi là “hệ số biện chứng”.
Nguyên nhân gọi “Hệ số biện chứng” là khi tốc độ trung bình của VĐV
không đổi, tần số chèo và bước chèo có quan hệ ngược. Nhân tố quyết định tần số
chèo chủ yếu là loại hình thần kinh và loại hình sợi cơ. Nhân tố quyết định bước
chèo là trình độ sức mạnh chuyên môn tối đa và sức mạnh bền chuyên môn. Tiềm
lực của tần số chèo chịu ảnh hưởng tương đối lớn nhân tố di truyền, sự thay đổi hậu
thiên (ảnh hưởng huấn luyện) của tần số chèo tương đối nhỏ, ngược lại bước chèo
tương đối lớn. Do đó, muốn nâng cao bước chèo phải qua huấn luyện nâng cao trình
độ sức mạnh chuyên môn và sức mạnh bền chuyên môn. Trong thực tiễn huấn
luyện, HLV thường dùng phương pháp chèo thuyền cự ly dài ưa khí, chèo thuyền
có lực cản, biến tốc, bài tập sức mạnh trên cạn. Cần chú ý chất lượng huấn luyện
bước chèo giải quyết mối quan hệ giữa huấn luyện sức mạnh tuyệt đối, sức mạnh
chuyên môn tối đa và sức mạnh bền. Chủ yếu là quan hệ giữa sức mạnh kéo chèo và
sức mạnh tuyệt đối, sức mạnh chuyên môn tối đa.
1.2.2 ĐẶC TRƢNG THỂ HIỆN NĂNG LỰC THỂ THAO :
Mấu chốt của tuyển chọn khoa học VĐV là xây dựng được hệ thống chỉ tiêu

Hình thái
Tạo điều kiện lực học
1. Phù hợp yêu cầu môn hình hình
thái
Chức năng
Tạo cơ sở cung cấp năng
lượng
1. Chức năng hệ tim mạch
2. Trao đổi chất, cung cấp năng
lượng hệ cơ xương
Tố chất
Tạo nguồn cung cấp động
lực
1. Sức mạnh chuyên môn tối đa
quyết định tốc độ tuyệt đối.
2. Sức mạnh bền chuyên môn quyết
định tốc độ đều (trung bình)
Kỹ thuật
Thể hiện thể năng chuyên
môn bằng yêu cầu chuyên
môn
1. Tính kinh tế
2. Tính hiệu quả thực tế
Chiền thuật
Quy định tốc độ hợp lý
từng đoạn và toàn cự ly
Tổ hợp tối ưu tần số chèo và bước
chèo.
Tâm lý
Khắc phục khó khăn trong

thuyền có đặc trưng môn TT chuyên sâu rất rõ rệt (bảng 1.3)
Bảng 1.3 : kết quả kiểm tra tỷ lệ thành phần cơ thể nam VĐV đua
thuyền (Nadori Laszho 1988)
STT
Môn thể thao
Xƣơng %
Cơ %
Mỡ %
± S
± S
± S
1
Đua thuyền
17.09 ± 0.73
48.85 ± 0.92
8.29 ± 1.31
2
Xe đạp
17.43 ± 0.89
47.93 ± 1.01
9.61 ± 1.06
3
Judo
17.34 ± 0.78
47.13 ± 1.25
10.15 ± 2.03
4
Năm môn TT hiện đại
16.97 ± 1.39
48.07 ± 1.40
X
X
X18

Chúng ta cùng tham khảo bảng thống kê dưới đây:
Bảng 1.4 : Bảng thống kê lứa tuổi, chiều cao, cân nặng VĐV
đua thuyền tham gia Olympic từ năm 1992 tới 2000.
olympic
Kayak nam
Canoe nam
Canoe nữ
Tuổi
Chiều
cao
(cm)
Cân
nặng
(kg)
Tuổi
Chiều
cao
(cm)
Cân
nặng
(kg)

86.4
27
180.7
81.9
25.9
172.6
66.3
(Nguồn: tài liệu nội bộ Liên đoàn đua thuyền thế giới 2001)

Các chỉ tiêu chính hình thái VĐV đua thuyền bao gồm: dài sải tay, dài tay tư
thế ngồi, dài tay tư thế quỳ, dài cẳng tay, rộng vai, vòng cánh tay co, vòng ngực,
vòng đùi, tỷ lệ lớp mỡ…
Các chỉ tiêu như dài sải tay, dài tay tư thế quỳ, dài tay tư thế ngồi…ở mức độ
nhất định có thể phản ánh được khả năng phát huy kỹ thuật động tác, còn trong
tuyển chọn nó có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế và đánh giá kỹ thuật tối ưu
– như biên độ động tác kỹ thuật, kết cấu động tác – Tác dụng giới hạn về mặt vật lý
do các điều kiện tiên thiên (bẩm sinh) quyết định. Ngay khi tuyển chọn đã chú ý tới
điều kiện tốt nhất về các chỉ tiêu hình thái học sẽ tạo tiềm lực lớn hơn cho sự phát
triển của VĐV đua thuyền sau này.
Năm 2001 khi tuyển chọn VĐV đua thuyền của Trung Quốc, tỷ lệ phần trăm
mỡ của VĐV nữ Kayak, nam Kayak và canoe là 15.26%, 11.72% và 11.15%. Kết
qủa nghiên cứu đối với VĐV một số nước khác cho thấy độ dày lớp mở dưới da
của VĐV đều thấp hơn VĐV các môn ưa khí, yếm khí, hỗn hợp ưa yếm khí, chỉ
khoảng 6%-10%. Rất rõ ràng, nếu so với VĐV các nước khác, tỷ lệ lớp mỡ dưới da
của VĐV Trung Quốc là cao. Từ đó cho thấy VĐV đua thuyền của Trung Quốc còn
thiếu chuyên môn cơ bản một cách khắc khổ, hệ thống cơ xương chưa được tối ưu
hóa, cản trở việc tiếp tục nâng cao năng lực thể thao, khó có thể trở thành VĐV cấp
thế giới. Nhưng đây cũng là khoảng trống cho VĐV tiếp tục tập luyện trong thời gian
tới.

20

Bảng 1.5 : Nhu cầu oxy và trao đổi chất ƣa khí trong thi
đấu đua thuyền ở các cự ly khác nhau.
STT
Cự ly
(m)
Tiêu hao
oxy (lít)
Ƣa khí
(%)
Yếm khí
(%)
1
200
25
20
80
2
500
35
50
50
3
1000
50
65
35

trình độ khả năng ưa khí cũng như một số chỉ tiêu liên quan. 21

Bảng 1.6: Đặc điểm sinh lý của VĐV Canoe nam ƣu tú
(giá trị trung bình và độ lệch chuẩn) * Ghi chú: 1. Máy chuyên dùng 1: “Máy đo công Phong động”
2. Máy chuyên dùng 2: “Máy đo công tay chân”
3. Máy chuyên dùng 3: “Máy đo công đua thuyền có thể điều chỉnh”
4. Máy chuyên dùng 4: “Máy đo công đua thuyền kayak”
5. Máy chuyên dùng 5: “Xe công suất thủ động tiêu chuẩn”
6. Máy chuyên dùng 6: “Máy đo công đua thuyền canoe”
STT
Nguồn tài liệu
Khách thể nghiên cứu
Phƣơng pháp kiểm
tra
Vo
2
max
ml/kg
Chiều cao
(cm)
Cân nặng
(kg)
1
Hahn, etal.1988

63,2±6,9
180,5±5,6
78,2±7,6
4
Fry and Mortom 1991
7 VĐV ưu tú các nước
Mornak cải tiến
59,22±7,11
179,9±5,04
81,1±10,3
5
Misigoj- Dủakovic and
Heimer 1992
18 VĐV Nam tư
Xe đạp công suất
60,0±7,2
178,6±4,91
75,1±6,4
11 VĐV Nam tư
Xe đạp công suất
61,6±4,4
180,1±7,7
80,2±9,0
6
Pelham and Hott,1995
7 VĐV Canada
Máy chuyên dùng 6
4,3±0,9 lít/phút
174,6±2,1
69,9±3,6
Máy chuyên dùng 2
52,8±1,5 Pendergast,et.al.1989
7 VĐV đội tuyển quốc gia Mỹ
xe đạp công suất
54,2±7,2
169,0±5,0
64,0±4,0
Máy chuyên dùng 8
43,3±10,0
Pelharn and Holt, 1995
6 VĐV cấp tỉnh Canada
Máy chuyên dùng 8
2,92±0,32 lít/phút * Ghi chú: 1 + 2 :như trên
7: máy đo công tiêu chuẩn khống chế bằng tay
8: Máy đo công đua thuyền Kayak
23 Khi xem lại kế hoạch HL của đội tuyển đua thuyền Trung Quốc chuẩn bị cho

thuyền ở cự ly dài. Điều này chứng minh họ nhận thức lại (đúng) đặc điểm cung cấp
năng lượng môn đua thuyền. Dẫn tới HLV chúng ta cần tăng cường nhận thức tác
dụng quan trọng của cung cấp năng lượng ưa khí đối với môn đua thuyền, xây dựng
được chỉ đạo huấn luyện lấy phát triển khả năng ưa khí làm hạt nhân, tìm tòi
phương pháp và phương tiện huấn luyện có hiệu quả nâng cao năng lực ưa khí của
VĐV. Công tác quan trọng nhất của đội tuyển quốc gia môn đua thuyền thành lập
năm 2001 là xác lập được tư tưởng chỉ đạo huấn luyện lấy sức bền ưa khí làm hạt 24

nhân. Năm 2002 vẫn kiên trì tư tưởng chỉ đạo trên, kết quả là môn đua thuyền
Trung Quốc ra khỏi vị trí thấp kém, đạt được 12 HCV cúp thế giới thi theo trạm, 1
HCB giải vô địch thế giới, và 8 HCV Asiad.

2) Đặc điểm hệ tim mạch :
1/ Công năng tim là chỉ số nhằm đánh giá sự đáp ứng của hệ tim mạch đối
với lượng vận động nhất định, còn gọi là chỉ số Ruffier – Phép thử hệ tim mạch. Tại
hội nghị Lux-xăm-bua 1956 người ta đã trình bày phương pháp thử hệ tim mạch để
đánh giá khả năng điều chỉnh tuần hoàn. So sánh với phép thử của Schellong và
Martinet người ta thấy cách thử này thuận tiện hơn vì chỉ cần đếm 3 lần mạch và
biến đổi nhờ công thử rồi tính thành chỉ số và đánh giá theo bảng chỉ số Ruffier.
Không cần đo huyết áp. Chỉ số này giống như thử nghiệm Martinet nhưng vận động
cường độ hơn, lượng vận động ít nhưng thuận tiện để kiểm tra và vẫn đủ cho hệ
thần kinh điều chỉnh được sự thích ứng của hệ tim mạch. Trong và ngay sau khi
thực hiện một lượng vận động đứng lên ngồi xuống 30 lần trong 30 giây, VĐV nào
có trình độ tập luyện tốt hơn thì nhịp tim tăng chậm hơn và khả năng phục hồi
nhanh hơn. Nghĩa là sau 1 đến 2 phút nhịp tim nhanh chóng trở lại sát với với nhịp
tim lúc nghỉ.
Đây là một phương pháp kiểm tra y học rất có giá trị cho ta lượng thông tin

- Biên độ di động thành sau thất trái: 9-14mm.
+ Mặt cắt qua động mạch chủ đo các thông số: đường kính động mạch chủ 20-
37mm; biên độ mở van ở đầu kỳ tâm thu 16-25mm; đường kính nhĩ trái cuối tâm
thu 18-40mm.
* Siêu âm hai bình diện (2D): chùm tia siêu âm truyền theo đầu dò quét cấu
trúc tim ở góc chọn (30-90
o
) nó cho hình ảnh hai chiều theo góc quạt; giúp khảo sát:
hình thái và vận động của các van tim; đường kính các buồng tim, động mạch lớn;
độ dày cấu trúc echo cũng như vận động thành tim; diện tích lỗ van hai lá; thể tích
buồng thất (tính theo công thức toán học) và màng tim.
* Siêu âm Doppler tim: cho phép thực hiện thăm dò huyết động không chảy
máu, thu được thông tin: Kiểu của dòng chảy: tầng gặp trong tim bình thường, rối
gặp ở tim bệnh lý (hẹp, hở van tim); Hướng của dòng chảy: dương khi hướng tới
đầu dò còn âm nếu rời xa đầu dò; Thời gian của dòng chảy: nhờ cặp ghép với ECG;
Vận tốc tối đa của dòng chảy: qua đó tính được độ chênh áp và áp lực trong buồng
tim.
Tóm lại siêu âm tim giúp đánh giá:
o Bệnh lý van tim
o Bệnh cơ tim
o Bệnh mạch vành
o Bệnh màng ngoài tim
o Các khối u trong tim
o Đánh giá chức năng thất và huyết động bằng siêu âm Doppler.
o Bệnh tim bẩm sinh
3/ Điện tâm đồ :
Khái niệm
Điện tâm đồ (Eletrocardiography) là một đường cong ghi lại các biến thiên
của các điện lực do tim phát ra trong quá trình hoạt động co bóp của tim. Năm
1903, Einthoven lần đầu tiên ghi được sóng điện tim đồ bằng một điện kế có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status