nghiên cứu quy trình sản xuất chế phẩm probiotic nhằm bổ sung vào thức ăn cho tôm hùm nuôi lồng - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN VŨ ĐÌNH NGUYÊN NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH SẢN XUẤT CHẾ PHẨM
PROBIOTIC NHẰM BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN CHO
TÔM HÙM NUÔI LỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Nha Trang - 2013



Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa từng
đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào.

Tác giả luận văn
Trần Vũ Đình Nguyên

LỜI CAM ĐOAN………………………. i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHƢ̃ VIẾ T TẮ T vi
DANH MỤ C BẢ NG vii
DANH MỤC HÌNH viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 4
1.1. Giới thiệu về probiotic và vi khuẩn Bacillus 4
1.1.1. Giới thiệu về probiotic 4
1.1.2. Cơ sở khoa học của công nghệ probiotic 5
1.1.2.1. Hệ vi sinh vật đƣờng ruột và tác dụng của hệ vi sinh vật đến sức khỏe của
vật chủ. 5
1.1.2.2. Cơ chế hoạt động của probiotic 6
1.1.3. Phân loại probiotic 8
1.1.4. Probiotic từ vi khuẩn Bacillus 9
1.2. Ứng dụng chế phẩm probiotic trong nuôi tôm hùm và nuôi trồng thủy sản 10
1.2.1 Tôm hùm 10
1.2.2. Tình hình sản xuất thức ăn và phòng trừ dịch bệnh ở tôm hùm 12
1.2.3. Bệnh Vibriosis đối với tôm hùm và động vật thủy sản 13
1.2.4. Ứng dụng của probiotic 16
1.2.4.1. Trong y học, chăn nuôi và bảo vệ môi trƣờng 16
1.2.4.2. Trong nuôi trồng thủy sản 18
1.3. Tình hình nghiên cứu về sản xuất chế phẩm probiotic trong lĩnh vực nuôi tôm 20
1.3.1. Quy trình sản xuất chế phẩm probiotic 20
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
1.3.3. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 27
CHƢƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Nguyên vật liệu 29
- iv -

đã lựa chọn 53
- v -
3.1.4.1. Ảnh hƣởng của nguồn cacbon đến sinh trƣởng của các chủng probiotic
nghiên cứu 53
3.1.4.2. Ảnh hƣởng của nguồn nitơ đến sinh trƣởng của các chủng nghiên cứu 54
3.1.4.3. Ảnh hƣởng của nồng độ muối đến sinh trƣởng của các chủng nghiên cứu . 55
3.1.4.4. Ảnh hƣởng của pH môi trƣờng đến sinh trƣởng của các chủng nghiên cứu 56
3.1.4.5. Ảnh hƣởng của nhiệt độ đến sinh trƣởng của các chủng nghiên cứu 57
3.1.5. Xây dựng quy trình lên men 58
3.1.5.1. Xác định pH thích hợp cho quá trình lên men 58
3.1.5.2. Xác định nhiệt độ thích hợp cho quá trình lên men 59
3.1.5.3. Xác định thời gian thích hợp cho quá trình lên men 59
3.1.5.4. Đề xuất quy trình lên men 60
3.2. Xây dựng quy trình đông khô 61
3.2.1. Xác định quy trình đông khô đối với sinh khối vi khuẩn 61
3.2.2. Chất chống đông 63
3.3. Xây dựng quy trình sản xuất và sản xuất thử nghiệm chế phẩm probiotic 65
3.3.1. Xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm probiotic 65
3.3.2. Sản xuất thử nghiệm chế phẩm 66
3.4. Thử nghiệm sử dụng chế phẩm probiotic phối trộn với thức ăn tôm hùm 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 77


Thiosulphate citrate bile salt agar
Hệ số chuyể n đổ i thƣ́ c ăn
Trypton Soy Broth
Trypton Soy Agar
Alkaline Peptone Water
Lauria Broth
Generally recognized as safe

- vii -
DANH MỤ C BẢ NG
Bảng 1.1 Bệ nh gây bở i Vibrio spp. trong nuôi trồ ng thủ y sả n 15
Bảng 1.2 Chế phẩm probiotic sử dụng trong nuôi tôm, cua, cá, sò và hiệu quả của
chúng 19
Bảng 3.1 Hoạt tính sinh protease ngoại bào 41
Bảng 3.2 Hoạt tính kháng khuẩn của các chủng probiotic nghiên cứu đối với chủng
V1.1 43
Bảng 3.3 Hoạt tính kháng khuẩn của các chủng probiotic nghiên cứu đối với chủng
V3.3 43
Bảng 3.4 Hoạt tính kháng khuẩn của các chủng probiotic nghiên cứu đối với chủng
DYO5 45
Bảng 3.5 Kết quả định danh chủng B3.10.2 bằng bộ kít hóa sinh API 50CHB 51
Bảng 3.6 Quy trình đông khô sinh khối các chủng probiotic nghiên cứu 62
Bảng PL.1. Hoạt tính kháng khuẩn đối với chủng V1.1 của các chủng probiotic nghiên
cứu theo thời gian. 77
Bảng PL.2. Hoạt tính kháng khuẩn đối với chủng V3.3 của các chủng nghiên cứu theo
thời gian. 77
Bảng PL.3. Đƣờng cong sinh trƣởng của chủng B3.10.1 trên môi trƣờng TSB và LB . 77
Bảng PL.4. Đƣờng cong sinh trƣởng của chủng B3.10.2 trên môi trƣờng TSB và LB . 78
Bảng PL.5. Đƣờng cong sinh trƣởng của chủng B3.7.1 trên môi trƣờng TSB và LB 78
Bảng PL.6. Đƣờng cong sinh trƣởng của chủng B3.7.4 trên môi trƣờng TSB và LB 78

thời gian 48
Hình 3.10 Hoạt tính kháng khuẩn đối với chủng V3.3 của các chủng 49
nghiên cứu theo thời gian 49
Hình 3.11 Hình ảnh hình thái khuẩn lạc của các chủng probiotic nghiên cứu 50
Hình 3.12 Hình ảnh nhuộm Gram tế bào các chủng probiotic nghiên cứu 50
Hình 3.13 Ảnh hƣởng của nguồn cacbon đến sinh trƣởng của các chủng nghiên cứu 53
Hình 3.14. Ảnh hƣởng của nguồn nitơ đến các chủng nghiên cứu 54
Hình 3.15 Ảnh hƣởng của nồng độ muối đến sinh trƣởng của các chủng nghiên cứu 55
Hình 3.16 Ảnh hƣởng của pH đến sinh trƣởng của các chủng nghiên cứu 56
Hình 3.17 Ảnh hƣởng của nhiệt độ đến sinh trƣởng của các chủng nghiên cứu 57
Hình 3.18 Ảnh hƣở ng củ a pH đế n quá trình lên men 58
Hình 3.19 Ảnh hƣở ng củ a nhiệ t độ đế n quá trì nh lên men 59
Hình 3.20 Đƣờng cong sinh trƣởng của chủng B3.10.2 khi nuôi trên thiết bị lên men
BioFlo 110 60
Hình 3.21 Sơ đồ quy trì nh lên men 61
Hình 2.22 Chế phẩm probiotic trƣớc (a) và sau khi đông khô (b) 62
- ix -
Hình 3.23 Tỷ lệ sống của chủng B3.10.2 sau đông khô 63
Hình 3.24 Tỷ lệ sống của chủng B3.7.4 sau đông khô 63
Hình 3.26 Quy trì nh sả n xuấ t chế phẩ m probiotic dạ ng đông khô 65
Hình 3.27 Chế phẩm probiotic Bio – Lobster 67
Hình 3.28 Ảnh hƣởng của tỉ lệ trộn dầu mực vào thức ăn bổ sung probiotic đối với thời
gian tan trong môi trƣờng nƣớc biển 67
Hình 3.29 Thức ăn khi mới cho vào nƣớc biển(A) và sau khi để 8 giờ (B) 68
Hình 3.30 Thức ăn trộn quá nhiều dầu mực 68

- 1 -

LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài

của vật nuôi, cải thiện và nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Những vi sinh vật sống trong
đƣờng tiêu hóa của vật nuôi có ảnh hƣởng sâu sắc đến các quá trình sinh trƣởng, phát
triển của vật nuôi. Vì vậy, điều quan trọng là phải hiểu cơ chế của hệ vi sinh vật đƣờng
tiêu hóa vật nuôi, tìm ra các hoạt chất thay thế các chất kháng sinh độc hại. Cơ sở khoa
học của việc sử dụng các chế phẩm vi sinh là tăng sức khỏe cho động vật nuôi, cải
thiện môi trƣờng và khống chế số lƣợng vi sinh gây bệnh (Farzanfar, 2006). Trong
trạng thái bình thƣờng thì trong hệ tiêu hóa có sự cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và gây
bệnh. Nó bị ảnh hƣởng bởi các tƣơng tác, quan hệ cộng sinh và cạnh tranh. Hệ vi sinh
- 2 -

vật có lợi không chỉ bảo vệ bộ máy tiêu hóa mà còn tăng khả năng hấp thụ thức ăn
giúp cho vật chủ tăng khả năng sinh trƣởng và phát triển.
Nuôi trồng thủy sản, cũng nhƣ ngành công nghiệp khác, liên tục đòi hỏi kỹ
thuật mới, sử dụng các tác nhân mới nhƣ vi khuẩn lactic và Bacillus spp. đƣợc đƣa vào
để thúc đẩy sự tăng trƣởng của vật nuôi trong nuôi trồng thủy sản. Ngày nay, các chế
phẩm sinh học đƣợc ứng dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nƣớc châu Âu,
Indonesia, Ấn Độ và Thái Lan, với kết quả khả quan. Nghiên cứu về probiotic có thể
tạo ra một lĩnh vực mới của sản phẩm công nghiệp, giống nhƣ các lĩnh vực công
nghiệp chế biến sản phẩm nuôi trồng và chế biến thực phẩm nuôi trồng thủy sản.
Trung Quốc là một nƣớc lớn trong nuôi trồng thủy sản. Trong những năm gần đây,
chính phủ Trung Quốc đã nhận thức đƣợc giá trị kinh tế và lợi ích xã hội tiềm năng
của các ứng dụng của men vi sinh trong nuôi trồng thuỷ sản, và gần đây, quan tâm
nhiều hơn đến việc nghiên cứu và phát triển của men vi sinh trong nuôi trồng thủy sản.
Do đó, chính phủ đã tăng kinh phí nghiên cứu cho nó. Probiotic chủ yếu ức chế sự
tăng trƣởng và giảm khả năng gây bệnh của vi khuẩn gây bệnh, tăng cƣờng dinh
dƣỡng của các loài động vật thủy sản, cải thiện chất lƣợng nƣớc nuôi trồng thủy sản và
giảm việc sử dụng kháng sinh và hóa chất khác, do đó giảm ô nhiễm môi trƣờng của
các kháng sinh còn lại và hóa chất. Điều này có nghĩa là lợi ích của men vi sinh sẽ
đƣợc lâu dài, và các ứng dụng của men vi sinh sẽ trở thành một lĩnh vực quan trọng
trong việc phát triển nuôi trồng thủy sản trong tƣơng lai (Maqsood, 2010). Sử dụng

khả năng tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm, mang lại giá trị lợi nhuận và hiệu quả kinh tế
cao. Đó cũng chính là góp phần vào việc phát triển nền kinh tế đất nƣớc, phát huy thế
mạnh tiềm năng, sử dụng các nguồn lợi từ biển, góp phần giải quyết việc làm cho
ngƣời lao động trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản.
- 4 -

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu về probiotic và vi khuẩn Bacillus
1.1.1. Giới thiệu về probiotic
Thuật ngữ “probiotic” đƣợc Lilly và Stiwell đề xuất năm 1965 để mô tả những
chất sản sinh bởi vi sinh vật làm tăng trƣởng một vi sinh vật (hoặc sinh vật) khác. Năm
1989, Parker lại định nghĩa thêm cho rõ: “Probiotic là những vi sinh vật (chủ yếu là vi
khuẩn) có khả năng cộng sinh (hoặc hợp sinh) trong đường ruột có tác dụng cân bằng
hệ vi sinh vật trong đó có một số tác dụng hữu ích cho vật chủ” (Parker, 1989). Do
vậy, probiotic có nghĩa là phòng ngừa hay dự phòng sinh học (có lẽ là do ghép 2 chữ
tiếng Anh: Prophylxia – phòng bệnh, dự phòng và biotics – sự sống).
Nghiên cứu ứng dụng probiotic mới đƣợc chú ý trong 20 năm trở lại đây, nhƣng
tác dụng của nó đã đƣợc nhận thấy từ lâu. Elie Metnhicoff là ngƣời đầu tiên đặt nền
móng cho việc sử dụng probiotic, ông đề nghị sử dụng vi khuẩn lactic để kéo dài tuổi
thọ con ngƣời vào năm 1908. Ngày nay chế phẩm probiotic đƣợc sử dụng khá hiệu quả
trong chăn nuôi đặc biệt là trong nuôi tôm, trồng trọt, trong bảo vệ sức khỏe con ngƣời
và bảo vệ môi trƣờng. Tuy nhiên việc dùng chế phẩm này vào nuôi trồng thủy sản
(tôm, cua, cá, nhuyễn thể…) mới bắt đầu trong hơn thập kỷ gần đây.
Tại Nhật Bản, chế phẩm probiotic có tên gọi là E.M (các vi sinh vật hữu hiệu)
do giáo sƣ, tiến sỹ Teruo Higa, Trƣờng đại học Ryukyus, Okinawa, Nhật Bản đề xuất
năm 1980 đã đƣợc sử dụng nhiều trong chăn nuôi, trồng trọt cũng nhƣ bảo vệ môi
trƣờng đều cho kết quả khả quan (Higa, 1980). Đến nay chế phẩm này đƣợc hơn 80

đƣờng tiêu hóa cũng khác nhau:
- Dạ dày: 10
1
-10
3
cfu/ml, chủ yếu gồm Lactobacilli, Enterobacteria,
Bacteroides.
- Tá tràng: 10
1
-10
4
cfu/ml.
- Ruột non: 10
5
-10
8
cfu/g, chủ yếu gồm Bacteroides (10
4
-10
7
), Steptococci,
Lactobacilli, Enterobacteria.
- Ruột già: 10
9
-10
12
cfu/g, chủ yếu gồm Bifidobacteria, Bacteroides,
Enterobacteria (10
5
-10

tất cả các vi sinh vật đều cần sắt để tăng trƣởng. Siderophore là một chất có khả năng
gắn với ion sắt, hòa tan sắt dễ dàng cho vi sinh vật. Các vi sinh vật vô hại sinh
siderophore có thể sử dụng nhƣ probiotic để cạnh tranh sắt với các vi khuẩn gây hại
(Vine et al., 2006).
b. Cạnh tranh vị trí bám dính với vi sinh vật gây bệnh
Khả năng bám dính của các vi khuẩn probiotic vào niêm mạc ruột đƣợc xem là
một trong những tiêu chí lựa chọn chủng probiotic. Các tế bào biểu mô đƣờng ruột là
tế bào chủ cho hàng triệu vị trí gắn thụ thể của vi khuẩn khác nhau. Khi probiotic liên
kết với vị trí gắn thụ thể trên tế bào biểu mô sẽ làm thay đổi niêm mạc của tế bào đó và
tế bào lân cận. Do đó vi khuẩn có hại ít có khả năng bám dính lên miên mạc ruột.
Probiotic có thể tìm thấy điểm gắn trong rất nhiều vị trí, do đó ngăn ngừa vi khuẩn có
hại xâm nhập. Vi khuẩn bám dính trên niêm mạc ruột nhờ cơ chế đặc trƣng (chất bám
dính và các phân tử thụ thể của ruột) và cơ chế không đặc trƣng (dựa vào những yếu
tố hóa học). Một vài thành phần cấu tạo của vi khuẩn: protein, thành tế bào,
carbonhydrate, và acid lipoteichoic đƣợc xem là có liên quan đến tính bám dính của
probiotic vào ruột.

- 7 -

c. Sản xuất các hợp chất kháng khuẩn
Thành phần chất tiết ra khó có thể xác định đƣợc nên đƣợc gọi chung là chất ức
chế. Vi khuẩn lactic từ lâu đƣợc biết là chủng vi khuẩn tiết ra chất kháng khuẩn
(bacteriocin). Phần lớn các vi khuẩn gây bệnh trong thủy sản là nhóm Gram âm. Nhiều
vi khuẩn tiết ra chất ức chế chống lại các vi khuẩn gây bệnh nhƣ Aeromonas
hydrophila và Vibrio parahaemolyticus (Nair et al., 1985). Cơ chế tiết ra chất chống
lại vi khuẩn gây bệnh trong các thử nghiệm ở mức tế bào in-vitro rất phổ biến trong
môi trƣờng nƣớc. Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng có nhiều dòng vi khuẩn
in-vitro kìm hãm đƣợc các mầm bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Những nghiên cứu
này cũng chứng minh khả năng kìm hãm vi khuẩn của những dòng vi khuẩn thông
thƣờng dễ tìm thấy trong môi trƣờng (Fuller, 1989). Những quần thể sinh vật này có

năng loại bỏ chất thải chứa nitơ (ammonia, nitrite và nitrát) nhờ enzyme ngoại bào do
chúng chuyển hóa. Cho nên nhóm vi khuẩn này giải phóng enzyme trong ao có tác
dụng làm giảm vi khuẩn, virus gây bệnh trong ao (Bùi Quang Tề, 2009). Nhóm vi
khuẩn này lấn át nhóm vi khuẩn gây bệnh nhƣ Vibrio spp., Aeromonas spp… Khi vi
khuẩn probiotic đƣợc sử dụng trong môi trƣờng nuôi có tảo, một số chủng vi khuẩn ức
chế sự tăng trƣởng của các loại tảo đơn bào (Pavlova lutheri) ở các mức độ khác nhau
(Munro et al.,1995).
1.1.3. Phân loại probiotic
Các chế phẩm sinh học đƣợc sử dụng ở động vật có thể đƣợc chia thành ba
nhóm chính: vi khuẩn lactic, Bacillus spp. và nấm men (Jans, 2005).
- Vi khuẩn lactic: Vi khuẩn này đƣợc sử dụng trong nhiều thiên niên kỷ trong
việc sản xuất sản phẩm sữa lên men và thực phẩm muối chua. Một số chủng vi khuẩn
đƣợc lựa chọn làm chế phẩm probiotic nhƣ: Lactobacillic, Pediococci, Bifidobacteria
và Enterococci. Trong quá trình lên men, vi khuẩn lactic chuyển đổi một số loại đƣờng
thành acid lactic. Tính năng đặc trƣng của nhóm chế phẩm sinh học này là sinh các
chất kháng khuẩn và sự hình thành màng sinh học để bảo vệ màng nhầy ruột. sản xuất
các chất ức chế nhƣ aicd béo mạch ngắn làm giảm pH. Loại trừ các vi sinh vật gây
bệnh hoặc ngăn chặn chúng dính vào màng nhầy ruột. Sự gia tăng số lƣợng vi khuẩn
lactic tạo thành một hàng rào chống lại các vi sinh vật khác trong ruột. Ngăn chặn sản
xuất độc tố. Kích thích hệ thống miễn dịch trong ruột. Ảnh hƣởng các điều kiện lý hóa
trong ruột, ví dụ pH và thế oxy hóa khử, qua đó hạn chế các điều kiện tăng trƣởng.
Ảnh hƣởng trên sự chuyển hóa của các acid mật và do đó thúc đẩy sự hấp thụ chất béo,
tác dụng trên biểu mô ruột, cải thiện khả năng hấp thụ.
- 9 -

- Vi khuẩn Bacillus: Là vi sinh vật đƣợc tìm thấy phổ biến trong đất, vi khuẩn
có dạng hình que, bắt màu gram dƣơng. Khả năng tự nhiên của men vi sinh Bacillus
chống lại các ảnh hƣởng bên ngoài. Rengpipat và cs (2000), chỉ ra rằng việc sử dụng
các vi khuẩn Bacillus sp. cung cấp bảo vệ bệnh bằng cách kích hoạt hệ miễn dịch tế
bào và miễn dịch dịch thể ở tôm Sú (Penaeus monodon). Vi sinh vật thuộc nhóm

0
C (Gordon,
1973).
Vi khuẩn Bacillus phân bố rộng rãi trong tự nhiên, trong đất, nƣớc, không khí,
một số loài còn thấy trong khoang miệng, trong đƣờng ruột của ngƣời và động vật
(Lƣơng Đức phẩm, 1998).
Các loài thuộc chi Bacillus đặc trƣng cho trực khuẩn sinh bào tử mà vẫn giữ
nguyên hình que khi mang bào tử, trong một số trƣờng hợp chỉ hơi phình to lên một
chút. Mỗi tế bào sinh dƣỡng thƣờng chỉ hình thành một nội bào tử. Thông thƣờng bào
- 10 -

tử đƣợc tạo ra khi tế bào đã trãi qua giai đoạn phát triển mạnh nhất, hay do cạn kiệt
chất dinh dƣỡng (sự suy giảm của cacbon, nitơ, phốt pho), quá trình này cần phải bắt
đầu trƣớc khi sự cạn kiệt toàn bộ các chất dinh dƣỡng, nếu không sự hình thành bào tử
không thể đƣợc hoàn thành do các chất dinh dƣỡng còn quá thấp cho quá trình hình
thành bào tử (Perez, 2000). Khi bào tử trƣởng thành tế bào dinh dƣỡng tự phân giải,
bào tử đƣợc giải phóng ra khỏi tế bào mẹ. Nội bào tử của vi khuẩn đƣợc sinh ra không
phải để sinh sôi nảy nở mà để chịu đựng với các điều kiện bất lợi. Bào tử có màng
nhiều lớp, chứa ít nƣớc tự do và do đó có thể tồn tại trong nhiều năm, chịu đựng tốt
với nhiều tác động bất lợi có thể làm chết các tế bào dinh dƣỡng, bào tử có khả năng
chịu nhiệt, tia tử ngoại, phóng xạ và nhiều độc tố, vì chúng có khả năng (Gordon,
1973; Lƣơng Đức phẩm, 1998).
Tất cả các loài Bacillus đều có khả năng phân giải hợp chất hữu cơ chứa nitơ,
nhƣ protein, khá mạnh nhờ sinh ra protease ngoại bào. Ngoài ra, chúng còn có khả
năng sinh ra amylase làm loãng tinh bột, biến chất này thành dễ hòa tan và thủy phân
tiếp theo thành các dextrin và các loại đƣờng hợp thành. Một số chủng thuộc loài
Bacillus subtilis, B. mesentericus… có thể có khả năng sinh ra enzym cenlulase và
hemicellulase phân hủy cellulose, hemicellulose (Lƣơng Đức Phẩm, 1998).
Ngoài các enzym trên, các vi khuẩn còn có khả năng sinh ra các chất có hoạt
tính kháng sinh nhƣ insulin, subtilin từ Bacillus subtilis, bacterioxin từ B.

Giai đoạn trƣởng thành, chúng sống ở độ sâu 20 m trở lên, giai đoạn ấu trùng và con
non chủ yếu tập trung ở các bãi đá, san hô độ sâu từ 2 – 10 m. Tôm hùm thƣờng sống
ở các rạn san hô ngầm xa bờ, xen kẽ đá san hô, nơi có nhiều hang hốc, khe rãnh ven
biển, độ sâu từ 5 – 35 m, độ mặn khoảng 30 - 34
0
/
00
, nhiệt độ từ 22
0
- 32
0
C và độ trong
suốt cao. Chúng có tập tính sống quần tụ chủ yếu ở tầng đáy với chất đáy sạch, không
bùn.
Tôm hùm lớn lên nhờ quá trình lột xác. Tôm càng nhỏ, quá trình lột xác càng
ngắn và tôm lớn càng nhanh. Tôm hùm có chu kỳ lột xác dài hơn so với các loài giáp
xác khác, do đó tốc độ tăng trƣởng của chúng cũng chậm hơn.
Tôm hùm là loài ăn tạp, trong tự nhiên thức ăn chủ yếu là cá, tôm, cua, ghẹ nhỏ,
cầu gai,…ngoài ra, chúng còn ăn các loại rong rêu. Tôm hùm bắt mồi tích cực về đêm
và gần sáng. Tuy nhiên, hệ số thức ăn (FCR) tính theo trọng lƣợng tƣơi khá cao và
khác nhau tùy theo loài. Đối với tôm hùm bông cỡ 10-90g/ con, FCR là 17-20; cỡ 100-
500 g/con, FCR là 11-26; cỡ 600-1000 g/con, FCR là 27-32 (Nguyễ n Thị Bí ch Thú y ,
1998).
Tôm hùm sinh sản ở tất cả các thời điểm trong năm nhƣng mùa sinh sản chính
tôm là từ tháng 8 đến tháng 9. Giai đoạn ấu trùng phát triển từ thời gian tháng 10 đến
- 12 -

12. Phải mất 10 đến 12 tháng để phát triển thành tôm trƣởng thành. Cho đến nay, các
trại sản xuất giống tôm hùm giống vẫn chƣa thành công nên chủ yếu vẫn phải dựa từ
nguồn tôm giống tự nhiên (Dean, 2011).


xấu do thời tiết và môi trƣờng nƣớc bị ô nhiễm đã làm tôm hùm nuôi bị mắc các bệnh
nhƣ đục thân, đen mang, lỏng cổ, đƣờng ruột và bệnh sữa. Tính đến giữa tháng 4, tại 2
tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên có trên 600.000 con tôm gần đến tuổi thu hoạch chết vì
bệnh sữa, thiệt hại lên tới hàng trăm tỷ đồng. Phú Yên, thủ phủ nuôi tôm hùm cả nƣớc
cũng đang vật lộn với việc dập dịch.
Chi cục Thú y tỉnh Phú Yên cho biết đến nay lƣợng tôm chết đã giảm nhiều
nhƣng dịch bệnh vẫn còn lây lan. Chƣa có thống kê chính xác, nhƣng 100% hộ nuôi
tôm hùm tại Phú Yên đều có tôm nhiễm bệnh, tùy mức độ nặng nhẹ, ít hay nhiều. Tại
Khánh Hòa, từ đầu năm đến nay, bệnh sữa trên tôm hùm tiếp tục bùng phát ở hầu hết
các địa phƣơng trong tỉnh. Trong đó, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh là địa phƣơng bị
thiệt hại nặng nề nhất, mỗi ngày có khoảng 400 – 500 kg tôm bị chết, trong đó có trên
80% chết vì bệnh sữa, gây thiệt hại cho ngƣời nuôi hàng trăm tỷ đồng.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên, chính vì lợi nhuận cao
mà ngƣời dân đổ xô vào nuôi tôm hùm, số lồng tôm hùm thả nuôi tăng gây nên hệ lụy
phá vỡ quy hoạch, ô nhiễm môi trƣờng ở nhiều vùng nuôi. Dịch bệnh cũng bùng phát
khiến tôm nuôi chết hàng loạt gây thiệt hại nặng về kinh tế. Hoạt động nuôi lồng trên
biển cũng đƣợc Tổng cục thủy sản dự báo sẽ làm tăng thêm lớp trầm tích chất thải dày
khoảng 3-5 cm, làm xấu đi môi trƣờng tại những khu vực này. Chất lƣợng nƣớc tại các
vùng nuôi tôm hùm cũng bị suy giảm nghiêm trọng do hàm lƣợng NH
3
và H
2
S cao
trong tầng nƣớc sát đáy và tầng đáy, chúng đƣợc coi là những nguyên nhân chủ yếu
làm cho tôm hùm chết hàng loạt. Việc phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản trên biển
sẽ làm cho môi trƣờng nƣớc của những khu vực này bị ô nhiễm ngày càng nghiêm
trọng.
1.2.3. Bệnh Vibriosis đối với tôm hùm và động vật thủy sản
Tôm và môi trƣờng sống là một thể thống nhất. Khi chúng mắc bệnh là kết quả

môi trƣờng nƣớc mặn, thích hợp ở 20-40‰, có loài còn có thể phát triển ở độ mặn
70‰, Vibrio là vi khuẩn đặc trƣng cho vùng nƣớc biển ấm, phát triển mạnh ở nhiệt độ
25 - 30
0
C, nên Vibrio luôn là mối đe dọa cho nghề nuôi động vật thủy sản biển, đặc
biệt giáp xác nuôi thâm canh ven biển và trên biển. Môi trƣờng TCBS (Thiosulphate
citrate bile salt agar) là môi trƣờng chọn lọc của Vibrio spp Dựa vào màu sắc khuẩn
lạc trên môi trƣờng chọn lọc này, Vibrio spp. đƣợc chia thành 2 nhóm: Nhóm có khả
năng lên men đƣờng sucrose và có khuẩn lạc màu vàng; Nhóm không có khả năng lên
men đƣờng sucrosse và có khuẩn lạc màu xanh lá cây trên môi trƣờng TCBS (Đỗ Thị
Hòa và cs, 2004).
Trong bệnh Vibriosis, vi khuẩn Vibrio có thể là tác nhân sơ cấp hoặc tác nhân
thứ cấp (tác nhân cơ hội), ký sinh trùng ký sinh hay các tác động môi trƣờng nhƣ cơ
học, hóa học. Hóa học có thể đóng các vai trò quan trọng trong các dịch bệnh Vibriosis
ở động vật thủy sản. Vi khuẩn Vibrio spp. có thể cảm nhiễm và gây nhiều bệnh khác
nhau ở động vật thủy sản, đặc biệt là cá và giáp xác sống ở vùng nƣớc có độ mặn cao.
Các loài Vibrio ở động vật thủy sản thƣờng gặp bao gồm: Vibrio anguillarum, V.
harveyi, V. vulnificus, V. salmonicida… (Thompson et al., 2004).
Ở động vật thủy sản, Vibrio có thể gây một số bệnh khác nhau với những dấu
hiệu bệnh lí nhƣ sau :
- Bệnh phát sáng ở ấu trùng tôm: Khi tôm bị bệnh thƣờng yếu, lờ đờ, kém bắt
mồi, nặng có thể bỏ ăn, trong bóng tối phát ra ánh sáng xanh liên tục. Bệnh thƣờng xảy
ra ở các trại tôm giống gây thiệt hại lớn, đặc biệt ở các giai đoạn tiền ấu trùng. Nếu
bệnh xảy ra ở dạng cấp tính, có thể làm cho tôm ấu trùng chết hàng loạt, tỷ lệ chết có
thể lên đến 100% trong bể ấp do sự nhiễm khuẩn toàn thân. Từ mẫu tôm bị phát sáng

Trích đoạn Bố trí thí nghiệm xây dựng quy trình lên me nở quy mô pilot Xác định các thông số của quá trình đông khô Xác định hoạt tính sinh protease ngoại bào Xác định hoạt tính kháng khuẩn Xác định các điều kiện thích hợp cho quá trình nuôi cấy các chủng vi khuẩn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status