GVHD: PGS.TS Phạm Quang
LỜI MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường và xu hướng sản xuất của
các doanh nghiệp là hạch toán kinh tế độc lập và tự khẳng định sự vững chắc
của mình, đẻ cùng đất nước trên con đường hội nhập tổ chức kinh tế thế giới
WTO. Vì thế một trong những mối quan tâm của doanh nghiệp hiện nay. Để
muốn duy trì và phát triển sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, sự bùng nổ của
doanh nghiệp sản xuất, thì vấn đề cần thiết để đáp ứng và tồn tại được trên
thương trường, ngày càng khốc liệt, đó là vấn đề giảm chi phí, hạ giá thành sản
xuất mà vẫn tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp được
thị trường chấp nhận.
Trong doanh nghiệp sản xuất thì nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong
toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp của doanh nghiệp. Một biến động nhỏ về
nguyên vật liệu cũng làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Do đó một trong
những mối quan tâm và đặc biệt chú ý của doanh nghiệp là công tác tổ chức, ghi
chép phản ánh chi tiết, tổng hợp số liệt về tình hình thu mua, vận chuyển, nhập-
xuất- tồn kho nguyên vật liệu, tính toán giá thành thực tế của vật liệu thu mua,
tình hình thực hiện kế hoạch cung ứng vật liệu cả về số lượng và chất lượng mặt
hàng.
Xuất phát từ những lý luận, yêu cầu và thực tiễn đặt ra em chọn đề tài "
Hoàn thiện tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH sản xuất và
thương mại Hữu Nghị" nhằm vận dụng lý thuyết để tìm hiểu lý luận thực tế kê
toán nguyên vật liệu trong đơn vị sản xuất, từ đó tìm ra ưu nhược điểm trong
công tác quản lý công tác kế toán nguyên vật liệu. Vì vậy để rút ra kinh nghiệm
học tập và đề xuất một số ý kiến với mong muốn làm hoàn thiện hơn nữa tổ
chức kế toán nguyên vật liệu ở công ty TNHH sản xuất và thương mại Hữu
Nghị.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba
chương chính sau:
Phần I: Tổng quan về Công ty TNHH sản xuất và thương mại Hữu
Nghị
kinh tế bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần. Chuyến sang cơ chế mới còn
nhiều bỡ ngỡ và bắt kịp được nhu cầu của thị trường cần một sản phẩm sơn
trang trí đẹp và rẻ, từ sản phẩm vôi ve thông thường công ty đã năng động đẩy
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
2
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
mạnh học hỏi từ thị trường nước ngoài công nghệ sản xuất cũng như khả năng
tiếp thu kiến thức từ công nghệ mới đã được công ty Trường Sơn áp dụng, đội
ngũ nhân viên cũng được nâng cao học hỏi tay nghề từ những chuyên gia có
nhiều kinh nghiệm về công nghệ mới, Công Ty TNHH sản xuất và thương mại
Hữu Nghị dần làm quen với nguyên tắc tự hoạt động tự trang trải tự tồn tại và
phát triển.
Sự thay đổi của Nhà Nước trong thời kỳ mới gây ảnh hưởng không ít đến
việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty. Sản phẩm mới làm ra không
tiêu thụ được thay vào đó là giá cả vật tư tăng vọt và khan hiếm việc đảm báo
chi phí cho công nhân viên bước vào giai đoạn khó khăn.
Tuy khó vậy song công ty luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước.
Công ty dùng hình thức gia công chế biến, liên doanh, liên kết tự tiêu thụ sản
phẩm, tự xây dựng đánh giá, tự tìm khách hàng có hiệu quả, có lãi để cạnh tranh
trên thị trường.
Công ty tìm cách xâm nhập vào thị trường cạnh tranh với sản phẩm giá rẻ
cho đến sản phẩm sơn cao cấp có mặt trên thị trường, đẩy mạnh cho thị trường
trong nước đến ngoại tỉnh mở rộng cho khắp thị trường trên cả nước.
Tên đơn vị : Công ty TNHH sản xuất và thương mại Hữu Nghị.
Địa Điểm : 1006 Đường Láng- Hà Nội .
1.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty .
Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty được thể hiện bằng
các chỉ tiêu kế toán. Cụ thể được thể hiện qua một số bảng sau:
Bảng 1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH TỪ NĂM
Chỉ tiêu
Đ/vị
tính
Kế hoạch Thực hiện %TH/KH
1 Giá trị sản xuất
đồn
g
7.200.000.000
6.250.000.00
0
86,8%
2 Doanh thu
đồn
g
9.600.000.000
8.375.000.00
0
87,2%
3 Nộp ngân sách
đồn
g
314.000.000
236.097.67
0
75,19%
4 Sản phẩm chủ yếu 228 238 104,4%
5
Thu nhập bình
quân
đồn
* Nguồn nhân lực công ty :
Đây là điều tất yếu hết sức quan trọng quyết định đến sự thành công hay
thất bại của công ty. Chính vì thế, ngay từ khi thành lập Công ty không ngừng
đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Hàng năm công ty vẫn tổ chức tuyển thêm công nhân viên từ nguồn cao
đẳng, đại học và trung học dạy nghề. Đến nay công ty đã có 120 cán bộ công
nhân viên, điều quan trọng là tuổi đời của cán bộ công nhân viên trong công ty
còn trẻ, nên đã không ngừng phát huy tính sáng tạo của tuổi trẻ.
Để phát huy tối ưu thế mạnh này nhờ công ty đã áp dụng chế độ tiền lương
thoả đáng. Mỗi các bộ công nhân viên được giao nhiệm vụ cụ thể và trực tiếp
chịu trách nhiệm trước công ty, người làm tốt sẽ có thưởng vào cuối tháng.
Công ty cũng đã áp dụng chế độ khoán theo sản phẩm nên mọi công nhân trong
công ty đều tận tâm với công việc của mình.
Đầu tư cho đào tạo tăng cường chất xám cho cán bộ công nhân viên cũng
là một điều kiện quan trọng để công ty phát triển vững mạnh. Công ty xác định
được rằng con người là nền tảng quan trọng vững chắc tạo nên sự thành công
của Công ty. Tất cả 100% công nhân viên vào làm việc tại công ty đều đã được
đào tạo cơ bản và thậm chí có người còn được học với chuyên môn cao.
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
5
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
* Cơ cấu tổ chức sản xuất.
Là sự tập hợp các bộ phận sản xuất chính, sản xuất phụ trợ và các bộ phận
phục vụ có tính chất sản xuất cùng với mối quan hệ giữa các bộ phận đó với
nhau trong quá trình sản xuất.
a. Các bộ phận sản xuất chính:
Phân xưởng sản xuất gồm có: Dây chuyền sản xuất, máy tính đưa ra
thông số kỹ thuật hợp lý cho dây chuyền sản xuất vận hành, bộ phận lắp giáp,
bộ phận kiểm tra thông số, bộ phận thiết kế, bộ phận vận hành máy.
b. Bộ phận sản xuất phụ gồm có:
Giám đốc: là đại diện pháp nhân của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm trước
cơ quan quản lý cấp trên và pháp luật, điều hành hoạt động của doanh nghiệp.
Giám đốc có quyền hành cao nhất trong doanh nghiệp.
Đồng chí giám đốc trực tiếp phụ trách:
- Phòng tổ chức hành chính bảo vệ.
- Trưởng ban thi đua khen thưởng.
- Chủ tịch hội đồng kỷ luật.
- Chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ và anh ninh quốc phòng.
Phó giám đốc kinh doanh: chịu trách nhiệm trước giám đốc, trực tiếp chỉ
đạo khối kinh tế và nghiệp vụ gồm các phòng ban chức năng:
+ Chịu trách nhiệm chỉ đạo xây dựng kế hoạch năm kế hoạch dài hạn.
+ Phụ trách công tác cung cấp vật tư, nguyên nhiên vật liệu và tiêu thụ sản
phẩm.
+ Chịu trách nhiệm công tác đối ngoại, giao dịch mở rộng thị trường, mở
rộng sản xuất kinh doanh.
+ Chỉ đạo công tác thống kê - kế toán, hạch toán của Công ty.
Phó giám đốc kỹ thuật - sản xuất:
+ Chỉ đạo công tác tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến
và thiết kế sản phẩm mới.
Dưới quyền của giám đốc và phó giám đốc là các phòng ban.
- Phòng kế hoạch - thương mại: có nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch ngắn
hạn, dài hạn, điều hành sản xuất, ký các hợp đồng mua bán quản lý kho tàng,
thống kê tổng hợp.
- Phòng tài vụ: có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh toàn bộ hoạt động của
Công ty, giám sát tình hình sử dụng vốn (vốn cố định, vốn lưu động), tình hình
tài chính và các hoạt động khác.
- Phòng tổ chức hành chính bảo vệ.
- Phòng kỹ thuật- công nghệ: Nghiên cứu thiết kế các sản phẩm mới và cải
tiến sản phẩm, xây dựng định mức vật tư, nguyên nhiên vật liệu và định mức lao
động cho sản phẩm mới, quản lý về chất lượng sản phẩm.
số 1.
- Kế toán tiền lương: theo dõi việc trả lương, BHXH, KPCĐ cho cán bộ
công nhân viên.
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
9
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
- Kế toán nguyên vật liệu: theo dõi nguyên vạt liệu nhập, xuất, tồn.
- Kế toán tiêu thụ: theo dõi TK131 (thanh toán với người mua) cuối tháng
vào bảng kê số 11 rồi chuyển cho kế toán tổng hợp vào sổ.
- Thủ quỹ: Quản lý tiền mặt của Công ty, căn cứ vào các chứng từ được
duyệt hợp lý, hợp lệ, hợp pháp để tiến hành thu chi tiền mặt, ngân phiếu phục vụ
sản xuất. Ghi chép thường xuyên việc thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.
Thanh toán các khoản bằng ngân phiếu hoặc tiền mặt.
Sơ đồ 3:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH HỮU
NGHỊ
1.1.4.2. Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo.
Trong những năm gần đây, do đất nước chuyển mình theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước nên rất nhiều lĩnh vực được thay đổi để thích ứng
với tình hình mới,cơ cấu tài chính kế toán cũng đã có những bước thay đổi biểu
hiện ở sự ra đời của hệ thống kế toán mới ban hành theo quyết định số
167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 và sửa đổi theo thông tư số 23/2005/TT-
BTC ngày 30/03/2005 do bộ tài chính ban hành tuân thủ các tài khoản cấp 1; tài
khoản cấp 2 cho phù hợp với đăc điểm nghành..
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức kinh doanh, chế độ hiện hành của nhà nước
công tác tổ chức kế toán của Công ty TNHH sản xuất và thương mại Hữu Nghị
có những đặc điểm sau.
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
1
0
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
1
1
Ghi cuối tháng
Ghi chú:
Ghi đầu tháng
Ghi đối chiếu kiểm tra
Chứng từ gốc
Bảng phân bổBảng kê
Nhật ký -
Chứng từ
Thẻ và sổ kế
toán chi tiết
Sổ cái
Bảng tổng hợp
chi tiết
Báo cáo tài
chính
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc của các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh, lấy số liệu trực tiếp ghi vào bảng kê cuối tháng ghi thẻ và số kế toán có liên
quan.
Nhật ký chứng từ được ghi hàng ngày dựa trên số liệu của chứng từ gốc,
cuối tháng chuyển sổ tổng cộng của bảng kê, sổ chi tiết vào nhật ký chứng từ.
Căn cứ vào số liệu trên các bảng phân bổ, kế toán ghi vào nhật ký chứng từ liên
quan. Cuối tháng khoá sổ, cộng các số liệu trên các nhật ký chứng từ và ghi vào
sổ cái. Đối với các chứng từ liên quan đến sổ và thẻ kế toán chi tiết ghi trực tiếp
vào các sổ, thẻ có liên quan. Cuối tháng cộng sổ, thẻ kế toán và căn cứ vào đó
lập bảng cân đối tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với sổ cái. Số
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
1
3
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
1
4
Tổ Bao Bì
In thành
Phẩm
Tổ thiết kế
Phòng
máy
Tổ kiểm
định
Cán bộ quản lý
Nhân viên phục
vụ
Kho
Tổ Cơ điện
Phân xưởng
trung tâm
Phòng kỹ thuật
công nghệ
Phòng Tổ chức
hành chính - bảo
vệ
Đại lý Nhà
khách
Ban
KTCB
sản xuất, nguyên liệu, vật liệu cần được theo dõi và quản lý chặt chẽ về các mặt
hiện vật và giá trị ở tất cả các khâu mua sắm, dự trữ và bảo quản sử dụng.
- ở khâu mua hàng đòi hỏi phải quản lý việc thực hiện kế hoạch mua hàng
về số lượng, khối lượng, chất lượng, quy cách, phẩm chất, chủng loại, giá mua
và chi phí mua cũng như đảm bảo đúng tiến độ thời gian đáp ứng kịp thời nhu
câầ của sản xuất, kinh doanh trong doanh nghiệp.
- ở khâu bảo quản phải tổ chức tốt kho tàng, bến bãi, trang bị đầy đủ các
phương tiện đo lường cần thiết, tổ chức và kiêể tra việc thực hiện chế độ bảo
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
1
5
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
quản đối với từng loại nguyên liệu, vật liệu tránh hư hỏng, mất mát, đảm bảo an
toàn tài sản.
- ở khâu sử dụng đòi hỏi phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm, chấp hánh tốt các
định mức, dự toán chi phí nhằm tiết kiệm chi phí nguyên liệu, vật liệu góp phần
quan trọng để hạ giá thành sản phẩm, tăng thu nhập và tích luỹ cho đơn vị.
1.3. Nhiệm vụ của kế toán nguyên liệu, vật liệu.
Để phát huy vai trò, chức năng của kế toán trong công tác quản lý nguyên
liệu, vật liệu trong doanh nghiệp, kế toán cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cơ bản
sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời số lượng, khối lượng,
phẩm chất, quy cách và giá trị thực tế của từng loại, từng thứ nguyên liệu, vật
liệu và công cụ, dụng cụ nhập, xuất và tồn kho.
- Vận dụng đúng đắn các phương pháp hạch toán, phương pháp tính giá
nguyên liệu, vật liệu nhập, xuất kho. Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận, phòng
ban chấp hành các nguyên tắc, thủ tục nhập, xuất và thực hiện nghiêm chỉnh chế
độ chứng từ kế toán.
- Mở các loại sổ (thẻ) kế toán chi tiết theo từng thứ nguyên liệu, vật liệu
theo đúng chế độ, phương pháp quy định.
và cần thiết cho quá trình sản xuất. Ví dụ: Thuốc nhuộm, sơn, vecni...
Căn cứ vào công dụng, vật liệu phụ được chia thành các nhóm:
+ Nhóm vật liệu làm tăng chất lượng nguyên liệu, vật liệu chính.
+ Nhóm vật liệu làm tăng chất lượng sản phẩm
+ Nhóm vật liệu đảm bảo điều kiện cho quá trình sản xuất.
- Nhiên liệu là loại vật liệu phụ trong quá trình sản xuất có tác dụng cung
cấp nhiệt lượng. Nhiên liệu có thể tồn tại ở các thể rắn, thể lỏng hoặc thể khí.
- Phụ tùng thay thế: Là những chi tiết, phụ tùng máy móc, thiết bị được dự
trữ để sử dụng cho việc sửa chữa, thay thế các bộ phận của TSCĐ hữu hình.
- Vật liệu và thiết bị XDCB là các loại vật liệu và thiết bị dùng cho công
tác xây dựng cơ bản để hình thành TSCĐ như bê tông đúc sẵn, panel, dầm, kỳ,
kèo...
- Vật liệu khác bao gồm các loại vật liệu chưa được phản ánh ở các loại
vật liệu trên.
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
1
7
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
2.2. Sổ danh điểm nguyên liệu, vật liệu.
Đầu năm kế toán, phòng kế toán cần lập sổ danh điểm nguyên liệu, vật
liệu để liệt kê toàn bộ các loại nhóm, thứ nguyên liệu, vật liệu sử dụng trong
doanh nghiệp. Danh điểm nguyên liệu, vật liệu là mã số bằng hệ thống các chữ
số thập phân (có thể kết hợp các chữ cái) để quy định cho từng thứ nguyên liệu,
vâậ liệu. Khi lập danh điểm cần phải đảm bảo khoa học và hợp lý, đáp ứng yêu
cầu dễ nhớ và dễ ghi, tránh nhầm lẫn, trùng lặp.
Sổ danh điểm nguyên liệu, vật liệu có thể lập theo mẫu sau:
Sổ danh điểm nguyên liệu, vật liệu
Danh điểm
Tên nhãn hiệu quy cách VL
Đơn vị
Nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau, nên nội dung các yếu tố cấu thành giá gốc của nguyên liệu, vật liệu
được xác định theo từng trường hợp nhập, xuất.
* Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu nhập kho.
- Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu thuê ngoài gia công chế biến nhập kho,
được tính theo công thức sau:
= + +
- Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu nhận góp liên doanh, vốn cổ phần hoặc
thu hồi vốn góp được ghi nhận theo giá trị được các bên tham gia góp vốn liên
doanh thống nhất đánh giá chấp nhận.
- Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu nhận biếu, tặng.
= +
- Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu được cấp:
= +
- Giá gốc cùa phế liệu thu hồi là giá ước tính theo giá trị thuần có thể thực
hiện.
* Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu xuất kho.
Do giá gốc của nguyên liệu, vật liệu nhập kho từ các nguồn nhập khác
nhau như đã trình bày ở trên, để tính giá gốc hàng xuất kho, kế toán có thể sử
dụng một trong các phương pháp tính giá trị hàng tồn kho sau:
- Phương pháp tính theo giá đích danh: Giá trị thực tế của nguyên liệu, vật
liệu xuất kho tính theo giá thực tế của từng lô hàng nhập. áp dụng đối với doanh
nghiệp sử dụng ít thứ nguyên liệu, vật liệu có giá trị lớn và có thể nhận diện
được.
- Phương pháp bình quân gia quyền: Giá trị của loại hàng tồn kho được
tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
1
9
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
2
0
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của
lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá
của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gâầ đầu kỳ còn tồn kho.
2.3.2. Đánh giá nguyên liệu, vật liệu theo giá hạch toán.
Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, sản xuất nhiều mặt hàng
thường sử dụng nhiều loại, nhóm, thứ nguyên liệu, vật liệu hoạt động nhập xuất
nguyên liệu, vật liệu diễn ra thường xuyên, liên tục nếu áp dụng nguyên tắc tính
theo giá gốc (giá trị thực tế) thì rất phức tạp, khó đảm bảo yêu cầu kịp thời của
kế toán. Doanh nghiệp có thể xây dựng hệ thống giá hạch toán để ghi chép hàng
ngày trên phiếu nhập, phiếu xuất và ghi sổ kế toán chi tiết nguyên liệu, vật liệu.
Giá hạch toán là giá do kế toán của doanh nghiệp tự xây dựng, có thể là
giá kế hoạch, hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được trên thị trường. Giá hạch
toán được sử dụng thống nhất trong toàn doanh nghiệp và được sử dụng tương
đối ổn định, lâu dài. Trường hợp có sự biến động lớn về giá cả doanh nghiệp câầ
xây dựng lại hệ thống giá hạch toán.
Kế toán tổng hợp nguyên liệu, vật liệu phải tuân thủ nguyên tắc tính theo
giá trị thực tế. Cuối tháng kế toán phải xác định hệ số chênh lệch giữa giá trị
thực tế và giá trị hạch toán của từng thứ (nhóm hoặc loại) nguyên liệu, vật liệu
để điều chỉnh giá hạch toán của từng loại nguyên liệu, vật liệu được tính theo
công thức sau:
= x
2.3.3. Thủ tục nhập, xuất kho nguyên liệu, vật liệu.
Thủ tục nhập nguyên liệu, vật liệu.
Bộ phận cung cấp vật tư căn cứ vào kế hoạch mua hàng và hợp đồng mua
hàng đã ký kết, phiếu báo giá để tiến hành mua hàng. Khi hàng về đến nơi, nếu
xét thấy cần thiết có thể lập ban kiểm nghiệm để kiểm nhận và đánh giá hàng
mua về các mặt số lượng, khối lượng, chất lượng và quy cách, căn cứ vào kết
vật liệu cho từng loại sản phẩm. Do vậy hàng tháng, quý căn cứ vào khả năng
sản xuất của Công ty giữa thu mua vật tư phục vụ kịp thời cho sản xuất.
Nguồn cung cấp vật tư: Vật tư phục vụ cho công tác sản xuất của Công ty
chủ yếu là ở trong nước phần còn lại phải nhập ở nước ngoài . Đây là điều kiện
khá thuận lợi cho công tác thu mua vật liệu. Bởi nơi thu mua sẽ ảnh hưởng đến
giá cả thu mua nguyên vật liệu, từ đó sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, giá
thành, thu nhập và lợi nhuận. Những ảnh hưởng trên có quan hệ tỷ lệ nghịch với
nhau, nếu nơi cung cấp nguyên vật liệu của Công ty ở xa ngoài những chi phí
chung như nhà kho, bến bãi Công ty còn phải trả khoản chi phí vận chuyển, nếu
ở gần thì chi phí vận chuyển thấp, giá thành của sản phẩm thấp, sản phẩm được
khách hàng tin dùng được nhiều lợi nhuận và thu nhập bình quân đầu người cao,
tạo nhiều công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên. Còn nếu chi phí vận
chuyển, cộng các chi phí liên quan cao thì nó sẽ đội giá thành của sản phẩm lên,
sản phẩm không đủ sức cạnh tranh với thị trường về giá cả thì dẫn đến tình trạng
sản phẩm của Công ty sản xuất ra không được khách hàng tin dùng, dẫn đến lợi
nhuận giảm và thu nhập bình quân người/tháng giảm xuống. Do đó vấn đề mua
sản phẩm ở đâu và như thế nào đó cũng là vấn đề cần quan tâm ở Công ty.
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
2
3
GVHD: PGS.TS Phạm Quang
Các đơn vị thường xuyên cung cấp vật liệu cho Công ty:
+ Công ty Thanh Phụng ( bột màu)
+ Công ty Cao Sơn ( Sắt, thép )
+ Công ty 4 Oranges (động cơ)
+ Công ty cổ phần công nghiệp Đông Á
+ Công ty cổ phần xây lắp và Sản xuất cơ khí Phú Cường
Với những khách hàng thường xuyên có ký các hợp đồng mua bán, Công ty
chủ yếu áp dụng theo phương thức mua hàng trả chậm, đôi khi mua theo phương
thức trả tiền ngay.
nhiệm vụ kế hoạch sản xuất mà Công ty giao cho từng phân xưởng, để sản xuất
từng loại máy với những chi tiết của nó.
d) Quy chế bảo vệ và chế độ trách nhiệm vật chất
Nói đến công tác quản lý vật tư thì không thể nói đến vai trò của thủ kho.
Bởi thủ kho ngoài nhiệm vụ quản lý và bảo quản tốt nguyên vật liệu có không
kho, còn phải cập nhật sổ sách hàng ngày, theo dõi số hiện có và tình hình nhập
xuất nguyên vật liệu ở trong kho về mặt số lượng, hàng ngày ghi chép vào thẻ
kho (mẫu 06VT), khi hết báo cho phòng kế hoạch, vật tư đi mua. Trường hợp
thủ kho ghi thiếu so với kiểm kê thì phải bổ sung thẻ kho, còn trong trường hợp
thủ kho không đảm bảo số lượng vật liệu khi kiểm kê mà có thể bị mất hoặc thất
lạc, thì phải chịu bồi thường vật chất tuỳ thuộc mức độ.
Đối với người công nhân:
+ Khi nhận chi tiết thành phẩm hoặc bán thành phẩm để xắp xếp hoặc phân
loại sản phẳm phải sơ bộ kiểm tra chất lượng, quy cách (nứt vỡ, không đạt yêu
cầu kỹ thuật. Sau khi nhận xong phải có trách nhiệm bảo quản giữ gìn nếu xảy
ra mất mát hư hỏng ở khâu nào thì khâu đó chịu trách nhiệm.
+ Sản phẩm làm xong phải đưa vào nơi quy định, cuối ca làm việc không
để chi tiết bừa bãi mà phải xếp lại gọn gàng hoặc để vào trong kho.
2.1.2. Phân loại vật liệu ở Công ty Hữu Nghị
Hiện nay Công ty sản xuất sản phẩm chính phục vụ cho ngành kinh tế quốc
dân bao gồm các cơ sở hạ tầng cơ sở trang trí nội thất cho các công trình quốc
gia với sản lượng cung cấp cho thị trường hàng năm từ 160-180 nghìn sản phẩm.
Ngoài các sản phẩm chính Công ty còn sản xuất các sản phẩm phục vụ nhu cầu
thị hiếu của người tiêu dùng là chọn màu sắc cho phong phú cho ngôi nhà cũng
như công trình của mình đó là nhưng quyển catalo kiểu dáng sơn phụ thuộc cho
từng ngôi nhà . Để đáp ứng cho số lượng sản phẩm lớn như hiện nay thì khối
SVTH: Phương Thuý Hà Khoa: Kế toán
2
5