3
ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu) CHỦ
(Ký tên)
1.2 Tổng quan trong nước 17
1.3 Ý nghĩa và tính mới về khoa học và thực tiễn 17
2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP trang 18
18
2.1.1 Yếu tố nghiên cứu 18
2.1.2 Yếu tố kết cục 18
18
19
2. 2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.2.2 Dân số nghiên cứu 20
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 20
2.2.4 Cỡ mẫu 21
22
2.2.6 Tiêu chuẩn thu nhận 22
2.2.7 Tiêu chuẩn loại trừ 22
2.2.8 Phương pháp tiến hành 22
2.3 Công cụ chẩn đoán 23
2.3.1 CTS 23
5
2.3.2 EPDS 23
2.4 Thống kê sử dụng 25
2.5 25
3. KẾT QUẢ trang 26
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Tỉ lệ trầm cảm ở thai phụ trong nhóm có và không bị BHGĐ 26
3.3 Tỉ lệ BHGĐ trong thời kỳ mang thai và 4-6 tuần sau sinh 31
2. Biểu đồ tần suất BHGĐ theo CTS2 trước sinh 66
3. Những yếu tố tương quan đơn/đa biến với BHGĐ trước sinh 67
4. Những yếu tố tương quan đơn/đa biến với Trầm cảm trước sinh 68
5. Phân bổ của BHGĐ và Trầm cảm 69
– trang 70
PHỤ LỤC 4 – TÀI LIỆU THAM KHẢO trang 73
7
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
(theo trình tự xuất hiện)
YTTG Y Tế Thế Giới
AAS (Abuse Assessment Screen) Thang điểm sàng lọc đánh giá lạm dụng
CTS (Conflicts Tactics Scales) Thang điểm phương thức đối kháng
CTS2 Thang điểm phương thức đối kháng hiệu chỉnh 2
AOR (Adjusted odds ratio) Tỉ suất chênh hiệu chỉnh
OR (Odds ratio) Tỉ suất chênh
EPDS Thang điểm trầm cảm sau sinh Edinburgh
SDSS (Stein’s daily scoring system) Thang đo hàng ngày của Stein
TPHCM Thành Phố Hồ Chí Minh
Td Thí dụ
APGAR (Appearance, Pulse, Grimace, Activity, Respiration) chỉ số APGAR
BVHV Bệnh viện Hùng Vương
KTC Khoảng tin cậy
BHGĐ Bạo hành gia đình
BH Bạo hành
CDC (Center for Disease Control) Trung tâm kiểm soát bệnh tật
Bảng 15a. trang 38
Bảng 15b. sau sinh trang 38
Bảng 16. trang 39
Bảng 17. trang 39
Bảng 18. Các yếu tố liên quan với BHGĐ trong thời kỳ hậu sản trang 40
Bảng 19. Các yếu tố có tương quan (đa biến) với BHGĐ sau sinh trang 40
Bảng 20. cảm sau sinh trang 41
Bảng 21. Các yếu tố tương quan đa biến với trầm cảm sau sinh trang 42
Bảng PL3a. trang 68
Bảng PL3b. trang 68
Bảng PL3c. Các hình thái BHGĐ theo đặc điểm của đối tượng trang 68
Bảng PL3d. Các yếu tố tương quan đa biến các hình thái BHGĐ trước sinh trang 70 10
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạo hành trong gia đình ngày càng trở nên vấn đề nóng bỏng tại Việt Nam. Đã có nhiều
hội thảo, hội nghị được tổ chức nhằm đánh động sự chú ý của cộng đồng. Vào tháng 11
năm 2005, tại hội thảo với khoảng 100 người tham dự do Tổ chức Action Aid về đề tài
“Bạo hành gia đình: kinh nghiệm và giải pháp”, bạo hành gia đình được xem là một vấn
đề tồn tại từ lâu do chế độ phụ hệ và phân biệt giới tính tại Việt Nam.
1
Trước đây bạo
hành chỉ xảy ra cho những phụ nữ sống phụ thuộc vào chồng nhưng khi chuyển qua thời
kỳ kinh tế thị trường, phụ nữ càng kiếm được nhiều tiền, bạo hành càng có thể xảy ra.
Vào tháng 12 năm 2007, trong một hội thảo về Bạo hành gia đình, phó chủ tịch Hội Liên
Hiệp Phụ Nữ Việt Nam báo cáo 23% những gia đình được khảo sát trong 8 tỉnh cho biết
có bạo hành về thể xác, 25% bạo hành về tâm lý và 30% bạo hành về tình dục.
7
Trầm cảm trong thời kỳ mang thai không chỉ làm hại phụ nữ
mà còn ảnh hưởng vì không tự chăm sóc tốt bản thân, ăn uống và ng ; họ có thể uống
nhiều rượu và sử dụng thuốc gây nghiện mà còn làm họ ngại ngùng tìm đến hay tuân thủ
lịch chăm sóc tiền sản. Do có sự rối loạn của trục đồi thị m cảm đưa đến
mức độ cortisol trong máu cao và thay đổi ß-endorphins, thai nhi của những phụ nữ bị
trầm cảm thường bị sanh non, và nhẹ cân.
8
Ban Điều tra bí mật về tử vong mẹ ở Anh
(British Confidential Enquiry into Maternal Deaths) mô tả tự tử là một nguyên nhân hàng
đầu của tử vong mẹ trong những năm sau sinh;
9
.
10
.
11
Dù có ít nghiên cứu về sức khỏe tâm trí ở phụ nữ mang thai bao gồm trầm cảm sau sinh
tại Việt Nam, nhưng một trong những nghiên cứu này
12
cũng cho thấy có một mối tương
quan rất mạnh giữa trầm cảm sau sinh và điều kiện kinh tế xã hội của gia đình (td nghề
nghiệp ổn định của cha mẹ), sức khỏe của thai nhi, thai kỳ có được mong đợi không và
không thể tâm sự cùng người phối ngẫu.
12 Mục tiêu tổng quát: Qua nghiên cứu n y, chúng tôi muốn tìm hiểu tầm vóc của vấn đề
bạo hành do những người phối ngẫu và những người thân trong gia đình của phụ nữ
mang thai và tác động của nó lên sức khỏe tâm trí sau sanh như ảnh hưởng trên sức
14
Với Thang
Điểm Phương Thức Đối Kháng Hiệu Chỉnh (revised conflict tactics scales–CTS2) đo
lường sự lạm dụng thể xác trong thời kỳ mang thai, Reichenheim ghi nhận tỉ lệ 18,4% và
7,6% bạo hành thể xác nhẹ và nặng xâm phạm đến phụ nữ mang thai.
15
Theo các nghiên cứu ở Mỹ, trong số những sản phụ đến khám thai có từ 11 đến 41% có
tiền sử một lần bị bạo hành trong gia đình và 4–17% ghi nhận có bạo hành trong thai kỳ
lần này.
16,17,18,19
Bacchus và cộng sự khi thực hiện nghiên cứu trong một cộng đồng nói tiếng Anh tại một
bệnh viện giảng dạy nội ô Luân Đôn cho thấy 23,5% phụ nữ ghi nhận có một lần bị bạo
hành trong gia đình, trong số đó 3% bị hành xử này trong thai kỳ đang mang.
20
Tại Úc, Webster và cộng sự trong năm 1996 đã tìm thấy tỉ lệ 29,7% đã hoặc đang bị bạo
hành những phụ nữ mang thai đến bệnh viện Hoàng Gia Brisbane.
21
Tại Trung Quốc, Leung và cộng sự năm 1999 khi tìm hiểu về những vấn đề của xã hội
tác động lên sức khỏe sinh sản ở phụ nữ Trung quốc cho thấy 17,9% phụ nữ đã từng bị
bạo hành bởi những người thân trong gia đình (113/631 phụ nữ được phỏng vấn), chồng
là hung thủ trong đa số các trường hợp (86,9%).
22
Phụ nữ có nhiều nguy cơ bị bạo hành hơn trong thời kỳ hậu sản. Một nghiên cứu tại
Thuỵ Điển cho thấy 24% phụ nữ bị đe dọa bạo hành hay lạm dụng thể xác, tình dục trong
14
Bạo hành ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống được Leung nghiên cứu trên các nhóm
1614 bệnh nhân sản phụ khoa tại Hồng Kông cho thấy tỉ lệ chung 7,2% phụ nữ được
phỏng vấn báo cáo đã từng bị bạo hành; có đến 12,7% ở nhóm đến phá thai; trong khi chỉ
có 1,8% ở nhóm đến khám hiếm muộn; 4,7% bệnh nhân phụ khoa và 10,9% nhóm sản
khoa. So với nhóm không hề bị bạo hành, chỉ số chất lượng cuộc sống trung bình của
nhóm có bị bạo hành thấp hơn có ý nghĩa cả về sức khỏe thể xác, tinh thần, lẫn môi
trường sống và các mối quan hệ xã hội.
30
Ảnh hƣởng của bạo hành trên sức khỏe sinh sản, Webster và cộng sự ghi nhận ở Úc,
301/1014 (29,7%) phụ nữ được sàng lọc trả lời đã từng hoặc đang bị bạo hành gia đình
trong đó có 59 người bị bạo hành trong thời kỳ mang thai; tỉ lệ sẩy thai cao hơn, trẻ đẻ ra
nhẹ cân hơn ở nhóm bị bạo hành mặc dù không có ý nghĩa thống kê và đặc biệt họ phải
15
nhập viện điều trị trong thời gian mang thai nhiều hơn nhóm không có bạo hành.
21
Bullock đầu tiên ghi nhận có sự liên quan giữa bạo hành và trẻ nhẹ cân, 12,5% phụ nữ
đến sinh tại một bệnh viện tư đã từng bị bạo hành và 6,6% đang bị bạo hành sinh con nhẹ
cân hơn so với những người bình thường.
31
Tuy nhiên Amaro và O’Campo không tìm
thấy sự khác biệt này
thấp.
32,33
Bạo hành cũng có liên quan đến tiền sử sản khoa không tốt như sẩy thai, nạo
thai và thai lưu được nhiều tác giả ghi nhận.
30,34,35
Moraes và cộng sự khi nghiên cứu 394 phụ nữ đến sinh đủ tháng tại những bệnh viện sản
cơ mang thai ngoài kế hoạch gấp 2,5 lần so với những phụ nữ không bị.
33
Tương tự ở Tân
Tây Lan, theo Gao nguy cơ này là 1,52; 95% CI 1,01–2,26).
34
Bạo hành gia đình không chỉ ảnh hưởng rõ rệt trên sức khỏe thể xác mà còn ảnh hƣởng
nhiều đến sức khỏe tâm trí của phụ nữ. Leung và cộng sự trong một nghiên cứu tiền
cứu vào năm 2000–2001 trên 838 phụ nữ đến sinh tại một bệnh viện giảng dạy tại Hồng
Kông g 16,6%; sử dụng thang điểm trầm
cảm sau sinh của Edinburgh (EPDS) và hệ thống chỉ số hằng ngày của Stein (SDSS) vào
ngày 2 hay 3 sau sinh, 1–2 ngày sau xuất viện và 6 tuần sau sinh đều cho thấy chỉ số
EPDS cao hơn có ý nghĩa trong nhóm bị bạo hành so với nhóm không, quan sát này
ngược lại với chỉ số SDSS.
35
Điều này cũng tương tự ở các nước phát triển; Bacchus và
cộng sự thực hiện một nghiên cứu tại Anh mặc dù cỡ mẫu nhỏ cũng cho thấy chỉ số
EPDS ở những phụ nữ mang thai đã từng bị bạo hành cao hơn so với nhóm chứng (9,2 so
với 7,7 với p=0,006). Biến chứng sản khoa như chảy máu trước 37 tuần, vỡ ối sớm, cao
huyết áp, đau lưng, nghén nặng, thiếu máu, tiểu đường, tiền sản giật, nhiễm trùng tiểu,
quan sát được cho thấy nguy cơ tăng ở nhóm bạo hành (OR=3,2 CI 1,4–7,3) kể cả sau khi
đã được hiệu chỉnh với những yếu tố nguy cơ khác như tuổi, hút thuốc lá, và các đặc
điểm kinh tế xã hội khác.
36
Bạo hành về tinh thần cũng gây một ảnh hưởng lớn trên sức khỏe phụ nữ mang thai đáng
được lưu ý. Tiwari và cộng sự trong một nghiên cứu tại Hồng Kông mới được công bố
cho thấy trong 3245 phụ nữ mang thai đến khám tiền sản có 9,1% bị bạo hành trong số đó
73% chỉ bị bạo hành tinh thần so với 27% bị bạo hành thể xác và tình dục. So với phụ nữ
không phải nạn nhân của bạo hành, phụ nữ bị bạo hành tinh thần có nguy cơ trầm cảm
- Những nhà làm chính sách sẽ có những dữ liệu tin cậy để xây dựng những chính
sách hỗ trợ cho đối tượng phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ TPHCM nói
riêng.
- Gợi sự chú ý của những nhà làm công tác chăm sóc sức khỏe phụ nữ về tác động
của một vấn đề xã hội lên kết cục của thai kỳ để có thể xây dựng những biện pháp
hỗ trợ và theo dõi bệnh nhân.
18
2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
2.1 &đ
2.1.1 Yếu tố nghiên cứu:
- Đặc điểm kinh tế, xã hội của bản thân và gia đình (tuổi hai vợ chồng, địa điểm
cư trú, nghề nghiệp, trình độ học vấn, hoàn cảnh kinh tế, dân tộc).
- Đặc điểm sản khoa (tiền thai, giới tính thai nhi lần này, các bệnh lý trong thai
kỳ, cân nặng của mẹ).
- Đặc điểm lúc sinh (tuổi thai khi sinh, APGAR sau 1’ và sau 5’, cân nặng thai
nhi, dị dạng thai, thai chậm phát triển, cách sinh, biến chứng sản khoa).
- Đặc điểm trong thời kỳ hậu sản (cân nặng sơ sinh, cho con bú, chăm sóc con,
sự hỗ trợ của người thân, chia sẻ lo âu, những dấu hiệu của sức khỏe).
2.1.2 Yếu tố kết cục:
- Bạo hành trong gia đình (hình thức bạo hành, tần suất bạo hành, người bạo
hành, thời gian xảy ra, mức độ bạo hành, ý muốn của phụ nữ về sự giúp đỡ,
biết hay không luật “Phòng chống Bạo gia đình” tại Việt Nam).
- Trầm cảm (trước sinh, sau sinh).
2.1.3 Bạo hành gia đình:
- Là thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một
gia đình: thường thấy nhất là giữa vợ và chồng, cha mẹ với con cái hay ông bà,
anh em ruột , giữa mẹ chồng và con dâu.
- Các hình thức bạo hành bao gồm bạo hành thể xác, bạo hành tình dục: ép buộc
Thiếu động cơ/không cảm giác hưởng thụ (enjoyment)
Năng lượng giảm
Mất ngủ
Chán ăn/sụt cân
Khó tập trung
Tâm thần vận động trì trệ
20
Suy nghĩ tiêu cực (cảm giác vô vọng, vô dụng,
)
Có tư tưởng/kế hoạch tự hủy hoại
Các nhà lâm sàng thường sử dụng thang điểm Edinburgh (EPDS) để nhận diện khả
năng trầm cảm sau sinh. Trong đa số nghiên cho thấy trên một điểm cắt, chỉ số
EPDS gợi ý một khả năng trầm cảm sau sinh.
63,64,652.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
- Nghiên cứu đoàn hệ.
2.2.2 Dân số nghiên cứu:
- Dân số đích: thai phụ tại TPHCM.
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu:
- Nghiên cứu được tiến hành tại các cơ sở y tế trên địa bàn TPHCM, những phụ
nữ đến khám thai trong khoảng thai kỳ 36 tuần trở lên được mời
tham gia vào nghiên cứu sau khi giải thích về nghiên cứu.
- Thực hiện tại các cơ sở nghiên cứu:
a) Bệnh viện Hùng Vương nơi nhận các sản phụ ở khu vực phía đông TP
HCM tiếp nhận các quận 5, 6, 10, 11, Tân Bình, Tân Phú, Hóc Môn…;
đa số là buôn bán và công nhân viên chức; số ca sinh tại đây khoảng
p’1=p1 x
0.83
p’2=p2 x
0.17
p’1+p’2
0.25
0.35
0.2075
0.0595
0.267
0.28
0.38
0.2324
0.0646
0.297
0.3
0.4
0.249
0.068
0.317
0.31
0.41
0.2573
0.0697
0.327
0.32
0.42
0.2656
0.0714
0.337
- Phải có sự tự nguyện tham gia của của đối tượng nghiên cứu: nhóm nghiên cứu
cần giải thích rõ ý nghĩa, lợi ích và yêu cầu của nghiên cứu để phụ nữ có sự
đồng thuận cao.
23
- Nhóm thu thập số liệu được lựa chọn phù hợp, được tập huấn kỹ các mẫu bệnh
án nghiên cứu, cách tiếp cận bệnh nhân.
- Các điểm nghiên cứu bố trí nơi phỏng vấn riêng tư, thoải mái và thân mật.
a) Phỏng vấn đầu tiên đƣợc thực hiện với
- Mẫu 1: nhằm thu thập những đặc điểm của đối tượng.
- Mẫu 2: để phát hiện bạo hành trong thời kỳ mang thai.
- Mẫu 3: sàng lọc trầm cảm trước sinhtheo thang điểm EPDS cho tất cả thai phụ
tham gia nghiên cứu.
Thai phụ được theo dõi thai thường quy theo hẹn của phòng khám thai cho đến lúc
vào sinh tại bệnh viện. Người nghiên cứu tại chỗ tổ chức theo dõi và kết hợp với
phòng khám thai để được liên lạc hoặc thông báo khi sản phụ vào sinh tại bệnh
viện.
b) Trong vòng 24 giờ sau sinh
- Mẫu 4: bệnh án nghiên cứu thu thập những thông tin liên quan đến tình trạng
sức khỏe của sản phụ và thai nhi được thực hiện.
c) Tất cả sản phụ đƣợc phỏng vấn lần thứ hai 4 – 6 tuần sau
- Mẫu 2: nhằm phát hiện bạo hành trong thời kỳ hậu sản.
- Mẫu 3: đánh giá chỉ số trầm cảm sau sinh.
- Mẫu 5: một bảng câu hỏi liên quan đến sinh hoạt gia đình, chăm sóc con,
những hỗ trợ từ phía gia đình. Mẫu này được sử dụng trong một nghiên cứu
trước tại bệnh viện Hùng Vương.
d) Đối với những sản phụ không trở lại tái khám đƣợc
- Người nghiên cứu sẽ tìm mọi cách liên lạc bằng thư, đến nhà hay phỏng vấn
qua điện thoại.
mức độ nào đó; nếu thực hiện trước sinh, những phụ nữ đạt ngưỡng 14/15 có khả
năng cao bị loạn thần (dysphoria) trong thai kỳ.
20
- Tuy nhiên chỉ số EPDS cần được kiểm chứng lại bằng chẩn đoán lâm sàng để
xác định chẩn đoán. Trong những trường hợp nghi ngờ, bảng câu hỏi nên được
thực hiện lại sau 2 tuần. Thang điểm này không dùng để phát hiện những bệnh tâm
25
thần hay rối loạn nhân cách. Thang điểm EPDS có thể thực hiện trong vòng dưới 5
phút.
2.4 Thống kê sử dụng:
- Tỉ lệ sẽ được tính %, các biến liên tục được tính trung bình, trung vị, t-test, χ
2
,…
khi phù hợp.
- Thống kê có ý nghĩa khi α ≤ 0.05; độ mạnh của nghiên cứu là 80%.
- Xem xét các mối tương quan giữa bạo hành và trầm cảm, giữa bạo hành và các
đặc điểm kinh tế xã hội sử dụng OR, yếu tố gây nhiễu; phân tích tương quan đơn
biến và hồi quy logistic sẽ được sử dụng.
- Những trị số trên đi kèm với 95% KTC khi phù hợp.
2.5 Vấn đề y đức
- Sản phụ tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi ngh
tiện của việc tham gia vào nghiên cứu. Sản phụ cũng được cho hay có thể
rút lui khỏi nghiên cứu bất kể khi nào.
- chỉ được thực hiện sau khi đề cương được thông qua ở Hội đồng
Khoa học Công nghệ Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Sức khỏe Sinh sản và BV
Hùng Vương.
- Những thông tin thu thập được hoàn toàn đảm bảo tính riêng tư và bảo mật bằng
100
Từ 15–1–2011 đến 15–8–2011 thu thập đối tượng nghiên cứu được tiến hành tại 4 địa
điểm sau khi các nhóm nghiên cứu được tập huấn về cách thực hiện đề cương, cách điền
các mẫu nghiên cứu và đóng vai cách phỏng vấn các phụ nữ tham gia nghiên cứu.
1450; số mất dấu 63 (0,9%); 1387 phụ
nữ hoàn tất được phỏng vấn lần cuối cùng sau sinh 4–6 tuần.
3.1 Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm kinh tế xã hội của đối tƣợng nghiên cứu
Vợ
Chồng
N=1387
%
N=1387
%
Tuổi (TB±SD) [khoảng]
29.05 ± 4.79
[17–45]
32.7 ± 6.25
[18–65]
<20
14
1
4
0,3
20 – 24
227
16,4
0,7
25
1,8
27
Tiểu học (≤5 năm)
90
6,5
62
4,5
Cấp II (6-9 năm)
415
29,9
355
25,6
Cấp III (10-12 năm)
494
35,6
546
39,4
Đai học + (>12 năm)
378
27,3
399
28,8
Nghề nghiệp
Không
1384
99,8
726
52,3
Có
3
0,2
661
47,7
Uống rượu
Không
1384
99,8
629
45,4
Có
3
0,2
758
54,6
Sử dụng ma túy