1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trên thế giới, vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng ngày càng
được quan tâm và chú trọng. Ở Việt Nam tầm quan trọng của chất lượng và quản
lý chất lượng được hình thành và phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế khu
vực và quốc tế. Nhất là hiện nay, Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại quốc
tế WTO - Một môi trường có nhiều thuận lợi cũng như thách thức đối với các
doanh nghiệp.
Trên thực tế những năm qua, vai trò của con người trong quản lý chất
lượng thường bị coi nhẹ, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém về
chất lượng trong mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh hang hoá, dịch vụ
ở nước ta.
Đối với các doanh nghiệp, trong khi các nguồn lực quan trọng khác như:
vốn, công nghệ… còn nghèo nàn, lạc hậu và thiếu thốn, thì yếu tố con người
chính là nguồn lực cơ bản nhất, quan trọng nhất để cải tiến chất lượng sản phẩm,
cải tiến hoạt động quản lý chất lượng.
Trên cơ sở khai thác các nguồn lực hiện có và các nguồn lực tiềm năng, yếu
tố con người sẽ là động lực cơ bản để kiện toàn và gia tăng các nguồn lực khác.
Để nâng cao một bước đáng kể trình độ chất lượng của hàng hoá, dịch vụ, đáp
ứng yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước, nâng cao khả năng cạnh tranh
cho doanh nghiệp trong thời kỳ mới.
Trong quá trình thực tập và quan sát doanh nghiệp. Em nhận thấy vấn đề
cần quan tâm để nâng cao chất lượng cho sản phẩm, đó là con người trong công
tác quản lý chất lượng. Nên em đã chọn đề tài: “Yếu tố con người trong
quản lý chất lượng tại Công ty may TNHH Hoà Hưng”
2
Nội dung đề tài được chia làm 3 phần:
Phần I: Lý luận về chất lượng, quản lý chất lượng và vai trò của yếu tố
Các chuyên gia về chất lượng cũng đề cập quan điểm của minh:
Juran: Chất lượng là sự phù hợp giữa sử dụng và công dụng.
Crosby: Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc
tính nhất định.
Định nghĩa của ISO năm 1986 về chất lượng đã nêu được bản chất vàmục
đích của vấn đề, tuy nhiên các khái niệm về “đặc trưng” và “đặc tính” không
được xác đinh rõ.
Ở Việt Nam chúng ta không tách riêng hai khái niệm trên mà vẫn dùng một
thuật ngữ “tính chất” để bao hàm chung cho khái niệm đó.
Theo ISO 9000:2000: “ Chất lượng lá mức độ của một tập hợp các đặc tính
vốn có của thực thể “đối tượng” đáp ứng các “yêu cầu”.
Đặc tính là đặc trưng phân biệt của một thực thể
Yêu cầu là nhu cầu hoặc mong đợi đã được công bố, được
ngầm hiểu chung hoặc bắt buộc.
Sự thoả mãn của khách hàng: Là sự cảm nhận của khách hàng
về sản phẩm, độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
1.2. Khái niệm về “ quản lý chất lượng”
Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và
thực hiện chính sách chất lượng.
Hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng
4
Theo tiêu chuẩn quốc gia Liên Xô( GOST 1567-70), quản lý chất lượng là
xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết
kế,chế tạo, lưu thông và tiêu dùng.
Theo tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản(JIS) thì:
“ Quản lý chất lượng là hệ thống phương pháp tạo điều kiện sản xuất tiết
kiệm những hàng hoá có chất lượng hoặc đưa ra những hàng hoá có chất lượng
thoả mãn người tiêu dùng”
Tiêu thụ sáng tạo các luồn tư tưởng, kinh nghiệm thực hành hiện đại, dựa
động, công cụ lao động, tiền vốn…Nâng cao chất lượng có ỹ nghĩa tương đương
như tăng sản lượng mà tiết kiệm được lao động. Trên ỹ nghĩa đó chất lượng
cũng có nghĩa là tăng năng suất
Nâng cao chất lượng sản phẩm là tư liệu tiêu dùng có quan hệ trực tiếp tới
đời sống và sự tín nhiệm, lòng tin của khách hàng. Chất lượng sản phẩm xuất
khẩu tác động mạnh mẽ tới hoàn thiện cơ cấu và tăng kim ngạch xuất khẩu.
Các chức năng cơ bản của quản trị chất lượng được thể hiện trong vòng tròn
chất lượng sau:
Sơ đồ : Vòng tròn Shewart hay vòng tròn Derming
A P
C D
6
1. Plan(P) : Lập kế hoạch chất lượng
2. Do(D) : Tổ chức thực hiện
3. Check(C) : Kiểm tra, kiểm soát chất lượng
xuất, còn người công nhân chỉ tuân theo mệnh lệnh.
Vậy người ta không quan tâm đến yếu tố con người, yếu tố tinh thần trong
công việc. Do vậy cũng chẳng cần thi đua, chẳng có thưởng, con người làm việc
như một bộ phận của máy móc. Chính vì vậy người ta cho rằng máy móc quyết
định năng suất, con người phải chạy theo năng suất máy móc. Trình độ, tay
nghề, sự sáng tạo và khéo léo của người công nhân đã không tính đến.
Những năm đầu thế kỷ phương pháp này của Taylor đã phát huy được hiệu
quả là do những yếu tố sau:
Người công nhân và đốc công có trình độ thấp, không đủ kiến
thức để tự lập kế hoạch sản xuất và xây dựng tiêu chuẩn định
mức lao động.
Mức sống của công nhân còn thấp, vì vậy trả lương theo sản
phẩm kích thích công nhân nâng cao năng suất lao động.
Sức mạnh kinh tế của giới chủ( nhà tư bản) lớn có khả năng kìm
chế sự chống đối của người lao động với một chế độ quản lý
theo kiểu này.
Theo em, sai lầm trong cách quản lý này của Taylor là đã không quan tâm
đến yếu tố con người.
2.2. Lý thuyết về hành vi trong lãnh đạo.
8
Năm 1960, Merger cho ra đời lý thuyết XY của quản lý dựa trên sự trái
ngược nhau về bản chất con người. Ông nhìn nhận con người có hai mặt, đó là
tích cực và tiêu cực:
Lý thuyết X: Người ta nhìn nhận con người dưới những mặt tiêu cực
Lý thuyết Y : Nhìn nhận con người dưới mặt tích cực
2.3. Lý thuyết thoả mãn nghề nghiệp
Lý thuyết này cho rằng doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt khi mọi thành
viên trong doanh nghiệp thoả mãn với chính công việc của mình đang làm.
Theo lý thuyết này có hai nhóm yếu tố thoả mãn nghề nghiệp:
gì đó có giá trị đối với một số người khác”. Ông đã chỉ trích cách khuyến khích
người lao động quá thiên về thưởng bằng tiền
Cùng với thời gian đó, tiến sĩ Níshibori (Nhật) nêu ra 3 yếu tố của lao động:
Sơ đồ: Ba yếu tố của lao động:
Tính
Xã hội
Sáng tạo Làm vui suy nghĩ
lòng
người
khác
lao động
Lao
theo cách mà họ nhìn nhận. Để có được lợi thế này, chúng ta phải xác định
khách hàng của mình là ai, họ mong muốn cái gì, phải hiểu được nhu cầu tiềm
11
ẩn và kỳ vọng của họ về sản phẩm và dịch vụ của công ty để từ đó cung cấp
những cái họ muốn một cách tốt nhất.
Có hai loại khách hàng:
Khách hàng bên ngoài: Là những cac nhân, tổ chức trực tiếp có
những nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ do doanh nghiệp
cung cấp. Từ khái niệm này, ta thấy khách hàng từ ngoài là người
trực tiếp sử dụng sản phẩm của chúng ta, do đó họ rất hiểu sản
phẩm đó có thể đáp ứng được đến đau và còn tồn tại những thiếu
sót gì. Chính vì lẽ đó phải tích cực quan tâm và tìm hiểu khách
hàng bên ngoài để hoàn thiện chất lượng sản phẩm. Còn nếu
không xác định đúng khách hàng, coi nhẹ yếu tố khách hàng bên
ngoài thì sẽ rất khó có thể tìm hiểu, điều tra được ý kiến của
khách hàng đối với sản phẩm của mình.
Khách hàng bên trong:
Quá trình sản xuất kinh doanh có nhiều công đoạn sản xuất. Công
đoạn sản xuất sau là khách hàng của công đoạn sản xuất trực tiếp.
Khách hàng bên trong có vai trò quan trọng trong quản lý chất
lượng đối với doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp sản
xuất.
Thật vậy, giả sử trong một doanh nghiệp sản xuất, nếu công đoạn sản xuất
trước mà không để ý đến việc điều tra, tìm hiểu xem công đoạn sản xuất sau đó
yêu cầu đối với sản phẩm của mình như thế nào? Có bao nhiêu sai lỗi sản xuất
trước? Do đó sẽ ảnh hưởng đến dây chuyền, đến các công đoạn sản xuất sau và
làm giảm năng suất lao động của cả doanh nghiệp. Dẫn đến sự giảm sút chất
lượng trong toàn doanh nghiệp.
Quyết định các hành động cải tiến hệ thống quản lý chất lượng.
Ngoài ra nếu không có sự cam kết của người lãnh đạo thì doanh
nghiệp không thể thực hiện được hệ thống quản lý chất lượng.
Khi lãnh đạo cam kết sẽ tiến hành các hoạt động quản lý chất
lượng
Vì vậy muốn các hoạt động quản lý chất lượng có hiệu quả thì người lãnh
đạo phải là người hiểu biết và nhận thức rõ tầm quan trọng của chất lượng. Thực
hiện quản lý đối với chất lượng, thì hoạt động đó mới có hiệu quả cao, có thể
nâng cao chất lượng trong doanh nghiệp cùng với khả năng cạnh tranh.
3.3. Cán bộ công nhân viên
Là những người trực tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đây cũng là
yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng của toàn doanh nghiệp.
Về phía người cán bộ: Là người trực tiếp quản lý công nhân, người lao
động trong quá trình sản xuất. Vì vậy họ phải quản lý như thế nào để cho người
công nhân thấy được vai trò và tầm quan trọng của họ trong doanh nghiệp, để từ
đó động viên mọi người. Khi đã tác động tích cực tới công nhân, họ sẽ hăng say
lao động, nhiệt tình tham gia vào công tác quản lý chất lượng của công ty.
Ngoài ra, trong khi làm việc cùng với công nhân, người cán bộ cần có
phong cách làm việc gần gũi và hoà đồng với công nhân. Không nên để họ thấy
được sự khác biệt giữa vị trí nghề nghiệp.
Về phía công nhân: Là người lao động trong qúa trình sản xuất. Chính vài
thế họ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản lý chất lượng của doanh
nghiệp. Nếu họ nhận thấy vai trò quan trọng của mình trong doanh nghiệp, họ sẽ
14
có động lực trong lao động và sáng tạo, từ đó góp phần cải tiến công tác quản lý
chất lượng tốt và hiệu quả hơn.
4. Hiệu quả cảu việc vận dụng yếu tố con người vào quản lý chất lượng.
Sản xuất là quá trình tác động của con người vào nguyên vậ liệu. Với tay
nghề và máy móc để cho ra các sản phẩm có giá trị phục vụ cho xã hội. như vậy,
Mã số thuế : 0500361156
Địa chỉ Email : [email protected]@tsq.it.pl
Trụ sở chính : Xã Hoà Xá - Ứng Hoà – Hà Tây
Giám đốc công ty: Đỗ Mạnh Hùng
Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất, kinh doanh gia công và xuất nhập khẩu các sản phẩm dệt may.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, nguyên liệu thuộc lĩnh vực dệt may.
Công ty TNHH Hoà Hưng là mang hình thức sở hữu tư nhân.
Mặt hàng truyền thóng của công ty là : Áo Jacket, Áo sơ mi, Bộ trượt tuyết,
Bộ bảo hộ lao động, váy, quần áo các loại…
Kể từ khi thành lập , quy mô công ty còn nhỏ, đến nay công ty đã được mở
rộng và phát triển cả về chất và lượng. Công ty không những đóng góp một phần
nhỏ trong công cuộc xây dựng sự phát triển của toàn tỉnh nói chung và phát
triển toàn huyện nói riêng, mà còn góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho
người lao động. Chủ yếu ở đây là đối tượng thanh niên nông thôn không có việc
làm, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đời sống nông thôn và đô thị. Tuy
nhiên đội ngũ lao động này đã được Công ty đào tạo trở thành những công nhân
lành nghề. Có trình độ kỹ thuật cao, luôn đảm bảo cho công ty về mặt số lượng
và chất lượng sản phẩm.
16
Ngoài ra Công ty còn có những thuân lợi về đường xá như nằm gần dường
quốc lộ 21B thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hoá của công ty, chi
phí nhân công thì rẻ. Hơn nữa công ty cũng đã chủ động về vốn trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
Do nhu cầu của thị trường ngày càng đòi hỏi cao, công ty luôn cố gắng
khắc phục mọi khó khăn, đổi mới thiệt bị, công nghệ để nâng cao sản xuất, chất
lượng sản phẩm, đa dạng hoá mặt hàng sản xuất. Công ty đã từng bước nâng cao
uy tín và mở rộng thị trường kinh doanh không những ở thị trường truyền thống
như Ba Lan, các nước EU, mà còn xuất khẩu sang các thị trường khó tính khác
huyện, tỉnh trao tặng
Hiện nay công ty có hơn khoảng 1500 cán bộ công nhân
viên, với 10 phòng ban chức năng, 6 phân xưởng sản xuất và
đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và công nhân
lành nghề.
Năm 2000, công ty đã xây dựng và áp dụng thành công Hệ
thống quản lý chất lượng ISO 9002-1994.
Năm 2003, công ty đã quyết tâm chuyển đổi thành công
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 phiên bản 2000 vào quí
III.
Đưa váo hoạt động thêm phân xưởng May 6 vào Quí
III/2003, thu hút khoảng hơn 300 lao động trong khu vực địa
bàn xã Hoà Xá và một số lao động trong các xã lân cận.
1.1.2. Khái quát tình hình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp
Bảng thống kê số lượng sản phẩm sản xuất :
18
Đvt: chiếc
2001 2002 2003 2004 2005
Hàng dệt kim
956452000 99897122 100256000 109782000 110926000
Hàng gió
15250000 17962000 20989400 25000500 25500000
Quần lửng
57220000 65000000 78230000 84162300 85737000
Quần soóc
75500000 65000500 89523200 90546200 91104000
SP kinh doanh và
Gia công khác
13 Số lao động bq 780 900 1500 1500 1500
14 Tổng chi phí sx 7,979,397,535 5,464,646,989 7,512,410,473 7,322,423,987 8,370,533,872 Qua bảng số liệu trên ta thấy: Doanh thu của các năm có sự thay đổi. Năm
2002 giảm xuống so với năm 2001 là 2,602,860,000 (đ).
Năm 2003 tăng so với năm 2002 là 4,092,195,000 (đ)
Năm 2004 cũng tăng so với năm 2003 là 1,010,902,000 (đ)
Năm 2005 về doanh thu tăng lên so với năm 2004 là 717,028,000 (đ)
Doanh thu các năm đều tăng. Việc tăng này có thể thấy là do có sự thay đôi
về số lượng sản phẩm tăng, số công nhân lao động tăng . Và quy mô sản xuất sản
phẩm của công ty.
Tài sản cố định của công ty cũng tăng lên qua các năm. Quy mô tài sản với
giá trị từ 9,235,456,200 (đ) của năm 2001 đã tăng lên đến 21,715,780,500 (đ)
trong năm 2005. Như vậy chứng tỏ cho chúng ta thấy tình hình kinh doanh của
công ty có nhiều thay đỏi theo chiều hướng tích cực. Qua các năm, công ty đã mở
rộng thêm nhiều phân xưởng sản xuất mới trên nhiều địa bàn, đến nay có tới 8
phân xưởng với công suất hoạt động liên tục. Ban giám đốc luôn luôn có chiến
lược mở rộng quy mô sản xuất với gía trị lớn.
Vốn lưu động bình quân của công ty ngày càng gia tăng và ổn định từ năm
2001 đến năm 2005.
Do việc sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển và thuận lợi. Nên số
lượng lao động của công ty từ 780 công nhân năm 2001. Đến năm 2003 đã có số
20
lượng là 1500 công nhân và giữ mức ổn định như vậy cho tới năm 2005. Điều
này cho ta thấy việc sản xuất của công ty luôn ổn định và mở rộng. ngoài số
lượng công nhân cố định hàng năm công ty cũng tuyển mới và thuê ngoài gia
công. Nên việc đảm bảo đủ số lượng, chất lượng đơn đặt hàng luôn được duy trì.
1.1.3. Dây truyền công nghệ sản xuất
Kho hoàn
thiện
Là gấp đóng
gói
Kiểm
hàng(KCS)
Thành phẩm
xuất kho
21
+ Sản phẩm may xong chuyển sang là ủi, sau đó được phòng KCS kiểm tra
chất lượng từng sản phẩm một, sản phẩm nào đủ tiêu chuẩn sẽ được đóng gói
nhập kho.
+ Căn cứ vào tiến độ giao hàng và chuyển đến nơi tiêu thụ theo hợp đồng
đã ký
1.1.4.Tổ chức sản xuất và kết cấu sản xuất của doanh nghiệp.
1.1.4.1. Tổ chức sản xuất.
Công ty TNHH Hoà Hưng là một doanh nghiệp sản xuất gia công hàng may
mặc xuất khẩu. Trong đó gia công xuất khẩu chiếm 80%, còn sản xuất xuất khẩu
chỉ chiếm 20%, và sản phẩm chủ yếu của công ty là Áo Jacket các loại, quần các
loại, hàng dệt kim…
Thị trường chính của công ty là: Ba Lan chiếm 50% tỷ trọng may mặc, còn
là xuất khẩu vào thị trường EU và các thị trường khác như : Mỹ, Australia, Nhật
Bản, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á
Quy trình sản xuất theo kiểu liên tục theo một số trình tự nhất định, sản
phẩm của công ty được sản xuất trên dây truyền công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến
với số lượng .
1.1.4.2.Kết cấu sản xuất của doanh nghiệp
Khách hàng giao nguyên vật liệu, phòng kế hoạch vật tư sẽ làm các thủ tục
quá trình sản xuất kinh doanh của công ty, nó ảnh hưởng tới chất lượng sản
phẩm, tới việc tiết kiệm chi phí và hạ thấp giá thành sản phẩm.
23
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY TNHH HOÀ HƯNG
hoạch
Phòng
TC
LĐTL
Phòng
HC
Phân
xưởng
SX
Phòng
TV
Phòng
QSBV
Phân xưởng
may 1
Phân xưởng
may 2
Phân xưởng
may 3
Phân xưởng
may 4
Phân xưởng
thêu
24
Mối quan hệ quản lý chỉ đạo
Mối quan hệ hỗ trợ về HTCL
Mối quan hệ hỗ trợ nghiệp vụ
Tiếp thị quảng cáo sản phẩm và công ty với thị trường.
Phòng kế toán tài vụ: thực hiện công tác tài chính kế toán của đơn
vị, giám sát và kiểm tra các hoạt động của công ty qua các chứng từ,
sổ sách kế toán, vào sổ thực hiện quyết toán hàng quý, lập báo cáo
tài chính. Tham mưu cho ban giám đốc trong việc ra các quyết định
công tác quản lý tài chính cũng như công tác khác.
Phòng cơ điện: Thực hiện bảo dưỡng máy móc thiết bị, điều phối
điện và hơi theo dõi lý lịch máy móc thiết bị.
Phòng kỹ thuật: Thiết kế và đồ giác mẫu, xây dựng định mức kỹ
thuật, định mức vật tư.
Phòng KCS (kiểm tra chất lượng sản phẩm): Là đại diện của công ty
kiểm tra chất lượng sản phẩm từ quá trình sản xuất đến thành phẩm
hoàn thiện đóng thùng xuất khẩu.
Phòng kế hoạch vật tư: Có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất kinh
doanh của công ty (lập kế hoạch sản xuất, tiếp nhận và cân đối vật
tư gia công, cung ứng vật tư mua ngoài…)
Phòng tổ chức lao động và tiền lương: Có nhiệm vụ kết hợp với
phòng Tài vụ, phòng Kỹ thuật xây dựng định mức lao động,ký hợp
đồng lao động, theo dõi, chấm công và tính tiền lương cho cán bộ
công nhân viên.
Phòng hành chính: Có nhiệm vụ xây dựng và quản lý toàn bộ hệ
thống văn bản tài liệu toàn công ty theo nguyên tắc văn thư bảo