Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
1 TIỂU LUẬN
Chất lượng tăng trưởng kinh tế_cơ sở lý luận
và thực tế ở Việt Nam
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
2.3 Giai đoạn 2001-2010 28
2.3.1 Đường lối kinh tế của Đảng 28
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
3
2.3.2 Tình hình kinh tế 28
2.3.3 Hiệu quả và đánh giá 34
Chương 3: GIảI PHÁP 40
PHẦN C: KẾT LUẬN 42
Nam qua từng giai đoạn. Và qua đó, đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục tình
trạng tăng trưởng không bền vững như hiện nay.
2. MỤC ĐÍCH_NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
9 Cung cấp các kiến thức cơ bản về tăng trưởng,tăng trưởng bền vững
9 Nghiên cứu các giai đoạn tăng trưởng kinh tế c
ủa Việt Nam : những
hạn chế và tích cực
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
5
9 Phân tích thực trạng tăng trưởng qua các giai đoạn kinh tế của Việt
Nam từ năm 1986 đến nay.
9 Đưa ra các giải pháp nhằm đem đến sự tăng trưởng bền vững cho Việt
Nam. 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng hai phương pháp là định lượng và định tính cho đề tài. Kết hợp các
phương pháp phân tích,tổng hợp,tìm kiếm thông tin cho các bộ số liệu. Tiến hành xử
lí số liệu bằng phần mềm EVIEWS cho bộ số liệu cập nhật,để đưa ra mô hình và phân
tích.
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nước đang phát triển (nhìn chung) . Đặc
biệt nghiên cứu về các giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.
5. NGUỒN SỐ LIỆU
Số liệu được tìm kiếm thong qua các công cụ internet, kết hợp v
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “chất lượng tăng trưởng” và hiện chưa
có một khái niệm chính thức nào. Theo cách hiểu rộng nhất thì chất lượng tăng
trưởng kinh tế có thể tiến tới nội hàm của quan điểm vể phát triển bền vững, chú
trọng tới ba thành tố kinh tế, xã hội và môi trường. Theo cách hiểu hẹp thì khái niệm
có thể chỉ giới hạn ở một khía cạnh nào đó như chất lượng đầu tư, chất lượng giáo
dục, dịch vụ công, quản lý đô thị tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào đi nữa thì nó vẫn
có tính chất chung là không chỉ có mức và tốc độ tăng trưởng là quan trọng mà biết
được cách để đạt được tăng trưở
ng cao và duy trí trong dài hạn mới quan trọng hơn.
Chất lượng tăng trưởng được thể hiện trên hai khía cạnh đó là: tốc độ tăng
trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn và tăng trưởng cần phải đóng góp trực tiếp
vào cải thiện một cách bền vững phúc lợi xà hội, cụ thể là phân phối thành quả của
phát triển và xóa đói giảm nghèo. Nói đến tăng trưởng giờ đây không chỉ
đơn thuần
là tăng thu nhập bình quân đầu người, mà hai mục tiêu khác không kém phần quan
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
7
trọng là duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và tăng thu nhập phải gắn với
tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói giảm nghèo.
Tóm lại, tăng trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ quá cao, mà chỉ cần cao
ở mức hợp lý nhưng bền vững. Nâng cao chất lượng tăng trưởng vì vậy có ý nghĩa
lớn cho các nhà hoạch định chính sách, nhất là các nước
đang phát triển. Để đạt được
điều đó, việc xem xét các khía cạnh của quá trình tạo tăng trưởng mà bất chấp các
hậu quả về phân phối thành quả. Trái lại, tăng thu nhập một cách bền vững, cải thiện
đời sống vật chất cho các nhóm người nghèo cũng phải được quan tâm trực tiếp ngay
từ trong quá trình tạo tăng trưởng.
Trong đó:
AVA là giá trị gia tăng của ngành nông,lâm,ngư nghiệp
IVA là giá trị gia tăng của ngành công nghiệp
SVA là giá trị gia tăng của ngành dịch vụ
• Phương pháp tiêu dùng:GDP tương đương với tổng chi tiêu về hàng
hóa dịch vụ cuối cùng
GDP=C+I+G+X-M
Trong đó:
C:Chi tiêu mua hàng tiêu dùng và dịch vụ của khu vực hộ gia đình không bao
gồm xây dựng nhà m
ới
I:Đầu tư gộp bao gồm đầu tư cố định và kinh doanh của khu vực tư nhân ,đầu
tư cố định và đầu tư vào hàng tồn kho.
G:Chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ không bao gồm chi chuyển
nhượng.
NX:Gía trị hàng hóa và dịch vụ được xuất khẩu sang các nước khác trừ giá trị
hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài.
• Phương pháp thu nhập:GDP được tính dựa vào tổng thu nhập của các
yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động trong quá trình sản xuất.
GDP= W+i+Pr+R+Ti+De
Trong đó:
Thu nhập của người cung cấp sức lao động:Tiền lương W
Thu nhập của người thuê tài sản: Tiền thuê (R)
Thu nhập của người cho vay:Tiền Lãi (i)
Thu nhập của người sản xuất kinh doanh:Lợi nhuận (Pr)
Thu nhập của chính phủ:Thuế gián thu(Ti)
Ngoài ra còn Khấu hao (De)
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
9
1.3.1.1 Chỉ tiêu phản ánh sử dụng hiệu quả sử dụng lao động – nă
ng suất
lao động
Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, có thể đơn giản lấy
GDP (theo giá cố định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động). Nếu GDP bình quân
trên mỗi lao động càng lớn, thì năng suất lao động xã hội càng cao.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
10
Dưới góc độ ngành hay doanh nghiệp, GDP có thể được thay thế bằng các
chỉ số khác có sẵn như giá trị sản phẩm, từ đó có chỉ số giá trị sản phẩm trên một giờ
lao động hoặc chỉ số giá thành lao động trên một đồng giá trị sản phẩm. Đây là những
chỉ số theo dõi chi phí và năng suất lao động.
1.3.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn – H
ệ số ICOR
ICOR là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp xác định mối quan hệ giữa vốn - tư bản
và đầu ra - GDP, nếu ICOR quá lớn thì chúng ta phải mất một lượng tư bản lớn để tạo
ra một giá trị GDP gia tăng. Ngoài ra, ICOR còn xác định mức độ sử dụng vốn trong
nền kinh tế. Những nước sử dụng nhiều vốn (thực chất là máy móc thiết bị, công
nghệ) thì ICOR cao, những n
ước sử dụng nhiều lao động thì ICOR thấp.
Có hai phương pháp tính hệ số ICOR
- Thứ nhất:
ICOR =
01
1
YY
I
11
góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). TFP (năng suất lao động tổng
hợp) là tổng hợp của các nhân tố hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và năng suất lao động
và phụ thuộc vào hai yếu tố: tiến bộ công nghệ kỹ thuật và hiệu quả sử dụng các yếu
tố đầu vào.
TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đ
óng góp vào tăng trưởng kinh
tế sẽ đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh
tế từ bên ngoài. Có thể thấy, tốc độ tăng TFP và đóng góp TFP vào tăng truỏng kinh
tế chỉ là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực sản
xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển bền vững của kinh tế, là
cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiên bộ khoa học công nghệ,
đánh giá trình độ quản lý sản xuất… của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc
gia.
Tốc độ tăng trưởng TFP được tính theo công thức
G
TFP
= g
Y
– (ag
K
+ bg
L
)
Trong đó, g
Y
là tốc độ tăng GDP, g
K
là tốc độ tăng vốn hoặc tài sản cố định,
vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất.
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh tăng trưởng
Khả năng cạnh tranh của một quốc gia được xem xét dưới ba góc độ: sản phẩ
m
hàng hóa, doanh nghiệp và quốc gia.
Để đo khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước, chúng ta
thường sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh hoặc trên
doanh thu.
● Tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất = (lợi nhuận thực hiện/vốn sản xuất) x 100
● Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = (lợi nhuận thực hiện/giá trị
sản xuất) x 100
Tỷ suất lợi nhuận càng cao, nghĩa là sản xuất càng có hiệu quả. Khi tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao và tỷ suất lợi nhuận có cùng xu thế thì chất lượng tăng trưởng tốt
và ngược lại.
Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt được tăng trưởng bền vững, thu
hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế
, xã hội, nâng cao đời sống của người dân…
của một nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh tăng trưởng (GCI) được xây dựng dựa trên 3
yếu tố cơ bản: môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng của các định chế quốc gia và
khoa học công nghệ.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
131.3.4 Các thước đo chất lượng tăng trưởng liên quan đến phúc lợi xã hội
1.3.4.1 Tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việc tạo nhiều công ăn việc làm cho
nngười lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và thời gian nhàn rỗi ở
Tính chất rộng và phức tạp của khái niệm công bằng xã hội cũng dẫn đến
những khác biệt trong việc thể hiện và các thước đo công bằng xã hội. Một số công
cụ và thước đo chủ yếu như: đường cong Lorenz; hệ số Gini; mức độ thỏa mãn nhu
cầu cơ bản của con người; chỉ số phát triển xã hội tổng hợp; chỉ số chất l
ượng vật
chất của cuộc sống…
1.3.5 Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến bảo vệ và cải
thiện môi trường
Tăng trưởng kinh tế cùng việc tổ chức sản xuất của con người luôn gắn liền với
việc khai thác các nguồn tài nguyên và môi trường thiên nhiên để sản xuất . Tăng
trưởng kinh tế và sử dụng tài nguyên môi trường có mối quan hệ với nhau và được
xem xét qua rất nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chính sau: nhịp độ tăng trưởng
của GDP cả nước và giá trị gia tăng của các ngành trong tương quan so sánh với mức
độ cạn kiệt tài nguyên và tình hình ô nhiễm môi trường…
1.4 Các yếu tố tác động đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế chịu tác động của 2 nhân tố bao gồm nhân tố kinh tế và phi
kinh tế.
1.4.1 Nhân tố kinh t
ế
Các nhân tố kinh tế tác động đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế bao
gồm: vốn, lao động, tiến bộ công nghệ và tài nguyên.
Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp tới tăng trưởng
kinh tế vốn sản xuất có liên quan trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế được hiểu là vốn vật
chất, nó là toàn bộ tư li
ệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế như máy móc thiết
bị nhà xưởng. Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế trường
phái Keynes đánh giá rất cao nó được lượng hóa qua mô hình Harrod-Domar:
ICOR=
động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng ngược lại đối với các nước
công nghiệp vai trò của vốn con người và tiến bộ công nghệ quan trọng hơn các công
trình nghiên cứu mà nguồn gốc tăng trưởng đều cho rằng trong bối cảnh chuyển đổi
nền kinh tế
hậu công nghiệp sang kinh tế tri thức, thì nhân lực và khoa học công nghệ
vượt trội hơn nhân tố khác.
1.4.2 Nhân tố phi kinh tế
Các nhân tố phi kinh tế bao gồm nhân tố chính trị, xã hội, thể chế có tác động
gián tiếp và rất khó lượng hóa mức độ tác động của chúng tới tăng trưởng kinh tế các
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
16
nhân tố phi kinh tế tác động tới tăng trưởng kinh tế như: yếu tố văn hóa xã hội, thể
chế, cơ cấu dân tộc tôn giáo và sự tham gia của cộng đồng.
Văn hóa xã hội là nhân tố quan trọng tác động nhiều tới quá trình phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia nó bao trùm nhiều mặt từ tri thức phổ thông đến những tích
lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học công nghệ, vă
n học, lối sống, phong
tục tập quán. Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát
triển cao của mỗi quốc gia. Trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là nhân tố cơ bản để tạo
ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý. Xét trên khía cạnh
kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển.
Thể chế là những rằng buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương
tác giữa người với người các thể chế chính trị-xã hội được thừa nhận có tác động đến
quá trình phát triển đất nước đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành lang pháp lý và
môi trường đầu tư. Để đánh giá chất lượng của thể chế có thể sử dụng 4 tiêu chí để đo
lường bao gồm: tham nhũng, chất lượng bộ máy hành chính, tuân thủ pháp luật và bảo
vệ quyền tài sản. Một cấu trúc thể chế tốt sẽ tạo ra sự khuyến khích nhất định ảnh
hưởng đến việc phân bổ nguồn lực con người theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng
đang ở chặng đường đầu tiên. Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu
tổng quát là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền
đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường
tiếp theo.
Muốn thực hiện những "nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát “thì trong 5
năm trước mắt (1986-1990) cần tập trung sức người, sứ
c của thực hiện bằng được
nhiệm vụ, mục tiêu của ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu. Những mục tiêu cụ thể là:
• Bảo đảm nhu cầu lương thực của xã hội và có dự trữ; đáp ứng một
cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm. Mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm
đủ tái s
ản xuất sức lao động.
• Đáp ứng nhu cầu của nhân dân về những mặt hàng tiêu dùng thiết
yếu.
• Tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạch
xuất khẩu để đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và
những hàng hóa cần thiết.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
18
Muốn thực hiện những mục tiêu của Ba chương trình kinh tế, thì nông nghiệp,
kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp phải được đặt đúng vị trí là mặt trận hàng đầu và được
ưu tiên đáp ứng nhu cẩu về vốn đấu tư, về năng lực, vật tư, lao động, kĩ thuật v.v .
2.1.2 Tình hình kinh tế
Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986 – 1990), công cuộc đổi mới đ
ã đạt được những
thành tựu bước đầu rất quan trọng. Việc thực hiện tốt 3 chương trình mục tiêu phát
vượt kế hoạch; thị trường tiêu thụ đã bớt dược phần nào căng thẳng. Tổng giá trị sản
xuất công nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong đ
ó sản xuất hàng tiêu dùng tăng 13
– 14%.
• Chương trình sản xuất hàng xuất khẩu đã được triển khai thực hiện
với những thay đổi cơ bản về thể chế,chính sách khuyến khích xuất khẩu, khai thác
nguồn hàng, mở rộng, tìm kiếm thị trường….nhờ vậy đã khơi dậy khả năng xuất khẩu
của đất nước,giải quyết phần nào khó khăn về
ngoại tệ do nền kinh tế của Mỹ bao
vây,cấm vận.Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu trong năm năm (1896-1990) tăng
28%/năm.Thị trường dần dần được mở rộng,nhất là thị trường khu vực 2 (khu vực
trao đổi ngoại thương bằng đồng đô la Mỹ).
2.1.3 Kết quả và đánh giá
Thành công trong kế hoạch năm năm 1986-1990 không đơn thuần là phục hồi
được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,….mà quan trọng hơn là đã
chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống
kinh tế xã hội và giải phóng sức lao động.
Tuy nhiên các biện pháp đổi mới cơ chế quản lý phần lớn chỉ mới tác động
trong những năm cuối kỳ kế hoạ
ch năm năm 1986-1990, nên mức độ thực hiện các
mục tiêu đề ra trong kế hoạch năm năm (1986-1990) đã bị hạn chế. Đất nước vẫn
chưa ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, xã hội. Kinh tế phát triển chậm và không
ổn định:bình quân thời kỳ 1986-1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo thu nhập
quốc dân) đạt 3.9%. Hầu hết các cân đối lớn đều rất căng thẳng: thâm hụt ngân sách
chiếm trên 8% GDP.Lạm phát phi mã tuy đã được đẩy lùi nhưng còn rất cao từ
774,7% năm 1986 còn 67,5% năm 1990. Thu nhập bình quân đầu người rất thấp, tỷ lệ
tiết kiệm nội địa hầu như không đáng kể(2,9% GDP). Hàng hóa thiếu, nhất là hàng
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
20
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
21
điểm thành tựu đạt được bước đầu thực hiện đường lối đổi mới là rất quan trọng, song
khó khăn, yếu kém cũng rất lớn, đó là: đất nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh
tế, xã hội, công cuộc đổi mới còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng
bỏng vẫn chưa được giải quyết:
N
ền kinh tế còn mất cân đối lớn, lạm phát ở mức cao, lao động còn
thiếu việc làm, hiệu quả kinh tế thấp, nhiều cơ sở sản xuất bị đình đốn kéo dài, chưa
có tích lũy từ nội bộ nến kinh tế.
Chế độ tiền lương bất hợp lí, đời sống của những người sống chủ yếu
bằng tiền lương (hoặ
c trợ cấp xã hội) và của một bộ phận nông dân bị giảm sút. Tốc
độ tăng dân số còn cao.
Sự nghiệp văn hóa còn những mặt tiếp tục xuống thấp. Tình trạng
tham nhũng, ăn hối lộ, mất dân chủ, bất công xã hội, vi phạm pháp luật, kỉ luật, kỉ
cương và nhiều hiện tượng tiêu cực khác còn nặng nề và phổ biến.
2.2 Giai đoạ
n 1993-2000- Thời kì phát triển mạnh
2.2.1 Đường lối kinh tế của Đảng
Đại hội Đảng lần VII (6/1991) thông qua chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của Việt Nam “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000” đồng
thời đề ra kế hoạch phương hướng cho kế hoạch 5 năm 1991-1995.
2.2.2 Tình hình kinh tế
Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyể
n biến nổi bật,
lạm phát
cao tiềm ẩn khi hệ số ICOR tăng mạnh. Trong giai đoạn này hệ số ICOR tăng lên do
cuộc khủng hoảng 1997 Ngân hàng Trung Ương tăng cung tiền mạnh trong khi hiệu
quả đầu tư không cao.
• Thời kỳ 1992-1995, lạm phát còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với
các thời kỳ trước. Nguyên nhân chủ yếu do cung đã tăng (tăng trưởng kinh tế 1991-
1995 đạt 8,2%/năm, đặc biệ
t lương thực vượt nhu cầu trong nước, đã có xuất khẩu với
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
23
khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra phương châm: đối với ngân sách thì thu lấy mà chi;
đối với ngân hàng thì vay lấy mà cho vay-có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền
cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt. Thời kỳ 1996-2000 được coi là thiểu phát,
khi CPI tăng rất thấp (mặc dù năm 1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng
khu vực, với tỷ giá năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% và giá lương thực tăng
23,1%, giá thực phẩm tăng 8,6%. Nhưng nhìn chung cả
thời kỳ này đã có 3 năm,
trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp; giá lương thực, thực phẩm giảm hoặc tăng
thấp.
• Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam đã trải qua
nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Mọi dự kiến của kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 đều
được thực hiện vượt mức khá cao. Trong thời kỳ khủng khoảng tài chính tiền tệ ở các
nước châu Á, tuy tốc độ tăng trưởng của nước ta có sự giảm sút, nhưng về cơ bản
chúng ta vẫn tránh được "cơn bão" của cuộc khủng khoảng, để sau đó tiếp tục tăng
quy mô GDP của đất nước, tăng xuất khẩu, phát triển công nghiệp, trở thành một
nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.
Bảng: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế qua các năm, %
Năm 1990 1995 1997 2000 2001
Chất lượng tăng trưởng kinh tế-cơ sở lí luận và thực tế ở Việt Nam Nhóm 7
25
Giai đoạn 1997-2000: TFP vẫn ở mức tương đối cao, nhưng có chiều hướng
giảm (từ 3,27 xuống 2,21). Đây cũng là giai đoạn tăng trưởng kinh tế giảm sút do
cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ của khu vực.
2.2.3 Kết quả và đánh giá
Cùng với tăng trưởng kinh tế cao (giai đoạn 1991 - 1995 tăng trưởng GDP bình
quân là 8,2%, 1996 – 2000 tốc độ tăng GDP bình quân là 6,9%, chất lượng tăng
tr
ưởng kinh tế cũng đang được cải thiện. Tuy nhiên, theo nhiều đánh giá trong nước
và quốc tế, mặc dù Việt Nam đạt được những kết quả tăng trưởng cao, nhưng đó là
những kết quả tăng trưởng theo chiều rộng chứ chưa có sức bật tăng trưởng theo chiều
sâu. Việt Nam vẫn đang ở trong ranh giới của những nước kém phát triển theo tiêu
chuẩn của Liên hợp quốc.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế ngày được cải thiện một cách đáng kể trong
giai đoạn này qua một sô chỉ tiêu:
Thu nhập theo đầu người ngày càng tăng. Trước thời kỳ đổi mới, phần lớn dân
số nước ta sống bằng nghề nông, Việt Nam bị đánh giá là một đất nước nghèo nàn, lạc
hậu, với mức thu nhập bình quân đầu người rất thấp và có nhiề
u người trong diện
nghèo đói. Đường lối đổi mới và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều
cơ hội việc làm cho người lao động, dẫn đến nâng cao thu nhập cho người dân. Tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam trong giai đoạn 1990 - 2002 đạt
trung bình 5,2%
Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng lên đáng kể. Nhờ chú