nghiên cứu quy trình sản xuất, chế biến, dữ trữ và sử dụng cỏ họ đậu (stylosanthes alfalfa) trong nuôi dưỡng bò sữa - Pdf 25

i

Tóm tắt đề tài

Nội dung 1: Trồng thử nghiệm giống cỏ đậu Stylô.184 để đánh gíá năng suất hạt và
năng suất chất xanh.
Thí nghiệm được tiến hành trồng giống cỏ đậu (Stylosanthes guianensis CIAT
184) tại 2 điểm Công ty Giống Bò sữa An Phú - Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh và
Công ty cổ phần Bò sữa An Phước - Long Thành, Đồng Nai. Thời gian từ tháng 7-
2008 đến tháng 3 năm 2010.

1. Thí nghiệm đánh giá năng suất chất xanh
1 giống cỏ và 3 chu kỳ thu họach (60 ngày; 75 ngày; 90 ngày), thí nghiệm được
lập lại 3 lần. Lượng hạt cỏ giống từ 10-12kg gieo cho một hecta. Lượng phân hữu cơ
là 15 tấn/ha và phân hóa học là 30kgN + 60kgP
2
O
5
+ 30kgK
2
O cho 1ha/lần thu cắt.
Cỏ đậu Stylô được thu cắt theo thời gian 60, 75, 90 ngày trong suốt thời gian thí
nghiệm tại 2 điểm trồng trong điều kiện mùa khô có tưới nước.
Kết quả cho thấy cỏ đậu Stylo.184 sinh trưởng và phát triển tốt, kết quả ảnh
hưởng của ba chu kỳ thu cắt 60, 75 và 90 ngày của cỏ Stylo.184 thí nghiệm năng suất
cho thấy năng suất bình quân chung tại 2 điểm trồng về chất xanh, chất khô kể cả
năng suất đạm thô thu cắt ở chu kỳ 90 ngày luôn cao hơn so với thu cắt chu kỳ 60 và
75 ngày, nhưng xét về mặt thành phần hóa học trong cỏ Stylo.184 thì hàm lượng
protein thô giảm, xơ thô tăng cao không thể so với chu kỳ thu cắt 60 và 75 ngày. Giá
thành cho 1 kg cỏ tươi giữa các chu kỳ thu cắt khác nhau cũng không chênh lệch nhau
từ 610-635 đồng.

phố Hồ Chí Minh. Triển khai trồng thuần giống cỏ đậu Stylô.184 cho thu hoạch để
làm nguồn nguyên liệu dự trữ để sử dụng thức ăn cho bò sữa. Diện tích gieo trồng 2
hecta. Cỏ đậu được gieo trồng vào tháng 7-8 năm 2009 và thu cắt 75 ngày/lần cắt.
Lượng phân hữu cơ 10 tấn/ha và phân hóa học là 30N + 60P
2
O
5
+ 30K
2
O cho 1ha/lần
thu cắt. Khi cỏ đậu đến kỳ cắt và được phơi khô 3-4 ngày, vận chuyển về kho và ép
đóng kiện, mỗi kiện cỏ đậu khô có trọng lượng từ 20-25kg, kích thước kiện
(60x40x40)cm do máy ép cỏ khô hiệu ER 01/03 của nhà máy Z.755 độc quyền sản
xuất, công suất từ 6-8 tấn cỏ khô/ngày ép. Theo dõi các chỉ tiêu: tỉ lệ rụng lá, độ ẩm
và vật chất khô trong cỏ qua thời gian thu cắt, kiểm tra bằng cãm quan chất lượng cỏ
khô qua thang điểm từ 0- 130 điểm, phân tích thành phần hóa học qua lấy mẫu phân
tích cỏ khô theo thời gian bảo quản 30,60,90 ngày, hiệu quả kinh tế trong quá trình
xây dựng quy trình sản xuất, chế biến, dự trữ và sử dụng cỏ họ đậu trong nuôi dưỡng
bò sữa.
Kết quả cho thấy khi cây cỏ được thu cắt, cho đến khi độ ẩm của cỏ giảm xuống
dưới 40%, vật chất khô thất thoát do việc đảo và thu gom cỏ, lá bị rơi rụng trong quá
trình phơi khô khi độ ẩm dưới 15%, số lượng lá là một trong những yếu tố vật lý quan
trọng dùng để xác định cấp độ của cỏ khô. Thời tiết ẩm ướt cũng có thể gây ra một sự
chậm trễ trong thu hoạch, vụ thu cắt làm cỏ khô bị quá hạn, cỏ đậu sẽ tăng cao chất
xơ, protein thô và các chất carbohydrates hòa tan bị giảm trong cỏ khô trước khi đóng
kiện. Với sự mất mát của các loại đường thực vật, tỷ lệ chất xơ (NDF và ADF) tăng
lên, và làm giảm tỷ lệ tiêu hóa của cỏ khô. Thời gian để đóng kiện cho cỏ khô chủ yếu
dựa vào độ ẩm của cỏ khô, để đóng kiện cỏ Stylo khi độ ẩm từ 15-20%. Đóng kiện ở
độ ẩm thấp hơn 13-14% sẽ dẫn đến tỷ lệ rụng lá quá nhiều, trong khi đóng kiện ở độ
ẩm cao 25-30% có thể dẫn đến hỏng cỏ do mốc và nhiệt. Đóng kiện cho cỏ đậu Stylo

10; 20 và 30%. Kết quả có thể thay thế 20% cám hỗn hợp trong khẩu phần ăn hàng
ngày của bò sữa bằng cỏ đậu khô Stylô không làm giảm sản lượng, chất lượng sữa của
bò nhưng đã làm giảm 4,6% giá thành sản xuất 1 kg sữa từ đó làm tăng hiệu quả kinh
tế cho chăn nuôi bò sữa. Nếu thay thế 30% cám hỗn hợp bằng cỏ đậu khô Stylô tuy đã
làm giảm 6,4% giá thành sản xuất 1 kg sữa nhưng nó lại làm giảm 3,1% sản lượng
sữa của bò so với khẩu phần không thay thế.


2. Experiment for evaluation seed production
The experimental design was 2 sowing distances (50x0) cm and (60x0) cm) in
randomized complete block with 3 replications. Seeding rate was 10-12kg/ha for
Stylo.184. The amount of organic and inorganic fertilizer per hecta for one crop was
15 tons and 50kgN+100kgP
2
O
5
+60kgK
2
O, respectively. Seed were collected three
times at 140, 160 and 180 days to determine the best harvest time for 2 different
areases.
The result indicated that average seed yields of S. guianensis CIAT 184 at
sowing distances (50x0) and (60x0)cm were similar (199.43kg/ha and 207.07kg/ha,
respectively). Seed havest of Stylo.184 variety did at 140-160 days gave the highest
yield (223.7kg/ha) for both experimental areas. The havested seed at 120-140 and
160-180 days have undergone quite a loss by unmatured seed (120-140 days) and
overripen seed (160-180 days). Production cost for 1 kg of Stylo.184 seed was
236.000-245.000VNĐ and can be accepted by the farmer for growing seed production.
v

Content 2. Studying on the process to make the hay bale in Vietnam condition.

the hay decreases. The recommended time for hay baling is based primarily on
moisture content of the hay. It is recommended to bale alfalfa when moisture is
between 18 and 20%. Baling at lower moisture will result in excessive leaf loss, while
baling at higher moisture (25-30%) may result in spoilage form mold and heat. The
square bale (20-25 kg) is recommended for Stylo hay baling to avoid moisture
increasing and mold in storage.
The sun-dried Stylo.184 hay has 89-90% dry matter, during field drying crude
protein content lower than at harvest was 9-10%, the ratio of fibers increase with a
corresponding in ADF, NDF is 35-36%, mineral composition of substances such as,
Ca, P is non variant. Stage of press haymaking to stage of storage 90 days, crude
protein content varies 17-18%, crude fiber content is not increased high 12-15% (ADF
and NNF, respectively). Ash total decreased 17-18%, 15-17% calcium, phosphorus
reduction higher about 20-21%. The production cost for 1 kg hay bale of Stylo.184 is
3500 VND, lower than the imported hay bale (7000VND/kg). At present, the Stylo hay
was sold for 4500-5000VND/kg. It is profitable for a hay producer.
vi

Content 3. Trials of use Stylo.184 hay bale in diets for dairy cows.

To evaluate the using ability of forage legumes in diets for dairy cows, one
factor experiment was carried out with randomly complete block design on 32 dairy
cows 7/8 HF (8 cows/treatment x 4 treatments), litter 2 and 3. The milk production of
first 3 months of lactation was over 18 liters/cow/day. Cows are kept in individual
case and considered as a replication. Experimental period started one month before
calving. Cows among treatments were ensured uniformity of the breed, milk yield,
litter size, weight and feeding conditions. The 3 months stored Stylo.184 bale with
good quality was used to replace complete feed in diets for dairy cows at the rate of 0,
vii

MỤC LỤC
Trang
Tóm tắt đề tài (tiếng việt)…………………………………………………………………… i
Tóm tắt đề tài (tiếng anh)…………………………………………………………………… iv
Mục lục……………………………………………………………………………………….vii
Danh sách các chữ viết tắt x
Danh sách các bảng x
Danh sách các hình xii
Phần mở đầu…………………………………………………………………………………xiii

I. Chương I. Tổng quan tài liệu 1

II. Chương II. Nội dung và phương pháp 9

2.1. Nội dung 1: Trồng thử nghiệm giống cỏ đậu Stylo để đánh giá năng suất chất xanh và
năng suất hạt 9
2.1.1 Thí nghiệm 1: Thí nghiệm cho năng suất chất xanh 9
a. Đối tượng thí nghiệm ………………………………………………………………………9
b. Đặc điểm 2 nơi thí nghiệm 9
c. Bố trí thí nghiệm 10
d. Phương pháp nghiên cứu 11
e. Các chỉ tiêu theo dõi 12
f. Sản phẩm nội dung cần đạt 12

2.3.6 Chỉ tiêu thí nghiệm…………………………………………………………………… 19

2.4. Nội dung 4: Chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiển sản xuất………………… 19

III. Chương III. Kết quả và thảo luận…………………………………………………… 21
Nhận xét về cỏ đậu Alfalfa……………………………………………………………………21
3.1 Nội dung1: Thí nghiệm 1:……………………………………………………………….22
3.1.1a Ảnh hưởng của chu kỳ thu cắt đến năng suất cỏ Stylo.184 bình quân tại hai điểm thí
nghiệm (XNBS. Long thành và An Phú-Củ Chi)…………………………………………… 22
3.1.1b Ảnh hưởng của chu kỳ thu cắt đến thành phần hóa học cỏ Stylo.184 bình quân tại hai
điểm thí nghiệm (XNBS. Long thành và An Phú-Củ Chi)………………………………… 29
3.1.1c Ảnh hưởng của chu kỳ thu cắt đến giá thành sản suất 1kg tươi cỏ đậu Stylo CIAT 184
bình quân tại hai điểm thí nghiệm……………………………………………………………37

3.1 Nội dung1: Thí ngiệm 2
3.1.2a Đặc điểm thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cỏ đậu Stylo CIAT 184…………… 38
3.1.2b Đặc điểm thời kỳ phát dục cho năng suất và chất lượng hạt giống cỏ Stylo.184…….40
3.1.2c Ảnh hưởng của khoảng cách gieo hạt đến năng suất cho hạt của giống cỏ Stylo.184 tại
XNBS. Long Thành- Đồng Nai và An phú- Củ Chi………………………………………… 42
3.1.2d Ảnh hưởng của thời gian thu hạt đến năng suất hạt giống cỏ đậu Stylo.184 tại XNBS.
Long Thành- Đồng Nai và An phú- Củ Chi. …………………………………………………43
3.2.2e Ảnh hưởng của khoảng cách gieo hạt đến giá thành 1kg hạt giống cỏ đậu Stylo.184 tại
XNBS. Lonh Thành- Đồng Nai và An phú- Củ Chi………………………………………… 44

3.2 Nội dung 2
3.2.1 Đánh giá cỏ sau khi thu hoạch và qua các thời gian phơi khô cỏ đậu Stylo ………… 46
3.2.2 Kiểm tra cỏ đậu khô bằng trực quan ………………………………………………… 48
ix

3.2.3 Đánh giá thành phần hóa học của cỏ đậu Stylo sau khi ép đóng kiện qua các thời kỳ bảo

x

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt
Thuật ngữ tiếng Việt
Ash
Khoáng tổng số (K.Tổng số)
CF
Xơ thô (Crude fiber)
CP
Protein thô (Crude protein)
EE
Béo thô (Ether Extract)
DM
VCK: Vật chất khô (Dry matter)
Ca
Calcium
P
Phosphorus
ADF
xi

DANH SÁCH BẢNG
SỐ
TÊN BẢNG SỐ LIỆU
TRANG
Bảng 1a
Chiều cao bình quân của các chu kỳ thu cắt cỏ đậu Stylo. Ciat
184 trồng tại XNCN. Bò sữa Long Thành và Củ Chi
22
Bảng 1b
Chiều cao bình quân các chu kỳ thu cắt cỏ đậu Stylo. Ciat 184
theo mùa trong năm và nơi trồng
23
Bảng 2a
Năng suất chất xanh bình quân của các chu kỳ thu cắt cỏ đậu
Stylo. Ciat 184 trồng tại XNCN. Bò sữa Long Thành và Củ
Chi
24
Bảng 2b
Năng suất chất xanh bình quân các chu kỳ thu cắt cỏ đậu Stylo.
Ciat 184 theo mùa trong năm và nơi trồng
25
Bảng 3a
Năng suất chất khô bình quân của các chu kỳ thu cắt cỏ đậu
Stylo. Ciat 184 trồng tại XNCN. Bò sữa Long Thành và Củ
Chi
26

Bảng 7a
Xơ thô bình quân của các chu kỳ thu cắt cỏ đậu Stylo. Ciat 184
trồng tại XNCN. Bò sữa Long Thành và Củ Chi
32
Bảng 7b
Xơ thô bình quân các chu kỳ thu cắt cỏ đậu Stylo.Ciat 184
theo mùa trong năm và nơi trồng
33
Bảng 8a
Béo thô bình quân của các chu kỳ thu cắt cỏ đậu Stylo.Ciat
184 trồng tại XNCN. Bò sữa Long Thành và Củ Chi
34
Bảng 8b
Béo thô bình quân các chu kỳ thu cắt cỏ đậu Stylo.Ciat 184
theo mùa trong năm và nơi trồng
34
Bảng 9a
Khoáng tổng số bình quân của các chu kỳ thu cắt cỏ đậu
Stylo.Ciat 184 trồng tại XNCN. Bò sữa Long Thành và Củ Chi
35
Bảng 9b
Khoáng tổng số bình quân các chu kỳ thu cắt cỏ đậu Stylo.Ciat
184 theo mùa trong năm và nơi trồng
36
Bảng 10
Ảnh hưởng của chu kỳ thu cắt đến giá thành sản suất 1kg cỏ
của cỏ đậu Stylo.184
37
Bảng 11
Đặc tính sinh trưởng phát triển của cỏ đậu Stylo CIAT 184

khác nhau
51
Bảng 19.
Giá thành sản suất 1kg cỏ đậu Stylo CIAT 184 ép bành.

53
Bảng 20.
Thành phần dinh dưỡng của các nguyên liệu dùng cho thí
nghiệm
54
Bảng 21.
Khối lượng các chất dinh dưỡng thu nhận hàng ngày của bò thí
nghiệm
55
Bảng 22.
Các chỉ tiêu về năng suất sữa và chi phí thức ăn cho sản xuất
sữa của bò thí nghiệm.
56
Bảng 23.
Các chỉ tiêu về chất lượng sữa của bò thí nghiệm

58
Bảng 24
Điểm đánh giá thể trạng bò khi bắt đầu và kết thúc thí nghiệm

58
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ, HÌNH

2. Chủ nhiệm đề tài: Ths. Lê Hà Châu
3. Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
4. Thời gian thực hiện đề tài: 3 năm (từ 12/2007 đến 12/2010)
5. Kinh phí được duyệt: 481.000.000 đồng
Kinh phí đã cấp đợt 1: 250.000.000 đồng theo TB số: 262/TB-SKHCN
ngày 04/12/2007
Kinh phí đã cấp đợt 2: 183.000.000 đồng theo TB số: 119/TB-SKHCN
ngày 15/06/2009
6. Kinh phí được cấp: 433.000.000 đồng
7. Mục tiêu: (Theo đề cương đã duyệt)
1. Sản xuất, chế biến, dự trữ cỏ họ đậu khô trong thời gian 3 tháng để sử dụng
trong khẩu phần bò sữa cao sản.
2. Nâng cao gía trị dinh dưỡng khẩu phần và cải thiện năng suất sữa.
8. Nội dung nghiên cứu: (Theo đề cương đã duyệt)
1. ND1: Tuyển chọn và trồng thử nghiệm giống cỏ đậu Stylô và Alfafa để
đánh gíá năng suất hạt và năng suất chất xanh.
2. ND2: Xây dựng quy trình ép đóng kiện cỏ đậu khô phù hợp với điều kiện
sản xuất trong nước.
3. ND3: Thử nghiệm sử dụng của cỏ đậu khô Stylô/alfalfa đóng kiện trong
khẩu phần chăn nuôi bò vắt sữa.
4. ND 4 : Chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiển sản xuất
9. Sản phẩm của đề tài
TT
Tên sản phẩm
Yêu cầu khoa học đạt được
(tiêu chuẩn chất lượng)
Ghi chú
1
Báo cáo phân tích
Trung thực, độ tin cậy cao với số liệu

giai đoạn 2006 - 2010, tập trung chỉ đạo, đề xuất kịp thời các giải pháp, giúp cho
người chăn nuôi bò sữa yên tâm sản xuất, tiếp tục phát triển ổn định.
Muốn Phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ có hiệu quả kinh tế cao cần phát huy
tiềm năng và thế mạnh các vùng sinh thái của các địa phương trong cả nước, sử dụng
hợp lý nguồn thức ăn thô xanh để phát triển chăn nuôi bền vững. Để chủ động được
nguồn nguyên liệu, tháo gỡ khó khăn, nâng cao hiệu suất sử dụng thức ăn chăn nuôi sẽ
góp phần đảm bảo thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm
2020, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đạt trên 42%, với sản lượng thịt xẻ các loại
là 5.500 ngàn tấn, trong đó thịt lợn chiếm 63%, thịt gia cầm 32%, thịt bò 4%. Theo
ông Hoàng Kim Giao, Cục trưởng Cục Chăn Nuôi; trước mắt, Cục sẽ tập trung vào các
giải pháp cụ thể nhằm tạo nguồn thức ăn giàu năng lượng như cám, gạo, ngô; thức ăn
thô xanh thông qua việc xây dựng những vùng nguyên liệu tập trung, chuyên canh,
phát triển các mô hình tận dụng phụ phẩm nông nghiệp (khoảng 60 triệu tấn/năm ) để
bổ sung nguồn thức ăn (Hội nghị đẩy mạnh sản xuất, chế biến, bảo quản thức ăn thô
xanh phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ tháng 7 năm 2007 tại Tỉnh Lâm Đồng).
Theo chương trình mục tiêu phát triển bò sữa TP.HCM giai đoạn 2006-2010
được Phó chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Hữu Tín ký ban hành, đàn bò sữa sẽ được
nâng lên 80.000 con (khoảng 50.000 con, với khoảng 40.000 con cái vắt sữa, trong đó
15.000 con có năng suất sữa đạt bình quân 7.000kg/con/chu kỳ), chiếm hơn 2/3 tổng
đàn bò sữa cả nước. Bình quân mỗi ngày cần khoảng 2.400 tấn cỏ tươi (30
kg/con/ngày) mới đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn thô xanh cho toàn đàn.
2

Theo thống kê, diện tích cỏ trồng tăng 47,07%/năm (giai đoạn 2001-2006)
nhưng sản lượng chỉ đạt 6790 tấn, trong khi nhu cầu của đàn gia súc là 112.890 tấn,
tức còn thiếu 106.100 tấn. Cỏ trồng ở các quận huyện chủ yếu là cỏ voi, lượng cỏ giàu
đạm như cỏ họ đậu, cỏ hỗn hợp còn rất ít. Nguồn thức ăn phụ phẩm công, nông nghiệp
tuy dồi dào (57.320.480 tấn các loại) nhưng khả năng tận dụng làm thức ăn chăn nuôi
chỉ khoảng 36,5%. Một trong những nguyên nhân chính là do nguồn thức ăn thô xanh
không đáp ứng đủ số lượng và chất lượng so với nhu cầu thực tế cho đàn bò sữa của

cỏ tự nhiên ngày càng bị co hẹp, đất sử dụng để trồng cỏ thâm canh cho bò sữa trong
các nông hộ còn hạn chế (không quá 1000m
2
) do tốc độ đô thị hóa tăng nhanh; cỏ tự
nhiên ngày càng khan hiếm, chất lượng ngày càng giảm đặc biệt là vào những tháng
mùa khô thiếu cỏ. Giá các loại thức ăn hỗn hợp, thức ăn thô xanh, các loại phụ phế
phẩm không ổn định luôn trong tình trạng tăng cao kể cả chi phí vận chuyển. Nguyên
liệu thức ăn còn lệ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất,
giá thành nông sản.
1.1.2 Vấn đề nghiên cứu cây thức ăn xanh
Các giống cỏ, cây thức ăn gia súc (cây TĂGS) đã được chọn lọc từ lâu nhưng
khả năng cho sinh khối tối đa của chúng trên các vùng sinh thái khác nhau chưa xác
định được vì hầu hết việc nghiên cứu chọn lọc giống còn phân tán, gián đoạn và mới
chỉ được tập trung vào hướng tạo sinh khối mà thực sự là chưa có hướng thâm canh
tăng năng suất cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, sự gắn kết giữa việc tạo
nguồn nguyên liệu và chế biến sản phẩm cỏ xanh, cũng như tận thu sản phẩm cỏ xanh
dư thừa trong mùa mưa là tình trạng phổ biến hiện nay của hầu hết các cơ sở chăn
nuôi. Một đặc thù nữa là chúng ta vẫn chưa xác định được bộ giống cỏ đậu làm cây
TĂGS sinh trưởng và phát triển thuận lợi cho mỗi vùng sinh thái nhằm giải quyết đủ
nguồn thức ăn thô xanh giàu đạm cho chăn nuôi gia súc nhai lại trong mùa giai đoạn
mùa khô.
Trong những năm 1975-1995, Viện Chăn Nuôi Quốc Gia, Viện Khoa học Nông
nghiệp miền Nam cũng như Trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức đã tiếp nhận trên
hằng trăm giống cỏ và cây thức ăn được nhập từ Cu ba, Colombia, Úc và tiến hành
trồng thí nghiệm ở một số địa phương. Một số giống cỏ có triển vọng đã được đưa vào
4

sản suất như : cỏ voi Kinggrass (Pennisetum purpureum), cỏ thảo Pangola (Digitaria
decumbens), cỏ thảo Ruzi (Brachiaria ruzisinensis), cỏ thảo Ghinê (Panicum
maximum cv TD58), cỏ đậu Stylô (Stylosanthes.spp)

lai; đặc biệt là những nước nhiệt đới như: Ấn độ, Hawai, Braxin, Mêhicô vấn đề về
cây thức ăn xanh giàu đạm nầy, chúng ta cần quan tâm chú trọng trong những năm tới.
Cỏ Stylô đã nhập vào nước ta từ những năm 1956 –1975, được đánh giá là cây
cỏ đậu có tiềm năng nhưng chủ yếu trồng để phủ đất làm phân xanh, chống xói mòn;
còn các thử nghiệm trồng cỏ đậu Stylô và Alfalfa nhằm mục đích sản xuất hạt giống
và làm nguồn thức ăn bổ sung đạm trong khẩu phần thức ăn cho gia súc chưa được
nghiên cứu nhiều. Ở nước ta, năng suất chất xanh của Stylô trung bình hằng năm là
50-60 tấn/ha. Mỗi năm có thể thu hoạch được ba lứa, mùa thu hoạch chất xanh chủ yếu
tập trung vào vụ hè thu. Ở miền Bắc, cỏ Stylosanthes gracilis (S. gracilis) trồng thí
nghiệm ở Hà Sơn Bình trên đất latêrít nghèo, chua, dốc 3-5 độ và gieo tháng 2/1970,
cho năng suất 71-114 tấn/ha/năm. Ở Hà Bắc cũng như ở Ba Vì, cỏ S.gracilis trồng
không thâm canh cũng cho năng suất trung bình 40tấn/ha/năm chất xanh (Dương Hữu
Thời, 1982).
Cỏ Stylô (Stylosanthes.gracilis) cũng đã được gieo trồng thí nghiệm ở một số
trạm trại và nông trường quốc doanh (1975 – 2005): Nông trường Bò sữa An Phú Củ
Chi, Bò sữa Lâm Đồng, Trung Tâm Trâu sữa và Đồng cỏ Sông bé, Xí nghiệp bò sữa
An Phước Đồng nai…trên nền đất xám miền Đông Nam Bộ nghèo đạm và mùn thì cỏ
Stylô thể hiện nhiều tính năng sản xuất tốt, tốc độ sinh trưởng nhanh, Viện nghiên cứu
cao su Việt Nam trồng ở Long Khánh, cỏ Stylo.gracilis phát triển rất tốt và cho sản
lượng hạt khá cao, trồng ở An Lộc, Viện này đạt năng suất của ba lần cắt là 63,8
tấn/ha/năm. Ngoài ra, cỏ Stylo.gracilis trên đất xám ở Thủ Đức sau 150 ngày tuổi đã
phủ đất và cho năng suất từ 9-11,3 tấn/ha. Cỏ Stylo.gracilis cho năng suất 36
tấn/ha/năm chất xanh, bằng 9 tấn/ha bột cỏ. Cỏ Stylo. humilis cho năng suất chất xanh
năm 32 tấn/ha, bằng 8 tấn/ha bột cỏ, prôtêin thô đạt 1,35 tấn/ha/năm cho 3lần thu cắt
và năng suất hạt giống hữu hiệu của stylô là 145-180kg, qua đó cho thấy 1 hecta cỏ
đậu Stylô có thể cung cấp bổ sung cho 5-6 con bò sữa (Dương thanh Liêm 1980).

6

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ấn Độ hằng năm sản xuất hơn 1000 tấn hạt giống các loại. Theo D.B. Coates, C.P.
Miller và cộng sự (1997) cho biết rằng đồng cỏ tự nhiên là nguồn thức ăn chính cho bò
thịt ở miền bắc nước Úc. Trên cơ sở kỹ thuật sử dụng đồng cỏ họ đậu từ các giống cỏ
Stylosanthes, tăng trọng hằng năm của bò thịt gặm cỏ đậu phối hợp cùng cỏ trồng so
với cỏ tự nhiên thông thường từ 30-60kg/đầu con.
Tình trạng phát triển Stylosanthes spp. trong những nước khác như tại Nam Mỹ,
J.W. Miles and C.E. Lascano (1997) vào những năm 1960 Brazil cũng đã tập hợp,
đánh giá tuyển chọn các dòng Stylô và trãi qua 25 năm qua với sự tham gia với nhiều
cơ quan trong và ngoài nước trợ giúp nhằm sử dụng những giống cỏ đậu nhiệt đới quí
giá này.Về mặt năng suất chất xanh, kết quả nghiên cứu của các trại thí nghiệm ở hầu
hết các nước đã có trồng Stylô đều kết luận rằng: Mỗi lần thu cắt, bình quân có thể thu
được 35-40 tấn/ha chất xanh, tính ra được 8 tấn – 10 tấn cỏ khô (7- 8 tấn vật chất khô);
cứ 1kg chất khô có giá trị bằng 0,545 đơn vị thức ăn ở Brazil.
Năm 1976, L. Guodao, C. Phaikaew and W.W. Stür (1997) những gíống cỏ
đậu Stylosanthes spp. được giới thiệu, phát triển đến những vùng nhiệt đới nóng ẩm
như Trung quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan. Philippines. Tại Malaysia, năng suất
trung bình 2 năm của cỏ Stylo. gracilis là 50-65 tấn/ha/năm chất xanh, tương đương
với 9,5- 14,5 tấn/ha chất khô.
Năng xuất chất xanh thu được thay đổi tuỳ theo đất trồng tốt hay xấu như ở
Gabong (Phi châu) người ta thu được mỗi đợt cắt 25 tấn/ha/năm chất xanh và 68
tấn/ha/năm nơi có mưa nhiều như ở bờ biển Ngà (Phi Châu). Ở Camơrun và
Rêuyniông với hai lần cắt, năng suất chất xanh thu được là 40 tấn/ha/năm, còn ở
Xadamăng (Tây Phi), năng suất chất xanh là 60 tấn/ha/năm (Nguyễn Đăng Khôi,
1979)
Gần đây, S.guianensis Ciat 184 đã tăng mật độ trồng tại các nước Đông nam Á
bởi vì giống cỏ nầy dễ thích nghi, tiềm năng sử dụng rất đa dạng và cho năng suất sản
xuất cao trên đất acid nghèo dinh dưỡng, triển vọng cho sự gia tăng sử dụng của giống
cỏ đậu S.guianensis.Ciat 184 được hoàn hảo đặc biệt trên các hệ thống canh tác chăn
nuôi nông hộ.
8

9

Chương II. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung 1:
Trồng thử nghiệm giống cỏ đậu Stylô và Alfafa để đánh gíá năng suất hạt và
năng suất chất xanh.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 04/2008 đến 04/2010.
Tên các thí nghiệm
 Thí nghiệm 1: Khảo sát năng suất chất xanh và chất khô của cây cỏ họ đậu
Stylô/Alfalfa với những chu kỳ cắt khác nhau theo định kỳ 60, 75 và 90 ngày.
 Thí nghiệm 2: Khảo sát khả năng thu hạt cho năng suất hạt cao của cây cỏ họ đậu
Stylô/Alfalfa với khoảng cách trồng và các thời gian thu hoạch hạt khác nhau.
2.1.1 Thí nghiệm 1: Thí nghiệm cho năng suất chất xanh
a. Đối tượng thí nghiệm
Các giống cỏ đậu được lựa chọn và được tuyển nhập từ Công ty Southedge
Seeds (Australia) do Công ty TNHH Khuyến Nông và Phòng nghiên cứu Đồng cỏ
thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia nhập nội vào Việt nam
- Stylosanthes guianensis CIAT 184
- Alfalfa (Medicago sativa L.)
b. Đặc điểm 2 nơi thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành 2 điểm tại Công ty Giống Bò sữa An Phú - Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty cổ phần Bò sữa An Phước - Long Thành, Đồng
Nai.
Đặc điểm địa hình Long Thành và Củ Chi có địa hình trung du chuyển từ cao
nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ. Nhìn chung địa hình tương đối bằng
phẳng, có 82% đất có độ dốc <5
0
- 8
0

0
C. Giờ nắng trung bình Củ Chi (TPHCM) trong năm cao: 2.000-
2.200 giờ (6-7giờ/ ngày), độ ẩm không khí trung bình năm tại khu vực là : 79,5%, độ
ẩm không khí cao nhất 86,0%, lượng mưa trung bình năm 1.935mm, lượng mưa năm
cao nhất 2.729,5mm (năm 2000) và lượng mưa năm nhỏ nhất 1321,0mm(năm 2002).
+Long Thành và Củ Chi có 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô; mùa mưa từ
tháng 05 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04, thời tiết nắng, nóng, độ ẩm
thấp, có khi xuống dưới 70%, trong thời gian mùa khô hầu như lượng mưa không đáng
kể. Giờ nắng vào mùa khô rất cao: 250-270 giờ/tháng (8-9 giờ/ngày), giờ nắng vào
mùa mưa: 150-180 giờ/tháng (5-6giờ/ngày). Gió và hướng gió chủ đạo là hướng Đông
Nam vào mùa mưa và hướng Đông Bắc vào mùa khô.
c. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm tiến hành bao gồm 2 yếu tố: 2 giống và 3 chu kỳ thu họach (60
ngày; 75 ngày; 90 ngày), thí nghiệm được lập lại 3 lần, mỗi nghiệm thức thí nghiệm
250m
2
: [(2 x 3 x 3) x 2 ] x 250m
2
, diện tích cho 1 điểm thí nghiệm là 4500 m
2
và tổng
diện tích thực hiện là 9000m
2
cho 2 địa điểm khác nhau.
11

d. Phương pháp nghiên cứu
Đất trồng sau quá trình chuẩn bị đất và bón lót phân hữu cơ hoàn chỉnh, sau đó
đất được rạch thành hàng (50 x 0)cm và hạt giống cỏ đậu sẽ được gieo theo hàng đã
rạch, lượng hạt gieo cho Stylô là 12kg/ha và Alfalfa là 10kg/ha cho thu cắt chất xanh.

đặt ngầm dưới diện tích đất được trồng cỏ đậu và được tưới phun bằng các đầu vòi
phun tự động và đồng cỏ được tưới suốt theo định kỳ 1 tuần 2 lần trong mùa khô và
12

mùa mưa thì tùy theo điều kiện thời tiết nắng hạn kéo dài, đồng cỏ đậu vẫn được cung
cấp nước khi có yêu cầu.
e. Các chỉ tiêu theo dõi:
- Chiều cao của cây cỏ đậu Stylo/ Alfalfa thích hợp cho chất xanh cao theo các
chu kỳ thu cắt khác nhau.
- Năng suất chất xanh, năng suất vật chất khô và năng suất Protein thô cho mỗi
lần thu cắt định kỳ 60, 75, 90 ngày .
- Thành phần hóa học của cây: Vật chất khô, hàm lượng đạm tổng số, xơ thô,
béo, khoáng tổng số của thân lá tươi qua các chu kỳ thu hoạch khác nhau.
- Thành phần hóa học của đất trồng cỏ đậu trước và sau trồng sau 2 năm.
- Hiệu quả kinh tế qua các chu kỳ thu cắt khác nhau.
- Thí nghiệm được theo dõi và đánh giá năng suất chất xanh trong thời gian 2
năm.
f. Sản phẩm nội dung cần đạt
Kết quả khảo sát để đánh giá khả năng cho chất xanh liên tục đạt trên 70
tấn/ha/năm và rút ra kết quả chu kỳ thu cắt thích hợp cho năng suất xanh và hàm lượng
chất dinh dưỡng cao nhất cho việc phơi khô, dự trữ cỏ đậu khô.
2.1.2 Thí nghiệm 2: Thí nghiệm cho năng suất hạt
a. Đối tượng thí nghiệm
- Stylosanthes guianensis CIAT 184 (Stylo.184) được tuyển nhập từ Công ty
Southedge Seeds (Australia) do Công ty TNHH Khuyến Nông.
- Alfalfa (Medicago sativa L.) do phòng nghiên cứu Đồng cỏ thuộc Viện Chăn nuôi
Quốc gia nhập nội vào Việt nam.
b. Đặc điểm 2 nơi thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành 2 điểm tại Công ty Giống Bò sữa An Phú - Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty cổ phần Bò sữa An Phước - Long Thành, Đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status