phân tích tác động của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát và việc sử dụng chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát ở việt nam trong thời gian qua. - Pdf 25

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC : CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
Đề tài : Phân tích tác động của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát và việc
sử dụng chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua.
Giảng viên : Tiến sỹ Lương Minh Việt
Phụ trách Khoa QLNN về Kinh tế - Học viện Hành chính
Người thực hiện : Vũ Ngọc Sang
Lớp : Cao học Quản lý công - K17C Nam Định
Tháng 5 năm 2013
Tiểu luận môn : Chính sách kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
2
LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói, trong chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước thì chính sách tiền
tệ của Ngân hàng Nhà nước ( hay Ngân hàng trung ương - NHTW) đóng vai trò
rất quan trọng. Do nắm trong tay các công cụ để điều tiết khối lượng tiền tệ trong
lưu thông mà qua đó có thể tác động đến hầu hết mọi hoạt động kinh tế xã hội và
ảnh hưởng trực tiếp tới sự cân bằng ngân sách nhà nước (NSNN), cán cân thanh
toán quốc tế và sự ổn định của nền kinh tế quốc gia.
Trong nền kinh tế phát triển nhanh của nước ta hiện nay luôn tiềm ẩn nguy
cơ lạm phát cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như chính sách
tiền tệ được tận dụng trước tiên với hiệu suất cao cũng là điều tất yếu.
Việc sử dụng chính sách tiền tệ như thế nào và hướng mục tiêu của chính
sách tiền tệ ra sao là một trong những vấn đề rất quan trọng mà Ngân hàng Nhà
nước cần hướng tới.
Trong phạm vi bài tiểu luận này xin phân tích những tác động của chính
sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, đồng thời phân tích những hành động mà
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng trong thời gian qua nhằm vực dậy nền

vấn đề lạm phát.
Chúng ta có thể dễ chấp nhận quan điểm của trường phái giá cả. Sở dĩ như
vậy vì gần đây lạm phát hầu như diễn ra ở đại đa số các nước mà sự tăng giá là
dấu hiệu nhạy bén và dễ thấy nhất của lạm phát. Như vậy, chúng ta sẽ hiểu đơn
Tiểu luận môn : Chính sách kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
2
giản là “lạm phát là sự tăng giá kéo dài, là sự thừa của đồng tiền trong lưu thông,
là việc nhà nước phát hành thêm tiền để bù đắp bội chi ngân sách”. Nói chung,
lạm phát là một hiện tượng của các nền kinh tế thị trường, định nghĩa lạm phát
còn rất nhiều để chúng ta có thể nghiên cứu sâu hơn, nhưng khi xảy ra lạm phát
thì tác động của nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội.
1.2. Tác động của lạm phát
1.2.1. Các hiệu ứng tích cực :
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát (tỷ lệ
tăng giá mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế. Ông dùng từ "dầu
bôi trơn" để miêu tả tác động tích cực của lạm phát. Mức lạm phát vừa phải làm
cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi.
Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm được tạo
thêm. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.
1.2.2. Các hiệu ứng tiêu cực:
Đối với lạm phát dự kiến được: Trong trường hợp lạm phát có thể được dự
kiến trước thì các thực thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với
nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội.
• Chi phí da giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền
và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát
làm cho người ta giữ ít tiền hơn hay làm giảm cầu về tiền. Khi đó họ cần phải
thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền hơn. Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ
"chi phí mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời
gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát.

không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức
vừa phải. Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc
phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do
vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này.
Nhìn chung, khi lạm phát ở mức cao sẽ có ảnh hưởng xấu tới xã hội. Do
đó, Chính phủ phải có giải pháp khắc phục, kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Có
nhiều giải pháp để kiểm soát lạm phát nhưng ở tiểu luận này tôi chỉ xin phân tích
giải pháp sử dụng chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát.
2. Chính sách tiền tệ:
2.1. Khái niệm :
Chính sách tiền tệ (CSTT) là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính
phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm
chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay
tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại
lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị
trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối.
2.2. Các công cụ của chính sách tiền tệ :
2.2.1 Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung
ương đối với các Ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng
thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở
cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
Tiểu luận môn : Chính sách kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
4
2.2.2 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần
vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toan
(cho vay) của các Ngân hàng thương mại.
2.2.3 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung
ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu
về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng

Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
5
trường và làm suy giảm sản lượng và giá cả. Do chi phí vốn tăng cao, nhà sản xuất
sẽ cắt giảm vốn đầu tư và tín dụng lưu động để giảm sản lượng tương ứng.
Trong trường hợp thắt chặt tiền tệ cần thực hiện từng bước để đảm bảo
rằng thị trường tiền tệ không bị sốc, đảm bảo sự ổn định hệ thống tài chính và
kiểm tra mức độ chịu đựng của thị trường tiền tệ.
Do chính sách tiền tệ có độ trễ nhất định từ các chính sách (khoảng hai
quý), nên hiệu quả chống lạm phát của chính sách thắt chặt tiền tệ chúng ta chưa
hy vọng có một kết quả ngay.
Thắt chặt tiền tệ không có nghĩa rằng lạm phát gia tăng do chi phí vốn tăng
cao, đẩy giá hàng hóa tăng. Trên thực tế tổng chi phí vốn sẽ giảm do doanh
nghiệp sẽ cắt giảm vốn lưu động và nhân sự và chi phí nói chung để đáp ứng mức
cầu mới yếu hơn.
Điều này có nghĩa rằng, các nhà sản xuất sẽ phải chấp nhận mức tăng giá
cân bằng thấp hơn mức tăng giá trước đây. Điều này hoàn toàn ngược lại với
quan điểm cho rằng lãi suất cao sẽ dẫn tới chi phí vốn doanh nghiệp cao. Một
điều hoàn toàn bình thường là với mức lãi suất cao, doanh nghiệp sẽ ngừng và
giảm vay tiền, tức là điều chỉnh hành vi, chứ không phải là chấp nhận mức chi
phí cao và tiếp tục sản xuất.
Câu hỏi đặt ra là mức thắt chặt như thế nào là đủ?
Không thể có một câu trả lời chính xác, nó tùy thuộc vào niềm tin của thị
trường với hiệu quả của chính sách tiền tệ. Nhiều người cho rằng, thị trường chưa
tin chính sách kiểm soát lạm phát với bằng chứng giá cả tăng ngay sau khi tỷ giá
và giá xăng tăng, phớt lờ tuyên bố kiềm chế lạm phát của Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước.
Tuy nhiên, đó chỉ là bề nổi và thực tế cho thấy đây là một phản ứng bình
thường của thị trường với một số hàng thiết yếu chứ không phải với nhiều mặt
hàng khác. Đồng thời chính sách tiền tệ có độ trễ và cần sự kiểm chứng trong
thời gian tới. Như vậy, việc giá tăng do tỷ giá và giá xăng không phản ánh được

CSTT
của
NHTW
thay đổi
Cung ứng
tiền
M1
M2
M3
L
Lãi
suất,
dự
trữ,
tỷ giá
GDP,
việc làm,
lạm phát
Làm thay
đổi
Làm
thay
đổi
Tác
động
Mục tiêu điều tiết
Mục tiêu trung gianHoạt động điều tiết
7
Nguồn: imf. org
Với những yếu tố bất lợi đó đã làm cho Việt Nam cũng không thoát khỏi

USD/ thùng, giá phôi thép, thép 830 USD/tấn, gạo hơn 1.000 USD/tấn, phân bón,
vải sợi đều tăng cao) còn do yếu tố nội sinh của nền kinh tế nước ta. Đó là mức
tăng trưởng tín dụng cũng bị đẩy lên mức cao, giá điện sinh hoạt và sản xuất
tăng, chính phủ tiến hành cải cách tiền lương làm thu nhập dân cư tăng và chi phí
của doanh nghiệp tăng cao đã càng làm trầm trọng thêm áp lực lạm phát. Trong
điều hành CSTT, việc sử dụng công cụ thị trường mở và tỷ giá hối đoái đôi khi
có những sai lầm không đáng có, làm cho mức độ lạm phát lại có xu hướng tăng.
Đặc biệt là trong năm 2008, do tỷ giá giữa USD/VND xuống thấp kỷ lục bởi
đồng USD giảm giá do ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế ở Mỹ và việc FED cắt
giảm lãi suất cơ bản đồng USD xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua (có lúc
xuống 0,25%) khiến cho việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam gặp nhiều khó
khăn.
Diến biến tỷ giá VND/USD từ 2007-2009
Để khuyến khích xuất khẩu, NHNN đã quyết định mua vào hơn 7 tỷ USD,
tương đương với việc “bơm” thêm hơn 112.000 tỷ VND vào nền kinh tế làm cho
Tiểu luận môn : Chính sách kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
9
lạm phát càng thêm trầm trọng. Biện pháp mua vào 7 tỷ USD có mặt tích cực đó
là gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia (còn đang ở mức rất thấp so với các nước
trong khu vực), đồng thời nâng giá trị đồng USD nhằm khuyến khích nền kinh tế
xuất khẩu qua đó tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước, điều chỉnh giảm
bội chi cán cân thương mại. Mặc dù sau đó, NHNN đã thực hiện nghiệp vụ thị
trường mở (Open Market) để “hút” tiền trở lại nhưng chỉ thu hồi được hơn
82.000 tỷ. Tuy nhiên, việc làm này vẫn làm gia tăng áp lực lớn về lạm phát vì với
một khối lượng tiền quá lớn đã được NHNN cung vào nền kinh tế. Thời kỳ này,
NHNN đã áp dụng hàng loại các biện pháp quyết liệt cùng Chính phủ sử dụng
CSTK nhằm kiềm chế lạm phát. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thể
hiện quyết tâm của Chính phủ trong chống lạm phát bằng câu nói nổi tiếng “hy
sinh tăng trưởng để kiềm chế lạm phát”. NHNN đã sử dụng đồng bộ các công cụ

vào khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ do “cho vay dưới chuẩn” trong lĩnh
vực bất động sản gây ra. Mỹ, Nhật, EU và nhiều quốc gia khác rơi vào suy thoái
khiến cho nhu cầu nhập khẩu hàng hoá giảm, chu chuyển vốn đầu tư FDI, FII
giảm gây khó khăn cho việc xuất khẩu và nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam đã
càng làm cho kinh tế nước ta rơi vào suy thoái trầm trọng hơn. Vì vậy, cuối năm
2008 khi lạm phát có xu hướng “hãm phanh” thì cũng là lúc NHNN quay lại thực
hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Việc thực hiện “thắt chặt” tiền tệ đòi hỏi kết
hợp chặt chẽ giữa CSTT và CSTK mới đem lại hiệu quả tốt nhất thì việc “nới
lỏng” tiền tệ cũng đòi hỏi việc làm tương tự. Điều đó thể hiện ở việc Chính phủ
Tiểu luận môn : Chính sách kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
11
tiến hành thực hiện 5 nhóm giải pháp cấp bách nhằm “ngăn chặn đà suy giảm
kinh tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội”. Trong đó kích cầu nền
kinh tế là một trong những giải pháp trọng tâm. Chính phủ đã dùng 9 tỷ USD cho
gói kích cầu kinh tế (đứng thứ 3 thế giới về tỷ trọng gói kích cầu/tổng GDP, chỉ
sau Trung Quốc và Malaixia) trong đó dành riêng 1 tỷ đô la (tương đương hơn 17
ngàn tỷ đồng) từ dự trữ ngoại hối quốc gia để hỗ trợ giảm 4% lãi suất vay vốn lưu
động ngắn hạn cho doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân để sản xuất, kinh doanh
nhằm giảm giá thành hàng hoá và tạo việc làm. Đây là cách làm khá độc đáo và
sáng tạo, “rất Việt Nam” nhưng mang lại hiệu quả khá cao. Sau đó, vào ngày
04/04/2009, Chính phủ tiếp tục hỗ trợ 4% lãi suất và kéo dài thời hạn hỗ trợ đến
hết năm 2011 cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vay vốn trung dài hạn để
đầu tư mới cho sản xuất kinh doanh. Bằng việc hỗ trợ lãi suất, Chính phủ đã
khuyến khích tăng nhanh chóng nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp vốn đang
rất thiếu vốn sản xuất đồng thời mở đầu ra cho các NHTM vốn đang trong tình
trạng dư thừa vốn. Tính đến 12/11/2009, theo NHNN, tổng dự nợ trong chương
trình hỗ trợ lãi suất đã lên tới trên 414.460,21 tỷ đồng trong đó DNNN vay
62.605,20 tỷ đồng, DN ngoài quốc doanh 285.290,27 tỷ đồng, hộ sản xuất
66.565,02 tỷ đồng. Chính phủ cũng quyết định giảm thuế cho các doanh nghiệp

thông qua các TCTD. NHNN tiến hành nghiệp vụ bán ngoại tệ làm giảm tỷ giá để
hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống, điều
hoà cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
CSTT chặt chẽ, thận trọng năm 2011 nhằm kiểm soát lạm phát.
Trong bối cảnh kinh tế đất nước đầu năm 2011, nói đến kinh tế vĩ mô là
chúng ta nói đến lạm phát, tăng trưởng, thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân
thương mại, cán cân vãng lai và cán cân thanh toán tổng thế, tỷ lệ giữa đầu tư và
tích lũy, tỷ lệ thất nghiệp, biến động của tỷ giá và dự trữ ngoại hối nhà nước, tỷ lệ
nợ quốc gia, tỷ lệ nợ công…. Các chỉ số và tỷ lệ trong các lĩnh vực nêu trên phụ
thuộc lẫn nhau, tác động qua lại và đan xen lẫn nhau, và trong nhiều trường hợp
lại có tính triệt tiêu lẫn nhau (được chỉ tiêu này lại mất chỉ tiêu kia). Do vậy, tùy
theo tình hình, đặc điểm của mỗi nước trong từng giai đoạn mà người ta quyết
định chỉ tiêu nào là chỉ tiêu tiên quyết phải đạt được, các chỉ tiêu khác là các chỉ
Tiểu luận môn : Chính sách kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
13
tiêu thỏa hiệp, sẵn sàng nhân nhượng, hay nói một cách khác là sẵn sàng điều
chỉnh để nhằm đạt được các chỉ tiêu tiên quyết.
Phân tích đặc điểm kinh tế của đất nước ta đầu năm 2011 cho thấy lạm
phát tăng cao trong nhiều năm và có biểu hiện tiếp tục tăng cao hơn trong năm
2011; nền kinh tế nước ta đã có độ mở và hội nhập rất lớn (kim ngạch xuất, nhập
khẩu đã trên 154% GDP). Trong bối cảnh đó, theo phân tích, đánh giá của nhiều
chuyên gia trong và ngoài nước, các tổ chức tài chính phát triển quốc tế, Việt
Nam nên chọn mục tiêu kiềm chế lạm phát; cải thiện và tăng dự trữ quốc gia là
hai mục tiêu tiên quyết cho giai đoạn phát triển hiện nay; các mục tiêu khác phải
là các mục tiêu thỏa hiệp, sẽ điều chỉnh một cách thích hợp nhằm đạt được hai
mục tiêu tiên quyết nói trên. Điều này có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong
giai đoạn hiện nay, tạo ra một sự nhất quán trong các chính sách và giải pháp của
Chính phủ và khi đạt được các mục tiêu tiên quyết này sẽ củng cố và nâng cao
được vị thế đối nội và vị thế đối ngoại của nền kinh tế đất nước.

đ) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan chức năng kiểm tra,
giám sát việc tuân thủ các quy định về thu đổi ngoại tệ, kinh doanh vàng. Ban
hành quy định và chế tài xử lý vi phạm, kể cả việc đình chỉ, rút giấy phép hoạt
động, thu tài sản; quy định khen, thưởng đối với việc phát hiện các hành vi vi
phạm hoạt động thu đổi, mua bán ngoại tệ, vàng. Xử lý nghiêm theo pháp luật đối
với hành vi cố tình vi phạm.
Từ những giải pháp mà Nghị quyết 11/NĐ-CP đưa ra ta thấy rằng không
có một giải pháp đơn lẻ nào có thể giải quyết được mọi vấn đề. Các giải pháp có
mối liên kết, tác động qua lại, hỗ trợ, bổ sung nhau, có nhóm giải pháp là tiền đề,
điều kiện để thực hiện các nhóm giải pháp khác, và đến lượt mình, các nhóm giải
pháp này lại là cơ sở để củng cố và tạo điều kiện cho các giải pháp kia phát huy
tác dụng. Do vậy, nguyên tắc cơ bản là tính đồng bộ và quyết liệt của các giải
pháp, sự phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt của các Bộ, ngành, chính quyền địa
phương các cấp.
Trong ngắn hạn nhóm giải pháp về chính sách tiền tệ có hiệu ứng nhanh
nhất. Tuy nhiên, những kết quả mà chính sách này mang lại sẽ không bền vững
nếu nhóm các giải pháp khác như chính sách tài khóa, chính sách đầu tư, chuyển
đổi cơ cấu kinh tế … không kịp thời được triển khai đồng bộ.
Một số điều kiện để CSTT kiềm chế lạm phát
Từ những phân tích trên ta có thể thấy rằng Việt Nam sẽ thành công với
chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát với một số điều kiện.
Thứ nhất, chính sách tiền tệ phải nhất quán. Hiệu quả của chính sách tiền
tệ phụ thuộc rất lớn vào niềm tin của thị trường, thể hiện ngay từ lúc tạo lập kế
hoạch kinh doanh của doanh nghiệp cho một kỳ kinh doanh phía trước, bao gồm
cả kế hoạch về giá. Nếu thị trường tin tưởng vào khả năng kiểm soát lạm phát của
cơ quan chính sách, các kỳ vọng lạm phát đã được hình thành ngay từ giai đoạn
đầu của một kỳ kinh tế.
Tuy nhiên, để có được sự tin tưởng của thị trường, cơ quan chính sách phải
tạo lập được niềm tin thông qua tính nhất quán, cương quyết của chính sách tiền tệ.

Tiểu luận môn : Chính sách kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
16
Mặc dù năm trong khoảng thời gian 2007-2011 có những biến động rất lớn
của tình hình kinh tế, chính trị thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam nhưng
Chính phủ, NHNN và các TCTD đã có những biện pháp kịp thời, sáng tạo đưa
Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng khá trong khu
vực và thế giới. Có được thành công trên là do NHNN đã sử dụng rất kịp thời,
đúng đắn, quyết liệt các công cụ CSTT phù hợp với từng điều kiện của nền kinh
tế trong từng thời kỳ. ‘‘Thắt chặt” khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát cao
giai đoạn 2007-2008, đầu 2011 và “nới lỏng” khi nền kinh tế rơi vào tình trạng
suy thoái bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu. Qua đây, chúng ta cũng thấy được
tầm quan trọng của việc xây dựng và thực thi CSTT đối với sự phát triển kinh tế
của quốc gia. Cũng qua thực tế nêu trên khẳng định thêm về mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và lạm phát, cũng như việc kết hợp CSTT với CSTK hợp lý
sẽ tạo được hiệu quả lan toả tốt hơn cho nền kinh tế.
Nguồn: Tổng cục thống kê
KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu chính sách tiền tệ quốc gia, chúng ta thấy rõ
được vai trò và ý nghĩa của nó trong nền kinh tế bởi chính sách tiền tệ là công cụ
điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước. Nên vị trí của chính sách tiền tệ hết sức
quan trọng.
Hoạch định một chính sách tiền tệ đòi hỏi cả một quá trình, sự linh hoạt và
sự thống nhất trong sự áp dụng trên thực tiễn trước bối cảnh kinh tế quốc tế hiện
nay.
Tiểu luận môn : Chính sách kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Vũ Ngọc Sang – Lớp Quản lý công K17c Nam Định
17
Bằng sự nổ lực hiện tại và trong tương lai, sự kế thừa và phát huy những
thành tựu của chính sách tiền tệ, chắc chắn chính sách tiền tệ Việt Nam sẽ đóng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status