báo cáo đánh giá hiện trạng và đề xuất phương hướng, các biện pháp đẩy mạnh sự phát triển ứng dụng robot ở việt nam - Pdf 25



ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG
VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG, CÁC BIỆN PHÁP
ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG ROBOT
Ở VIỆT NAM


3
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG
HƯỚNG, CÁC BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH SỰ PHÁT TRIỂN ỨNG
DỤNG ROBOT Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

Báo cáo đánh giá hiện trạng và đề xuất phƣơng hƣớng, các biên pháp
đẩy mạnh sự phát triển ứng dụng robot ở ta, gồm 4 nội dung sau:
1. Phân tích đánh giá hiện trạng
2. Nhu cầu và triển vọng
3. Phƣơng hƣớng phát triển ứng dụng robot ở Việt Nam
4. Các biện pháp khả thi
5. Đề xuất mô hình và biện pháp mang tính chất trọng điểm để thúc đẩy
hoạt động nghiên cứu và ứng dụng robot trong giai đoạn 2011 - 2015
Các nội dung 1, 2 và 5 đƣợc xây dựng chủ yếu trên cơ sở các báo cáo
chuyên đề kết quả khảo sát ở khu vực Phía Nam, ở khu vực Miền Trung (do
PGS.TS. Lê Hoài Quốc chủ trì) và ở khu vực Phía Bắc (do GS.TSKH.
Nguyễn Thiện Phúc chủ trì).
Các nội dung 3 và 4 do GS.TSKH. Nguyễn Thiện Phúc chủ biên.

5
các nƣớc có tiếp cận với nguồn cung cấp đã đặt quan hệ với trong nƣớc
nhằm phát triển các sản phẩm này.
o Nguồn cung cấp thứ ba là các đề tài/dự án nghiên cứu ứng dụng
khoa học, những sản phẩm đặt hàng cho các nhà khoa học kỹ thuật, các
đơn vị nghiên cứu, sản xuất trong nƣớc. Nhóm này rất đa dạng về chủng
loại, nhiệm vụ. Các đề tài nghiên cứu này có thể xuất phát từ yêu cầu
thực tế nhƣ robot crane cho Truyền hình Việt nam hay robot xếp kính
cho nhà máy của Viglacera hay các dạng robot an ninh. Có các đề tài
nghiên cứu công nghệ mới nhằm đón đầu phát triển hay cho đào tạo và
có những đề tài nhằm hỗ trợ, đẩy mạnh quá trình sản xuất, chế tạo robot
trong nƣớc nhƣ các sản phẩm của chƣơng trình robot hay tự động hóa
của thành phố Hồ Chí Minh bao gồm robot lấy sản phẩm nhựa, robot
hàn Đây chính là nguồn cung cấp chính các robot nội địa cho sản xuất,
hiện nay chƣa có một doanh nghiệp chế tạo cũng nhƣ lắp ráp robot cho
thị trƣờng trong nƣớc.
Qua khảo sát một số công ty ở khu vực miền Trung trong hầu hết các lĩnh
vực sản xuất, qua tìm hiểu các nhà cung cấp thiết bị cho công nghiệp, cũng
nhƣ thông qua các thông tin nhận đƣợc từ đồng nghiệp và các cán bộ kỹ thuật
ở các nhà máy sản xuất. Nhìn một cách tổng quát, ta có thể khẳng định rằng
hiện nay chƣa có một cơ sở sản xuất nào ở khu vực miền Trung đã ứng dụng
Robot công nghiệp trong sản xuất, chỉ riêng tại Nhà máy bia Dung Quốc -
Quảng Ngãi có sử dụng robot gắp chai tự động. Tuy nhiên, đứng về một khía
cạnh nào đó xem xét Robot nhƣ một tay máy điều khiển tự động, thì các tay
máy này đã ứng dụng nhiều trong các công đoạn của các lĩnh vực sản xuất
đặc biệt là các dây chuyền sản xuất sử dụng công nghệ PLC và CNC, nhƣng
mức độ linh hoạt của tay máy kiểu này còn thấp.
Hiện nay, hầu hết các cơ sở đào tạo Đại học và Cao đẳng đã đƣa Robot
công nghiệp vào giảng dạy. Trƣờng Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng đã
đƣa môn học Robot công nghiệp vào giảng dạy từ năm 1995, năm 2000 đã


7
Nguồn cung cấp thứ hai là sử dụng robot đã qua sử dụng thu gom từ
các nhà máy ở nƣớc ngoài. Ý tƣởng này xuất phát từ giá bán các robot đƣợc
thãi ra sau quá trình sử dụng ở các nƣớc phát triển rất thấp nhƣng còn có thể
sử dụng đƣợc sau khi tân trang, phục hồi. Một số Việt kiều ở các nƣớc có tiếp
cận với nguồn cung cấp đã đặt quan hệ với trong nƣớc nhằm phát triển các
sản phẩm này. Nếu các máy CNC đã qua sử dụng đƣợc chào đón và phát huy
tác dụng ở các doanh nghiệp chế tạo cơ khí vừa và nhỏ, các robot cũ đƣợc sử
dụng rất ít trong các doanh nghiệp. Có hai lý do để các robot đã qua sử dụng
này không đƣợc sử dụng phổ biến: thị trƣờng robot bé và chọn lọc hơn máy
công cụ; đội ngũ bảo dƣỡng, dịch vụ chƣa phát triển làm việc sử dụng chúng
kém hiệu quả. Có thể thấy đây là một nguồn cung cấp tiềm năng, cho phép
nâng cao hiệu quả sản xuất ở những ngành nghề mũi nhọn (nhƣ chúng ta đã
làm đƣợc với công nghệ khuôn mẫu) với giá thành thấp khi chúng ta khắc
phục yếu kém này bằng cách đầu tƣ, nâng cao năng lực của công nghệ robot
trong nƣớc. Việc sử dụng các robot đã qua sử dụng chính là tập dƣợt cho các
doanh nghiệp mạnh dạn đầu tƣ khi thấy đƣợc hiệu quả.
Nguồn cung cấp thứ ba là các đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học,
những sản phẩm đặt hàng cho các nhà khoa học kỹ thuật, các đơn vị nghiên
cứu, sản xuất trong nƣớc. Nhóm này rất đa dạng về chủng loại, nhiệm vụ. Các
đề tài nghiên cứu này có thể xuất phát từ yêu cầu thực tế nhƣ robot crane cho
Truyền hình Việt nam hay robot xếp kính cho nhà máy của Viglacera hay các
dạng robot an ninh. Có các đề tài nghiên cứu công nghệ mới nhằm đón đầu
phát triển hay cho đào tạo và có những đề tài nhằm hỗ trợ, đẩy mạnh quá trình
sản xuất, chế tạo robot trong nƣớc nhƣ các sản phẩm của chƣơng trình robot
hay tự động hóa của thành phố Hồ Chí Minh bao gồm robot lấy sản phẩm
nhựa, robot hàn Đây chính là nguồn cung cấp chính các robot nội địa cho
sản xuất, hiện nay chƣa có một doanh nghiệp chế tạo cũng nhƣ lắp ráp robot
cho thị trƣờng trong nƣớc. Các nhóm nghiên cứu này không có trang bị cũng

Nam. Công trình đã đoạt giải nhì Vifotec – 2004.

9
+ Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM)
đã bắt đầu xây dựng nhà máy ô tô hiện đại nhất Việt Nam tại Thanh Hoá với
vốn đầu tƣ lên đến 30 triệu USD.
+ Công ty cơ khí Cổ Loa có dây chuyền sản xuất và lắp ráp hộp số ô tô.
Dây chuyền có 8 nguyên công lắp ráp hộp số ô tô. Loại hộp số ô tô nặng
khoảng 85kg.
+ Năm 2007, công ty đóng tài Bạch Đằng đã khởi công xây dựng nhà
máy lắp ráp động cơ tàu thuỷ Mitsubishi đã lắp ráp 2 loại động cơ với kinh
phí khoảng 26 tỷ đồng VN.
+ Công ty Vikyno là công ty TNHH một thành viên Máy nông nghiệp
Miền Nam thuộc Tổng công ty Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM) là nơi
sản xuất và lắp ráp động cơ diesel công suất từ 5HP đến 3OHP theo công
nghệ của Kubota (Nhật Bản). Hiện nay đang sản xuất động cơ diesel RV165-
2 với kích cỡ 800 x 500 x480mm và nặng 135kg. Công ty này đang tiếp cận
một phƣơng thức tổ chức sản xuất tiên tiến FMS (Flexible Manufacturing
System)

PHÁC HỌA HÌNH ẢNH THỊ TRƯỜNG ROBOT VIỆT NAM

* Ứng dụng robot Công nghiệp ô tô (Automotive Industry)
- Các xí nghiệp sản xuất và lắp ráp
(Assembler and producer enterprise)
- Chế tạo phụ tùng ô tô (Automobile parts maker):

10 * Ứng dụng robot trong công nghiệp thực phẩm và nước giải khát (Food
and beverage industry)
Hình ảnh bên là phân xƣởng chiết chai tại nhà máy bia Hà Nội và ảnh
dƣới là robot bốc xếp chai

13

* Robot trong hệ thống thiết bị đào tạo Training equipment
Hình ảnh ở dƣới là phòng thí nghiệm CIM ở ĐHKT Thái Nguyên,
ĐHBK – HN và ĐHSP Kỹ thuật Hƣng Yên.

14 * Ứng dụng robot trong công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (Consumer
goods industry)

15

Phục hồi chi tiết máy bằng hàn

Phục hồi chi tiết lớn bằng phun phủ
Điều tra
thị trƣờng
Nguồn
nhân lực
Máy móc
thiết bị
Ngƣời sử dụng
khai thác
Nhập khẩu

Nguyên
vật liệu
Khuôn cối,
phụ tùng
Sản xuất
tại chỗ
Nghiên cứu
thiết kế, thử
nghiệm

Tiếp thị
phân phối

10
8
6
Bảo dƣỡng
1
1
-
Hoạt động xã hội
2
-
-
Đóng góp vào
ngâng sách quốc
gia
8
7
6
Lợi nhuận
10
8
5

Nhƣ thế, qua phân tích thị trƣờng xe máy ở ta, có thể đi đến các nhận
xét sau:
1. Công nghiệp sản xuất phụ tùng ở ta có vai trò quyết định đến ngành
công nghiệp xe máy nói chung. Nó chiếm đến khoảng 70% trong cơ
cấu giá thành. Công nghiệp này đều do các công ty trong nƣớc đảm
nhiệm. Các cơ quan nhà nƣớc lại không có chủ định nào trong việc tổ
chức, hỗ trợ cho hệ thống này phát huy sức mạnh cộng đồng, mà để họ



19
thì bƣớc tiến hiện này là “nhập linh kiện” để lắp ráp trong nƣớc là chủ
yếu. Ngoài những quyết sách về kinh doanh, cần có chiến lƣợc đầu tƣ
khoa học công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh trong lắp ráp phải
đƣợc đặt ra nhƣ một nhiệm vụ hàng đầu của công nghiệp xe máy ở
nƣớc ta.
3. Trong những năm tiếp theo để đáp ứng nhu cầu thƣờng xuyên và nâng
cao về phƣơng tiện giao thông tiêu biểu này Việt Nam cần làm chủ
công nghệ sản xuất xe máy hiện đai. Muốn thế cần đầu tƣ chiến lƣợc về
khoa học công nghệ cho các ngành kỹ thuật liên quan. Trong đó có vấn
đề về tự động hóa sản xuất, bao gồm việc tự động hóa kho tàng, vận
chuyển trong xƣởng sản xuất.
4. Các xí nghiệp sản xuất phụ tùng xe máy có mặt ở nhiều nơi trên đất
nƣớc, tuy chỉ ở quanh các khu vực có cơ sở lắp ráp xe máy và đều
chuyên môn hóa, nhƣng thực tế đã hình thành một hệ thống trong nƣớc
cung cấp phụ tùng cho các cơ sở lắp ráp xe máy. Hệ thống đó không
những có nhiệm vụ đảm bảo phụ tùng xe máy cho các cơ sở lắp ráp, mà
còn trách nhiệm hiện thực chủ trƣơng “nội địa hóa” là từng bƣớc làm
chủ công nghệ sản xuất xe máy. Vì thế vai trò tác động của nhà nƣớc,
trƣớc hết là của các cơ quan quản lý khoa học của nhà nƣớc nên thể
hiện sự chủ động có tính chiến lƣợc của mình.
5. Nên nhanh chóng hình thành trung tâm nghiên cứu và phát triển
(R&D) về xe máy. Đối với một công ty riêng lẻ thì có thể tổ chức ra
một trung tâm nhƣ thế là quá sức, nhƣng đối với cả hiệp hội xe máy thì
hết sức cần thiết và hoàn toàn khả thi, nếu tính tới việc huy động lực
lƣợng đông đảo cán bộ khoa học.
6. Trong số các lĩnh vực khoa học công nghệ có thể tác động hiệu quả cho
sự phát triển ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng xe mày là áp dụng
công nghệ tự động sản xuất linh họat. Trong đó có các nội dung quan

(theo kế hoạch năm 2008: 2,5 triệu chiếc
* Tăng cƣờng đầu tƣ của nƣớc ngoài trong các năm 2007 - 2009

21
- Honda: 60 triệu USD, mở rộng sản xuất lên mức 1,5 triệu chiếc/năm
- Yamaha: Đầu tƣ thêm nhà máy mới 45 triệu USD nâng mức sản
lƣợng lên 1 triệu chiếc/năm
- Piaggio: 30 triệu USD, xây dựng nhà máy 50.000 chiếc/năm, mức nội
địa hóa 50 – 60%.

Dây chuyền sản xuất Vespa LX 125

Công nghiệp phụ tùng xe máy Việt Nam
* Hợp tác với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đã hình thành và phát triển tốt ngành
công nghiệp sản xuất phụ tùng cho mô tô xe máy ở trong nƣớc
* Cung cấp 80 – 90% phụ tùng cho công nghiệp sản xuất lắp ráp mô tô xe
máy
* Xuất khẩu trong năm 2005 đạt mức 70 triệu USD

22
* Hình thành 3 nhóm công nghiệp phụ trợ xe máy:
- Nhóm kim khí: đáp ứng gần 100% yêu cầu trong nƣớc
- Nhóm chất dẻo – cao su: đáp ứng đủ 100% yêu cầu nội địa, ngoài ra
còn xuất khẩu
- Nhóm điện – điện tử: đáp ứng khoảng 60 – 70% nhu cầu trong nƣớc
và có một số mặt hàng xuất khẩu
Nhu cầu về robot trong công nghiệp xe máy (tính cho mức sản lƣợng
2,5 triệu xe máy/năm)
Công việc
Số robot cần có

dụng robot không phải chỉ để tiết kiệm chi phí lao động mà đã trở thành
phƣơng tiện rất hiệu quả để đạt thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trƣờng quốc

23
tế. Phƣơng tiện đó phải đƣợc ngành công nghiệp ô tô, xe máy nắm vững và
phát huy kịp thời.
Robot hàn khung xe

24 1.3. Đầu tư cho công nghiệp xe máy Việt Nam
* Yamaha:
Công ty Yamaha Motor Việt Nam đã tiến hành tổ chức lễ khởi công
xây dựng nhà máy sản xuất xe gắn máy số 2 tại khu công nghiệp Nội Bài, Hà
Nội.
Nhà máy mới này có tổng diện tích 15ha, với tổng vốn đầu tƣ
43.065.000 USD, thuộc dự án mở rộng của Công ty Yamaha Motor Việt
Nam. Nhà máy dự kiến đi vào hoạt động vào tháng 10 năm 2008 và khi đi vào
hoạt động sẽ nâng công suất sản xuất xe máy của Yamaha Việt Nam lên 1,5
triệu xe/năm (nhà máy hiện nay của Yamaha tại Trung Giã - Sóc Sơn ( Hà
Nội ) có công suất tối đa đạt 700.000 xe.

25

Nhà máy Yamaha Motor Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status