tiểu luận đánh giá về cán cân thương mại của việt nam. những thuận lợi, cơ hội và những khó khăn thách thức khi là thành viên của wto - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Đề tài 5:Đánh giá về cán cân thương mại của Việt
Nam. Những thuận lợi, cơ hội và những
khó khăn thách thức khi là thành viên
của WTO


Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất
lợi và xuất khẩu ròng tăng lên. Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 sẽ giảm và các giả
i pháp kiềm
chế nhập siêu năm 2009 Thứ Ba, ngày 10/02/2009

Đánh giá 2010

1.Cán Cân Thương Mại Việt Nam Tiếp Tục Bị Thâm Thủng,

Về kinh tế, theo báo cáo mới nhất của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, thâm thủng trong cán
cân thương mại của Việt Nam lên đến 30% trong 9 tháng đầu năm nay so với cùng thời kỳ hồi
năm ngoái. Trong 9 tháng đầu năm 2009, nhập siêu của Việt Nam là 6.45 tỷ đôla. Trong 9 tháng
đầu năm nay 2010, thâm thủng lên đến 8.5 tỷ theo thẩm định của cơ quan thống kê. Trong thời
gian này, Việt Nam xuất cảng 51.5 tỷ đô la hàng hóa nhưng phải nhập khẩu đến 60 tỷ đôla.

Theo giải thích của Tổng cục thống kê thì tỷ lệ thâm thủng gia tăng là do tăng nhu cầu nhập cảng


máy móc để sản xuất đến 11.6%. Một trong những nguồn thu nhập ngoại tệ của Việt Nam là dầu
khí, thế nhưng Việt Nam đã phải chi ra đến 4.9 tỷ đôla để sản xuất dầu hỏa nhưng chỉ thu vào
được 3.7 tỷ đôla tiền bán dầu thô trong 9 tháng đầu năm nay. Để thúc đẩy xuất khẩu và chống
thâm thủng mậu dịch, tháng 8 vừa qua Ngân hàng nhà nước phá giá đồng bạc Việt Nam 2.1%
nhưng kết quả không mấy khả quan trong việc kích thích kinh tế.

Cũng trong 9 tháng đầu năm nay vật giá đã tăng 8.6%. Trong một tin khác, trong bản báo cáo
cập nhật về triển vọng phát triển châu Á năm 2010 công bố hôm nay, Ngân hàng Phát triển châu
Á gọi tắt là ADB, đã đánh giá lạc quan hơn về tăng trưởng của châu Á, trong đó có Việt Nam.
Từ mức 6.5% dự báo vào tháng 4 vừa qua, tỷ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã được điều
chỉnh lên thành 6.7% cho năm nay và 7% cho năm 2011.


USD, tăng 12,7% và là mức tăng cao nhất trong số các nhóm hàng. Thực tế này cho thấy, trình
độ phát triển của nền kinh tế ngày càng cải thiện, cơ cấu hàng XK dần thay đổi về chất, theo
hướng hiện đại, gia tăng tỷ trọng và hàm lượng chế biến trong hàng hóa XK, mang lại giá trị gia
tăng cao hơn tính trên từng đầu sản phẩm. Hiện đã có 6 mặt hàng có KNXK hơn 1 tỷ USD là
thủy sản, gạo, dầu thô, gỗ và sản phẩm gỗ, dệt may, giày dép. Cụ thể, thủy sản đạt kim ngạch
1,28 tỷ USD, gạo: 1,12 tỷ USD, dầu thô: 1,78 tỷ USD, sản phẩm gỗ: 1 tỷ USD, dệt may: 3,04 tỷ
USD, da giày: 1,36 tỷ USD. Ngoài ra, một số mặt hàng có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng
XK, như than đá đạt 485 triệu USD (tăng 27,8%); linh kiện điện tử ước đạt 0,99 tỷ USD (tăng
39,1%); máy móc, thiết b
ị phụ tùng đạt 0,9 tỷ USD (tăng 78,4%); dây và cáp điện và phương tiện
vận tải và phụ tùng hơn 2 lần. Tuy nhiên, một số mặt hàng giảm, như sắn và sản phẩm sắn giảm
52,4% về lượng và 12,9% về kim ngạch; cà phê giảm 16,1% về lượng và 22,7% về kim ngạch
(tương đương 193 triệu USD). Đáng chú ý là, giá nhiều mặt hàng XK tăng trên thị trường thế
giới đã đóng góp đáng kể vào KNXK, như giá hạt điều tăng 16,3%, chè các loại tăng 5,5%, hạt
tiêu: 28,7%, gạo: 15,2%, sắn và sản phẩm từ sắn: 83,4%, than đá: 44,9%, dầu thô: 72,1%, cao su:
96,5%. Tính chung, sự tăng giá này góp phần tăng thêm khoảng 1,45 tỷ USD trong tổng KNXK.
Tốc độ tăng trưởng KNXK tháng 4 và bốn tháng vào một số thị trường chính như châu Á tăng
lần lượt so với cùng kỳ năm ngoái là 42,4% và tăng 37,8%; EU tăng 11,3% và tăng 5,5%; Hoa
Kỳ tăng 22,3% và tăng 22,6%; Trung Quốc tăng 62,3% và tăng 54,6%. .

Cảnh báo mất cân bằng cán cân thương mại

KNNK tháng 4 ước 6,95 tỷ USD, tăng 3% so với tháng 3 và tăng 25% so với tháng 4-
2009, trong đó NK của các DN trong nước ước đạt 4 tỷ USD, tăng 10,7%; nhưng DN có vốn đầu
tư nước ngoài (ĐTNN) đạt 2,95 tỷ USD, tăng 51,5%. Tính chung bốn tháng, KNNK đạt 24,8 tỷ
USD, tăng 35,6% so với cùng kỳ. Trong đó NK của các DN trong nước đạt 14,56 tỷ USD, tăng
23,4%, NK của các DN có vốn ĐTNN ước đạt gần 10,25 tỷ USD, tă
ng 55,6%. Điều này cho
thấy, hoạt động sản xuất đã phục hồi và kéo theo nhu cầu NK phục vụ sản xuất của DN tăng trở
lại. Xét theo nhóm hàng, thì nhóm hàng cần thiết NK bốn tháng ước đạt 19,24 tỷ USD (tăng

xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, ODA không có sự khác biệt nhiều giữa hai báo cáo.

Các con số đáng chú ý là đầu tư nước ngoài vẫn được giữ ở mức dự báo trước, ước đạt
171,9 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 8,5 tỷ USD (không bao gồm phần đóng góp trong
nước), bằng 21,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tăng gần 28% so với năm 2009.
Trong khi đó, giải ngân vốn ODA cả năm 2010 đạt khoảng 3,5 tỷ USD (vốn vay là 3,2 tỷ USD,
viện trợ không hoàn lại là 300 triệu USD), trong đó 558,5 triệu USD là các khoản giải ngân
nhanh.

Tuy nhiên, nhập siêu năm 2010 được dự báo khoảng 13,5 tỷ USD, bằng 19,8% tổng kim
ngạch xuất khẩu. Con số này thấp hơn 500 triệu USD so với kết quả dự báo của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư trước đó. Nguyên nhân được ghi nhận là do xuất khẩu tăng thêm tương ứng, ước đạt
68 tỷ USD, trong khi nhập khẩu giữ nguyên mức 81,5 tỷ USD.

Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội ngày 18/10 tỏ ra lo lắng về tình hình thâm
hụt thương mại tăng cao.

Nhập siêu tuy đạt mứ
c dưới 20% kim ngạch xuất khẩu nhưng số tuyệt đối dự kiến vẫn là 13,5
tỷ USD, tăng 5% so với năm 2009 (năm 2009 là 12,85 tỷ USD). Nếu loại trừ đá quý, kim loại
quý xuất khẩu thì nhập siêu vẫn trên 23%.

“Đây là yếu tố chính làm cán cân vãng lai thâm hụt khoảng 10% so với GDP. Nhập siêu kéo
dài trong nhiều năm đã làm sụt giảm nguồn dự trữ ngoại hối, tăng nợ quốc gia và gây sức ép
giảm giá đồng nội tệ. Thâm hụt cán cân vãng lai lớn cùng với thâm hụt ngân sách cao, nợ công
có xu hướng tăng nhanh sẽ là những trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế trong những năm tới
đây”, Uỷ ban Kinh tế nhìn nhận.

”Theo tiêu chí của IMF, tỷ lệ thâm hụt cán cân vãng lai 8% GDP sẽ ảnh hưởng đến cân đối vĩ
mô của quốc gia”, báo cáo thẩm tra trích dẫn như một lưu ý về vấn đề này.


4. Cán cân thương mại được cải thiện, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đều tăng so với
cùng kỳ 2009 là điểm nổi trội trong hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta, nhất là từ quý
III/2010.

Số liệu của Tổng cục Thống kê công bố ngày 25/10 cho thấy, kim ngạch xuất khẩu cả nước trong
10 tháng qua đạt 57, 776 tỷ USD. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu 10 tháng là 67,278 tỷ
USD. So với 10 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu tăng 23,3%; trong khi kim ngạch
nhập khẩu chỉ tăng 20,7%. 

Từng bước cải thiện cán cân thương mại

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2010 đã từng
bước được cải thiện. Nếu như hết quý I/2010, xuất khẩu chỉ tăng 1,6% trong khi nhập khẩu tăng
tới 40,2%; hết quý II xuất khẩu tăng 17%, nhập khẩu tăng 29,1%, thì đến hết quý III tốc độ tăng
xuất khẩu đã cao hơn tốc độ tăng nhập khẩu (xuất khẩu tăng 23,2%, nhập khẩu tăng 22,7%).
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên, xuất khẩu đang có chuyển biến tích
cực, bình quân mỗi tháng đạt 5,78 tỷ USD, cao hơn mức bình quân kế hoạch năm (kế hoạch năm
60,5 tỷ USD với mức bình quân 5,04 tỷ USD/tháng). Những kết quả khả quan này đạt được nhờ
có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, việc triển khai tích cực nhiều giải pháp của Bộ Công
Thương nhằm đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu.
Cán cân thương mại nhờ đó đã được cải thiện đáng kể so với những tháng đầu năm.
Vụ Thị trường ngoài nước (Bộ Công Thương) đánh giá, xuất khẩu tăng trên tất cả các thị trường
v

tốc độ tăng cao. Trong đó, có nhiều mặt hàng có sự tăng trưởng vượt trội như: hoá chất tăng hơn
2,9 lần, sắt thép các loại tă
ng hơn 2,8 lần, phương tiện vận tải tăng 76,7%, dây điện và cáp điện
tăng 67,8%, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 55,2%, sản phẩm hoá chất tăng 49,8%
Trong lĩnh vực nông nghiệp- nông thôn, lũy kế 9 tháng, đã xuất khẩu được trên 969.200 tấn thủy
sản, trị giá trên 3,5 tỷ USD, tăng 10,9% về khối lượng và 15,4% về giá trị so với cùng kỳ 2009.
Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam nhận định, với tốc độ như hiện nay, giá trị
xuất khẩu thủy sản năm 2010 của cả nước có thể đạt 4,5 tỷ USD như dự kiến.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, tính đến hết tháng 9/2010, tổng lượng gạo xuất
khẩu 9 tháng đạt 5,55 triệu tấn, kim ngạch đạt 2,56 tỷ USD, tăng 11,75% về lượng và 14,35% v

giá trị.
VFA dự tính thời gian còn lại của năm 2010 sẽ xuất khẩu tổng cộng 1,2 triệu tấn gạo nữa. Như
vậy, xuất khẩu gạo cả năm 2010 của Việt Nam có thể đạt 6,5- 6,6 triệu tấn.
Theo Bộ NN&PTNT, lượng cao su xuất khẩu 10 tháng qua ước đạt trên 600.000 tấn, đạt gần 1,7
tỷ USD, tăng gần 7,7% về lượng nhưng tăng hơn 92% về giá trị so v
ới cùng kỳ 2009. 


Phần II: NHỮNG KHÓ KHĂN – THUẬN LỢI,
THÁCH THỨC – CƠ HỘI KHI VIỆT NAM
GIA NHẬP TỔ CHỨC WTO.

I.KHÁI QUÁT VỀ WTO ( TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI)
I.1. Giới thiệu chung :
Trụ sở: Geneva, Thụy Sĩ
Ngày thành lập: 01-01-1995

có thể tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của các doanh nghiệp:
Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN): Theo nguyên tắc này, mỗi nước thành viên phải dành sự đối xử
không phân biệt cho hàng hoá và dịch vụ đến từ các nước thành viên WTO khac nhau.
Như vậy doanh nghiệp xuất khẩu vào một thị trường sẽ được cạnh tranh công bằng với doanh
nghiệp xuất khẩu đến từ các nước khác.


Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước thành viên phải đối xử với
hàng hoá, dịch vụ đến từ các nước thành viên khác (sau khi đã hoàn tất các nghĩa vụ thuế liên
quan) không kém thuận lợi hơn hàng hoá, dịch vụ nội địa của mình.
Với nguyên tắc này doanh nghiệp xuất khẩu vào một thị trường nhập khẩu về cơ bản sẽ được
cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp nội địa trong nước nhập khẩu đó.
Nguyên tắc cắt giảm thuế quan và không sư dụng các biện pháp phi thuế quan: theo nguyên tắc
này, các thành viên WTO phải cam kết cắt giảm thuế quan và chỉ sử dụng hệ thống thuế quan
này để bảo vệ sản xuất trong nước - phải bãi bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan (hạn ngạch,
cấp phép nhập khẩu…) trừ một số trườ
ng hợp hãn hữu được phép.
Với nguyên tắc này, việc nhập khẩu hàng hoá sẽ trở nên rõ ràng và dễ dự đoán hơn, tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu.
Nguyên tắc minh bạch: nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên WTO phải công khai, rõ ràng, dễ
dự đoán trong các thủ tục, quy trình hay quy định liên quan đến thương mại.
Với nguyên tắc này, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tìm kiếm thông tin cần thiết cho hoạt động kinh
doanh của mình mà không mất quá nhiều chi phí. Ngoài ra, minh bạch hoá cũng giúp doanh
nghiệp thuận lợi hơn trong việc nhận biết và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.
I.5 Chức năng của tổ chức:
WTO được thành lập với 04 nhiệm vụ chủ yếu:
· Thúc đẩy việc thực hiện các Hiệp định và cam kết đã đạt được trong khuôn khổ WTO (và
cả những cam kết trong tương lai, nế
u có);
· Tạo diễn đàn để các thành viên tiếp tục đàm phán, ký kết những Hiệp định, cam kết mới về

chấp.

II. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
2.1 Thuận lợi:
2.1.1 Về mặt lý thuyết:
9 Hội nhập thương mại quốc tế và dựa theo nguyên tắc tối hệu quốc ( MFN),nguyên tắc đối
xử quốc gia tạo nên một thị trường rộng lớn, không bị phân biệt đối xử hàng hóa, có
điều kiên cạnh tranh công bằng nên hàng hóa Việt Nam được tiêu thụ dễ dàng hơn
9 Được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) với vị thế của nước đang phát triển.
Đây là những yếu tố quan trọng để Việt Nam phát huy những lợi thế về tài nguyên và lao
động, thâm nhập vào thị trường quốc tế và nhập khẩu những yếu tố cần thiết phục vụ quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
9 Là thành viên của WTO các nước thành viên cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp trong việc nắm bắt thông tin thị trường nhanh, dễ và kịp thời hơn cho hoạt động
kinh doanh của mình .( dựa theo nguyên tắc minh bạch)
9 Với cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO, Việt Nam sẽ dễ dàng đối mặt với
các vụ kiện, tranh chấp trên thị trường hơn
9 Người lao động có nhiều cơ hội tìm việc làm và tăng thêm thu nhập do vị thế thành viên
WTO giúp chúng ta dễ dàng tăng cường trao đổi hàng hóa, tăng lượng FDI chảy vào Việt
Nam
2.1.2 Trên thực tế :
9 Công nghiệp: năm 2007, Chỉ mới 6 tháng đầu đầu tư cho công nghiệp đã tăng lên 14%
do đầu tư tăng nên nhập khẩu hàng hóa cũng tăng đến 30,6% ở 6 tháng đầu.Xuất khẩu cũng gia
tăng một mức nhất định điển hình là hàng dệt, quần áo tăng 25.9% và ngành xuất khẩu gỗ sau
khi bãi bỏ hạn nghạch cũng tăng vượt mức lên 23%.Đến năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp
cả năm 2009 ước đạt 696.577 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó có sự đóng
góp lớn nhất của khối doanh nghiệp ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể,
giá trị sản xuất công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh năm 2009 đạt mức tăng trưởng 9,9%; khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,1%, trong đó dầu khí tăng 9,2%, các ngành khác tăng 8%,
còn khu vự

trình hoàn tất các thủ tục và đáp ứng các điều kiện tham gia WTO của ta chậm trễ. Những yêu
cầu về mở cửa thị
trường do các thành viên WTO đưa ra rất cao, trong khi Việt Nam chỉ đủ sức
đưa ra những cam kết thấp.
2.2 2.Bất lợi của người đi sau
Việc gia nhập WTO sau 148 nước, trong đó có những nước tiềm năng xuất khẩu lớn như
Thái Lan, Trung Quốc… càng làm tăng sự bất lợi của Việt Nam. Việc Trung Quốc trở thành
thành viên chính thức của WTO năm 2001 đã khiến Việt Nam khó khăn hơn trong việc cạ
nh
tranh với hàng hóa Trung Quốc vốn đang tràn ngập thị trường thế giới với giá rẻ. Việt Nam và
Trung Quốc vốn tương đối giống nhau về trình độ kinh tế cũng như các mặt hàng xuất khẩu.
Xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có bốn sản phẩm giống của Trung Quốc, đó là hàng dệt may,
giày dép, gốm sứ và hàng điện tử. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều có mục tiêu là xuất sang các
thị trường Nhật, ASEAN, EU, Mỹ. Là thành viên của WTO, Trung Quốc được hưởng những
mức thuế ưu đãi khi xuất sang các nước này, do vậy cuộc cạnh tranh sẽ ngày càng trở nên gay
gắt.
2.2.3.Cạnh tranh với các nước đang phát triển và phát triển
Gia nhập WTO nghĩa là tham gia một sân chơi bình đẳng. Nhiều nước đang phát triển có
cùng trình độ như Việt Nam, có các chủng loại hàng hóa, dịch vụ tương tự như chúng ta, nhưng
họ đã gia nhập WTO trước và đã được hưởng một số ưu đãi. Việt Nam sẽ là đối thủ cạnh tranh
với các nước đang phát triển khác về hàng xuất khẩu vào các thị trường lớn như Mỹ, EU… Để
duy trì lợi thế cạnh tranh, các nước này không muốn chúng ta có những điều kiện ưu đãi hơn họ
khi chúng ta gia nhập WTO. Vì vậy, trong quá trình đàm phán đa phương và song phương, Việt
Nam cần khẳng định quyết tâm tham gia một sân chơi bình đẳng, tôn trọng lợi ích của các quốc
gia khác, đặc biệt là với các đối tác có tiềm năng xung đột cạnh tranh nhưng đồng thời phải
thuyết phục để họ hiểu thực trạng kinh tế Việt Nam và có những nhân nhượng thỏa đáng.
Khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng sẽ phải cạnh tranh với các nước đã phát triển, nhất là
trong lĩnh vực nông nghiệp mà Việt Nam có thế mạnh. Việt Nam mong muốn giữ nguyên mức
trợ cấp xuất khẩu như hiện nay và dần dần giảm xuống phù hợp với các điều khoản của WTO.
Thế nhưng, tại một số nước phát triển, nông sản vẫn tiếp tục được trợ giá và rõ ràng hàng nông

trong nước, thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất, công
nghệ quản lý, rút ngắn khoảng cách phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
¾ Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác : nghĩa là có
tiếng nói trong thị trường thương mại thế giới, có cơ hội đấu tranh nhằm thiết lập một trật
tự kinh tế mới công bằng và hợp lý hơn, và có thể bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệp cũng
như đất nước mình.
¾ Là cơ hội để chúng ta có thể thúc đẩy quá trình cải cách của ta đồng bộ hơn hiệu quả hơn.
¾ Cơ hội cho Việt Nam có thể nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế.
3.2 Thách thức
3.2.1.Về sức ép cạnh tranh:
Khi gia nhập vào tổ chức WTO, các thành viên phải tiến hành tiến trình giảm thuế, cắt
giảm hàng rào phi thuế quan, loại bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường dịch vụ,…Cùng với quá trình
hội nhập, VN sẽ phả
i thực hiện mở cửa dẫn đến việc hàng loạt các mặt hàng từ các nước đổ vào
tràn ngập thị trường Việt Nam. Chính những điều đó khiến môi trường kinh doanh ở nước ta
ngày càng trở nên cạnh tranh hơn. Đây là thách thức không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp,
nhất là đối với những doanh nghiệp nhà nước đã quen với “bầu vú cao cấp” của nhà nước. Hơn
thế nữa, đây là cuộc cạnh tranh diển ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” mạnh hơn, trên bình diện
rộng hơn,sâu hơn. Vì vậy, các doanh nghiệp phải chủ động và sẵn sàng đối diện với thách thức
này bởi đó là hệ quả tất yếu của sự phát triển là chặng đường mà mọi quốc gia đều phải đi qua
trên con đường hướng tới kết quả phồn vinh. Dù có không gia nhập WTO thì thách thức này sớm
muộn cũng sẽ đến.
Đặc biệt, hai lĩnh vực chủ lực của Việt Nam là nông nghiệp và dệt may cũng phải đối đầu
với những khó khăn khi VN gia nhập WTO. Thị trường nông nghiệp của các nước phát triển vẫn
được bảo hộ cao , sự duy trì các biện pháp trợ cấp được ngụy trang khéo; thị trường dệt may vẫn
chịu sự chi phối của các hạn ngạch và thời gian xóa bỏ các hạnh ngạch là rất dài. Các nước WTO
sẽ sử dụng những quy định chặt chẽ hơn về trợ cấp xuất khẩu và tín dụng xuất khẩu với hành
nông sản. điều này gây khó khăn không nhỏ cho VN bởi ta đang trợ cấp XK 4 mặt hàng: gạo,



Trên thế giới sự phân phối lợi ích của tòn cầu hóa là không đồng đều. Những nước có nền
kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ích ít hơn. Ở mỗi Quốc Gia, sự phân phối lợi ích cũng
không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực
của toàn cầu hóa, nguy cơ phá sản của một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thật nghiệp sẽ tăng
lên phân hóa giàu nghèo trong XH sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và
an sinh xã hội đúng đắn phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng:”tăng cường
kinh tế đi đôi với xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng XH ngay trong từng bước
phát triển.
Bên cạnh đó hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường,
giữ gìn trật tự XH bảo vệ an ninh QG giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân
tộc chống lại lối sống thực dụng tha hóa về mặt đạo đức.
3.2.5. Thách thức về nguồn nhân lực
Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hóa, tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các
nước sẽ tăng lên. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện,
kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là một khó khăn không nhỏ, tạo
thách thức lớn đối với nguồn nhân lực nước nhà.
Để quản lý một cách nhất quán toàn bộ tiến trình hội nhập hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo
dựng môi trường cạnh tranh năng động và cải cách có hiệu quả nề
n hành chính quốc gia, bên


cạnh quan tâm về mặt chủ trương cần phải có một đội ngũ cán bộ đủ mạnh xuyên suốt từ trung
ương tới địa phương. Đây cũng là một thách thức to lớn đối với nước ta do phần đông cán bộ của
ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành một nền kinh tế mở có sự tham gia của các yếu tố
nước ngoài. Nếu không có sự cân b
ằng từ bây giờ thách thức này sẽ chuyển thành khó khăn dài
hạn rất khó khắc phục. Ngoài ra , để tận dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và
tham gia có hiệu quả vào các cuộc đàm phán trong tương lai của tổ chức này, chúng ta cần phải
có một đội ngũ cán bộ thông thạo quy định và luật lệ của WTO, có kinh nghiệm và kỹ năng đàm
phán quốc tế. Thông qua đàm phán gia nhập ta đ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status