Môn lý luận hành chính nhà nước trở thành người lái thuyền - Pdf 25

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 5
Khi bàn tới vai trò của nhà nước hiện nay, David Osborne và Ted Gaeble đã đưa ra
một nguyên tắc quan trọng “Nhà nước cần phải trở thành người lái thuyền chứ không
phải người chèo thuyền” 5
Với những kiến thức được học tập, nghiên cứu, Em xin phân tích làm rõ nguyên tắc
trên, bài phân tích của Em tập trung vào một số vấn đề: 5
1.Khái niệm, vai trò, đặc trưng của Nhà nước 5
2.Nền hành chính công truyền thống (Bộ máy thư lại) 5
3.Nền hành chính công phát triển (hành chính công mới) 5
4.Liên hệ thực tiễn nền hành chính Việt Nam 5
5.Đề xuất một số giải pháp cải cách nền hành chính Việt Nam theo hướng “Nhà nước
trở thành người lái thuyền” 5
1.Khái niêm, vai trò, đặc trưng của nhà nước 6
1.1.Khái niệm : 6
1.2.Nhà nước có vai trò : 6
1.3.Nhà nước có các đặc trưng cơ bản sau đây: 6
2.Nền hành chính công truyền thống (bộ máy thư lại) 6
3.Những đòi hỏi của xã hội phát triển tất yếu phải chuyển sang nền hành chính công mới.
9
+ Sự phát triển năng động của khu vực tư nhân. Xuất phát từ mục tiêu thu được lợi
nhuận cao nhất trên đồng vốn bỏ ra, khu vực tư nhân là nơi đầu tiên hình thành nên các
tư duy, ý tưởng, khoa học về quản lý con người, tổ chức. Cùng với sự gọn nhẹ, đơn
giản trong quản lý của khu vực tư nhân, các kiến thức này dễ dàng được triển khai thử
nghiệm, hoàn thiện thường xuyên trong quá trình sản xuất – kinh doanh. Điều này làm
cho khu vực tư nhân không ngừng đổi mới, hoàn thiện. Sự năng động, hiệu quả trong
khu vực tư nhân đã làm cho nhà nước phải xem xét lại mô hình quản lý của mình để
hoàn thiện. Mặt khác, sự năng động của khu vực tư nhân còn làm cho khu vực này thấy
được các nhu cầu dịch vụ mà nhà nước làm chưa tốt hoặc còn bỏ ngỏ như một thị
trường mới cho mình. Đây là điều kiện quan trọng để nhà nước có thể chuyển dần các

chính truyền thống 11
5. Liên hệ thực tiễn Việt Nam 12
5.1. Thực trạng nền hành chính Việt Nam 12
Tuy nhiên nền hành chính Việt Nam còn một số tồn tại sau : 12
5.2. Kiến nghị các giải pháp 13
Trong bối cảnh vận hành theo cơ chế thị trường và ngày càng hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam đã có những sự đổi mới sâu sắc. Cùng với
sự đổi mới đó, chức năng của Chính phủ chắc chắn sẽ phải đối mặt với những thách
thức của thị trường trong nước và thị trường thế giới. Vì vậy, vận dụng những nhân tố
hợp lý của mô hình Hành chính phát triển để xây dựng một mô hình phù hợp với Việt
Nam, đẩy mạnh cải cách hành chính theo kịp cải cách kinh tế đang là một yêu cầu cấp
thiết. Để việc cải cách đạt nhiều kết quả và theo mô hình “người lái thuyền” cần tập
trung một số giải pháp sau: 13
Thứ nhất, nhà nước tập trung vào việc ban hành các chính sách và lãnh đạo việc thực
hiện các chính sách: 13
Khi ban hành cách chính sách, nhà nước cần có tầm nhìn tốt và xác định con đường
đúng nhất để đi đến đích; đồng thời, có một cơ chế àm cho khu vực tư cũng như toàn
xã hội tích cực tham gia trong sự năng động nhất mà họ có thể để cùng nhà nước thực
hiện các định hướng ấy. Nhà nước cần tập trung vào việc nâng cao tính hiệu quả của
các chính sách được đề ra. Tính hiệu quả của chính sách thể hiện ở chỗ phải tập trung
vào mục tiêu và kết quả đạt được. Cần tránh những quy định chỉ chú trọng đến đầu vào
và quy trình. Tính hiệu quả thể hiện ở việc tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội, huy
động được các nguồn lực từ khu vực tư vào đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và sử
dụng các nguồn lực này một cách tiết kiệm, hữu ích nhất. Khi khu vực tư đã tham gia
vào quá trình cung cấp dịch vụ công và xã hội hóa đầu tư công, hiệu quả từng dự án cụ
thể sẽ do họ quyết định, song hiệu quả tổng thể thuộc về trách nhiệm của nhà nước. Nó
gắn liền với chất lượng chính sách về công tác quy hoạch kinh tế- xã hội, cơ chế hỗ
trợ, kết nối nguồn lực Cũng như một người lái thuyền, để có thể làm tốt các công
việc trên, nhà nước cần có sự trao đổi, tạo sự đồng thuận với khu vực tư – những
"người chèo thuyền" – khi xây dựng và ban hành chính sách. Đây là công việc không

làm cho bộ máy nhà nước nhỏ lại nhưng mạnh hơn do có điều kiện tập trung tất cả các
nguồn lực có được vào mục tiêu "cầm lái" 14
Thứ ba, xã hội hóa đầu tư công: 15
Trong hành chính công truyền thống, đầu tư công luôn là hoạt động rất quan trọng cho
sự phát triển của một quốc gia. Nó cũng là hoạt động sử dụng nhiều nhất ngân sách của
nhà nước và chứa đựng nguy cơ tham nhũng, thất thoát, lãng phí nhiều nhất. Do vậy,
hoạt động quản lý đầu tư công trong hành chính công truyền thống luôn cần rất nhiều
sự đầu tư của nhà nước. Xã hội hóa đầu tư công giúp cho nhà nước giảm được gánh
nặng về tài chính cũng như quản lý. Xã hội hóa đầu tư công cũng làm cho năng lực
khu vực tư nhân mạnh dần lên thông qua quá trình quản lý đầu tư và lợi nhuận thu
được từ hoạt động này. Vì thế xã hội hóa đầu tư công làm cho nhà nước có thể tập
trung vào việc đưa ra các tầm nhìn, chiến lược trong đầu tư như nhiệm vụ vốn dĩ phải
làm của "người lái thuyền" và làm cho khu vực tư phát triển, đưa xã hội nhanh chóng
đi đến mục tiêu nhà nước đã vạch ra như vai trò của một "người chèo thuyền" mạnh
khỏe 15
Bên cạnh sự đòi hỏi nhất định về năng lực sẵn sàng của khu vực tư nhân, hiệu quả của
xã hội hóa đầu tư công đối với xã hội chủ yếu phụ thuộc vào định hướng, tầm nhìn
chiến lược của nhà nước. Cho dù khu vực tư có mạnh đến đâu thì xã hội cũng không
thể phát triển nếu nhà nước, với vai trò "cầm lái" định hướng sai. Thậm chí điều này
còn làm cho khu vực tư giảm đi sức mạnh của mình. Lúc này, xã hội đứng trước nguy
cơ thụt lùi 15
Thứ tư, xã hội hóa các hoạt động mang tính chất phúc lợi, trợ cấp, nhân đạo khác: 15
3
Nhà nước nào cũng có lúc gặp khó khăn liên quan đến các vấn đề xã hội như: phúc lợi,
trợ cấp, nhân đạo. Trong đó, khó khăn chủ yếu là không đủ nguồn lực tài chính và
nhân lực để tài trợ cho các hoạt động này. Giải quyết những nhu cầu này không làm
cho kinh tế của quốc gia tăng trưởng, song nó là yếu tồ cần thiết cho sự ổn định của
con thuyền quốc gia 15
KẾT LUẬN 16
4

1. Khái niêm, vai trò, đặc trưng của nhà nước.
1.1.Khái niệm :
Nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật, là một tổ chức xã hội đặc biệt của
quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền
lực chính trị của mình. Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp. Nhà nước
xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng giai
cấp đối kháng nhau; nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị
(kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên, nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy
toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia, trong đó chủ yếu để bảo vệ
các quyền lợi của lực lượng thống trị. Thực chất, nhà nước là sản phẩm của
cuộc đấu tranh giai cấp.
1.2.Nhà nước có vai trò :
- Ban hành pháp luật và văn bản dưới luật;
- Ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô, điều tiết, điều phối các chính
sách kinh tế - xã hội;
- Đầu tư, cung cấp sản phẩm, dịch vụ xã hội cơ bản (cấp phép, kiểm
dịch, kiểm định, giám sát, kiểm tra, v.v );
- Giải quyết các vấn đề xã hội (người già, trẻ em, người tàn tật, v.v );
- Bảo vệ môi trường, giao thông, phòng chống thiên tai, bão lụt, v.v
1.3.Nhà nước có các đặc trưng cơ bản sau đây:
- Có chủ quyền quốc gia.
- Có quyền lực chính trị công cộng đặc biệt; có bộ máy cưỡng chế, quản
lí những công việc chung của xã hội.
- Có quyền quản lý dân cư, phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành
chính.
- Có quyền xây dựng, sáng tạo pháp luật và có quyền điều chỉnh các
quan hệ xã hội bằng pháp luật.
- Có quyền ban hành các sắc thuế và thu thuế.
2. Nền hành chính công truyền thống (bộ máy thư lại).
Một trong những hình thức chủ yếu của các tổ chức thuộc khu vực

- Các quy tắc được viết chính thức thành văn bản, và các thể thức
được ứng dụng một cách nhất quán. Những quy tắc này được thực hiện và
tuân thủ nghiêm ngặt, phù hợp với các quy định pháp luật của Nhà nước độc
quyền nắm pháp luật và có đầy đủ các lực lượng cưỡng chế trong tay.
- Tính chất vô nhân xưng - các viên chức lệ thuộc vào một trình tự vô
nhân xưng và các tiêu chí thực hiện được quy định trong các văn bản chính
thức. Họ chỉ hoạt động phù hợp với các quy tắc đó trong những mối quan hệ
với những người khác, dù là người trong cùng hay ngoài tổ chức. Nghĩa là,
trong khi làm việc với tư cách là một viên chức trong bộ máy thư lại, người
viên chức đó chỉ tuân theo pháp luật và các quy định đã có trước, làm việc
thay mặt Nhà nước, chứ không phải là một con người cụ thể nào cả, như vậy
7
mới bảo đảm là xử lý công việc vô tư, không thiên vị với bất kỳ ai khác, dù
đó là người thân quen.
- Tính trung lập là biểu hiện đặc trưng của người viên chức trong bộ
máy thư lại. Các viên chức được tuyển lựa và đề bạt thông qua chức nghiệp
trên cơ sở năng lực kỹ thuật của họ, không xem xét tới các mặt khác như địa
vị xã hội, lòng trung thành hay sự ủng hộ của họ.
Max Weber khẳng định rằng hình thức bộ máy thư lại là có hiệu quả
hơn so với các hệ thống hành chính khác, do nó có thể vô nhân xưng các quy
tắc và thể thức của mình, do vậy có thể đạt được sự tính toán chính xác hơn
trong quá trình ra quyết định. Ngoài ra, ông cho rằng bộ máy thư lại là ưu
điểm do nó chính xác, ổn định và có kỷ luật nghiêm ngặt trong thực tiễn hoạt
động thực thi các nhiệm vụ hành chính.
Mô hình hành chính truyền thống Max Weber mang một số nhược
điểm mà ngày nay nó càng bộc lộ rõ do nhận thức hiện đại.
Trước hết, vấn đề hợp lý hoá và thư lại hoá nền hành chính là mong
muốn, song trên thực tế thì rất khó có thể hướng dẫn được mặt tinh thần và
đạo đức của người viên chức trong bộ máy đó. ảnh hưởng sâu sắc của bộ
máy thư lại trong xã hội với quyền lực bao trùm do trình độ chuyên môn cao

cấu kiểm soát chặt chẽ từ trên xuống dưới cũng tạo nên tâm lý căng thẳng và
có thể cả đụng độ giữa người giám sát và những người dưới quyền. Đó là
những vấn đề mà nguyên tắc vô nhân xưng đầu tiên được thiết kế nên để
ngăn ngừa, nhưng lại chính là do nguyên tắc đó mang lại.
Cũng liên quan tới điểm thứ hai này, do cơ cấu quyền lực của bộ máy
thư lại là từ trên xuống dưới, việc điều phối chủ yếu chỉ là theo trục dọc và
tỏ ra không phù hợp với các nhu cầu và giá trị của đội ngũ công chức có
trình độ chuyên môn ngày càng cao. Các tổ chức hiện nay ngày càng phải
tuyển dụng nhiều chuyên gia có tay nghề vững vàng để vận hành những
công nghệ mới, do đó, tạo nên những cơ cấu hành chính phức tạp đòi hỏi có
cơ chế phối hợp ngang (liên cấp, liên ngành) nhiều hơn, khác với cơ chế
theo hệ thứ bậc. Từ đó, hiệu suất công tác của tổ chức không chỉ lệ thuộc
vào hệ quả của công tác điều phối theo trục dọc, mà còn phải đảm bảo cả
công tác phối hợp theo trục ngang giữa các đơn vị, tổ, đội, cá nhân trong
cùng một cấp.
3. Những đòi hỏi của xã hội phát triển tất yếu phải chuyển sang
nền hành chính công mới.
Trong một thời gian dài, mô hình hành chính công truyền thống đã
bộc lộ những nhược điểm như: mô hình thư lại nhiều tầng nấc đã tạo ra sự
cồng kềnh, quan liêu trong tổ chức bộ máy nhà nước; các quy trình, thủ tục,
quy tắc chặt chẽ đã tạo ra sự cứng nhắc, chậm chạp, kém năng động trong
quá trình tác nghiệp, cung cấp dịch vụ - hầu như không có chỗ cho sự sáng
tạo, linh hoạt; thiếu những cơ chế khuyến khích nhân viên hợp lý; tập trung
quản lý đầu vào và quy trình mà không chú ý đến đầu ra và hiệu quả trong
quá trình tác nghiệp của công chức và cơ quan nhà nước. Từ những năm
1970-1980, các nước phát triển có một số thay đổi quan trọng. Cụ thể:
9
+ Sự khủng hoảng tài chính công xảy ra ở hầu hết các quốc gia phát
triển đã làm cho nhà nước đứng trước sự khó khăn nghiêm trọng trong việc
đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của chính phủ và đầu tư phát triển

Cùng với sự gọn nhẹ, đơn giản trong quản lý của khu vực tư nhân, các kiến
thức này dễ dàng được triển khai thử nghiệm, hoàn thiện thường xuyên trong
quá trình sản xuất – kinh doanh. Điều này làm cho khu vực tư nhân không
ngừng đổi mới, hoàn thiện. Sự năng động, hiệu quả trong khu vực tư nhân
đã làm cho nhà nước phải xem xét lại mô hình quản lý của mình để hoàn
10
thiện. Mặt khác, sự năng động của khu vực tư nhân còn làm cho khu vực này
thấy được các nhu cầu dịch vụ mà nhà nước làm chưa tốt hoặc còn bỏ ngỏ
như một thị trường mới cho mình. Đây là điều kiện quan trọng để nhà nước
có thể chuyển dần các dịch vụ công cho khu vực tư nhân đảm nhận.
4. Nền hành chính công mới (lái thuyền)
Có thể hiểu, hành chính phát triển thường được sử dụng khi nói đến “Mô
hình hành chính công theo các tiêu chí hiện đại, chủ động, năng động, nhạy
bén, thích nghi cao nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và dịch vụ tối đa
trong các điều kiện kinh tế thị truờng phát triển mạnh mẽ và những quan hệ
quốc tế ngày càng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau”. Bắt đầu từ thập kỷ 80 và
những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, sự chuyển đổi từ Hành chính
công truyền thống sang Hành chính phát triển đang trở thành xu hướng phổ
biến trên thế giới, đặc biệt là những nước kinh tế thi trường phát triển.
Theo quan điểm mới, vai trò của Chính phủ có sự chuyển từ “chèo
thuyền” sang “lái thuyền”. Nhà nước không ôm đồm làm hết mọi dịch vụ mà
thực hiện dân chủ hoá gắn liền với phân quyền, xã hội hoá nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả quản lý của Nhà nước. Với sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học, công nghệ; xu hướng “thị trường hóa” và “toàn cầu hoá” kinh
tế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội … Nhà nước buộc phải xã hội hoá,
tư nhân hoá, chấp nhận sự tham gia của công chúng vào công việc quản lý
nhà nước, đồng thời phải can thiệp ngày càng sâu vào các quá trình kinh tế-
xã hội và cải tiến mô hình nền hành chính công và nâng cao chất lượng dịch
vụ đối với người dân - những “khách hàng” của nền hành chính…
Đối với công chức của hành chính phát triển: Trách nhiệm của người

- Phương thức hoạt động của Chính phủ, các bộ ngành trung ương và
Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp có bước đổi mới. Các cơ quan nhà nước
tập trung làm tốt chức năng định hướng phát triển, tạo lập môi trường pháp
lý, cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực, tăng cường quản
lý nhà nước bằng pháp luật.
Tuy nhiên nền hành chính Việt Nam còn một số tồn tại sau :
- Hệ thống thể chế pháp luật vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và
trong một số lĩnh vực chưa bám sát và nhiều quy định chưa phù hợp với thực
tiễn. Sự chưa đồng bộ của hệ thống thể chế một mặt thể hiện ở chỗ một số
luật, pháp lệnh đã ban hành nhưng các nghị định và thông tư hướng dẫn triển
khai chậm được ban hành. Nhiều cơ quan nhà nước vẫn có xu hướng giữ
thuận lợi cho hoạt động quản lý của mình nhiều hơn là đáp ứng nhu cầu tạo
thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân, vẫn còn nhiều thủ tục hành chính
không hợp lý, phức tạp, tiếp tục gây phiền hà cho dân và doanh nghiệp.
- Nhiều công việc chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý hành
chính nhà nước vĩ mô của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước,
nhất là ở cấp Chính phủ và các bộ.
- Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc.
Bộ máy hành chính ở cấp Trung ương còn quá lớn, số lượng tổ chức bên
trong các bộ, ngành còn nhiều, sau nhiều năm thực hiện tinh giảm biên chế
đội ngũ công chức không giảm mà có biểu hiện tăng thêm. Đặc biệt gần đây
dư luận đang xôn xao vụ việc xã Quảng Vinh huyện Quảng Xương, tỉnh
Thanh Hóa có 500 cán bộ hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước và
các khoản đóng gòp của nhân dân.
12
- Chế độ công vụ mới chậm hình thành đầy đủ, chất lượng cán bộ,
công chức chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội. Đội
ngũ cán bộ, công chức còn bất cập về kỹ năng quản lý mới, thiếu tính nhạy
bén thị trường, trách nhiệm thực thi công vụ chưa cao. Một bộ phận cán bộ,
công chức suy thoái phẩm chất, đạo đức, tham nhũng gây bức xúc trong

đầu tư công, hiệu quả từng dự án cụ thể sẽ do họ quyết định, song hiệu quả
tổng thể thuộc về trách nhiệm của nhà nước. Nó gắn liền với chất lượng
chính sách về công tác quy hoạch kinh tế- xã hội, cơ chế hỗ trợ, kết nối
13
nguồn lực Cũng như một người lái thuyền, để có thể làm tốt các công việc
trên, nhà nước cần có sự trao đổi, tạo sự đồng thuận với khu vực tư – những
"người chèo thuyền" – khi xây dựng và ban hành chính sách. Đây là công
việc không đơn giản, bởi "người lái thuyền" thì chỉ có một, nhưng lại có rất
nhiều "người chèo thuyền" mà họ lại có xu hướng bảo vệ mục tiêu, lợi ích
"của mình" bằng bất cứ giá nào. Do đó, chính sách của nhà nước ban hành
phải thực sự là một chính sách đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Khi
chính sách của nhà nước bị chi phối bởi lợi ích của bất cứ nhóm nào hoặc
thiếu tính khách quan, minh bạch, nó sẽ không tạo được sự đồng thuận
chung của những "người chèo thuyền" và chắc chắn nó sẽ không được thực
thi một cách có hiệu quả. Song song với ban hành các chính sách mang tính
"cầm lái", nhà nước cũng phải tạo ra các "tổ chức cầm lái". Thông thường,
khi tách các dịch vụ ra khỏi chính sách, nhà nước bộc lộ những yếu kém
trong năng lực quản lý chính sách. Nhiều tổ chức nhà nước không còn phù
hợp để thực hiện tốt vai trò "cầm lái" do không tương thích với một sự năng
động mới từ những dịch vụ công, đầu tư công đã được xã hội hóa. Để thực
hiện tốt vai trò "cầm lái", cần thiết phải hình thành những "tổ chức cầm lái"
với sự tham gia của khu vực nhà nước với khu vực tư nhân. Quá trình này sẽ
hình thành một khu vực thứ ba ngoài khu vực tư nhân, khu vực nhà nước, đó
là khu vực tự nguyện. Lịch sử thế giới đã chứng minh nhiều tổ chức thuộc
khu vực được hình thành trong khu vực này như Chữ thập đỏ, Chữ thập
xanh, Lá chắn xanh.
Thứ hai , nhà nước tách rời hoạt động cung cấp dịch vụ ra khỏi hoạt
động lãnh đạo thực hiện chính sách, tiến hành xã hội hóa các dịch vụ công:
Trong phạm vi vĩ mô của nền hành chính, nhà nước phải phân định
được phạm vi của công tác lãnh đạo thực hiện chính sách và phạm vi của các

vào định hướng, tầm nhìn chiến lược của nhà nước. Cho dù khu vực tư có
mạnh đến đâu thì xã hội cũng không thể phát triển nếu nhà nước, với vai trò
"cầm lái" định hướng sai. Thậm chí điều này còn làm cho khu vực tư giảm
đi sức mạnh của mình. Lúc này, xã hội đứng trước nguy cơ thụt lùi.
Thứ tư , xã hội hóa các hoạt động mang tính chất phúc lợi, trợ cấp, nhân
đạo khác:
Nhà nước nào cũng có lúc gặp khó khăn liên quan đến các vấn đề xã
hội như: phúc lợi, trợ cấp, nhân đạo. Trong đó, khó khăn chủ yếu là không
đủ nguồn lực tài chính và nhân lực để tài trợ cho các hoạt động này. Giải
quyết những nhu cầu này không làm cho kinh tế của quốc gia tăng trưởng,
song nó là yếu tồ cần thiết cho sự ổn định của con thuyền quốc gia.
15
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh thế giới và khu vực đang có nhiều những thay đổi
nhanh chóng, cùng với xu thế toàn cầu hóa,và những thành tựu khoa học
mới, các nước trên thế giới nói chung hiện đang đối diện với nhiều thách
thức hơn, các yếu tố môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến từng
quốc gia và cả ở phạm vi khu vực và quốc tế nhanh hơn, mạnh hơn, khó dự
đoán hơn. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế diễn
ra trên quy mô toàn cầu trong những năm qua tác động không nhỏ tới nền
kinh tế của các quốc gia. Hành chính công ở mỗi nước ngày càng phải giải
quyết nhiều vấn đề phức tạp hơn của đời sống xã hội diễn ra không chỉ trong
phạm vi một quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế. Đối với Chính phủ ở nhiều
nước và để vượt qua được thách thức đó đòi hỏi hành chính công ở các nước
phải thay đổi mạnh hơn và theo hướng tích cực hơn nữa. Trong thực tế,
những thay đổi đó đang diễn ra theo nhiều xu hướng khác nhau và các xu
hướng này thường được diễn ra đan xen và kết hợp với nhau nhằm đạt được
hiệu quả cao hơn.
Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh cải cách hành chính, hội
nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế của thế giới. Những thuận lợi và


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status