tài liệu ôn thi môn kinh tế chính trị lớp cao cấp chính trị hành chính - Pdf 25

1
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
CÂU 1: MỐI QUAN HỆ LƯỢNG GIÁ TRỊ HÀNG HÓA VỚI NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG VÀ CƯỜNG ĐỘ LAO ĐỘNG. Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ NGHIEN CỨU
ĐỐI VỚI HAI PHƯƠNG PHÁP SX GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG ĐIỀU KIỆN
CỦA THẾ GIỚI HIỆN NAY.
a) Khái niệm giá trị hàng hóa và lượng giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hoá là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong
hàng hoá.
- Đo lường lượng giá trị của hàng hoá là đo lường số lượng lao động đã hao phí để
sản xuất ra hàng hóa. Số lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hoá lại được đo bằng
thời gian lao động như: bằng giờ lao động, ngày lao động v.v Do đó, lượng giá trị của
hàng hoá cũng do thời gian lao động quyết định, nhưng không phải là thời gian lao động
cá biệt. Trong thực tế, một loại hàng hoá được đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản
xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là không giống
nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hoá của họ khác nhau. Thời gian
lao động cá biệt chỉ quyết định giá trị cá biệt của hàng hoá mà từng người sản xuất ra. Còn
giá trị xã hội của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra
hàng hóa.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động đòi hỏi để sản xuất ra một
hàng hoá trong điều kiện bình thường của xã hội, với trình độ kỹ thuật trung bình và
cường độ lao động trung bình.
Vậy lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra hàng hoá đó
- Trong thực tế, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá, thường
tương đương với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận hàng
hoá đó trên thị trường.
Cơ cấu lượng giá trị hàng hoá
Để sản xuất ra hàng hoá cần phải chi phí lao động bao gồm lao động quá khứ tồn tại
trong các yếu tố như tư liệu sản xuất: máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và lao động sống
hao phí trong quá trình chế biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm - hàng hóa mới. Sự kết

lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá
càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm tăng lên.
Lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá tỷ lệ thuận với lượng lao động kết tinh và tỷ lệ
nghịch với năng suất lao động xã hội. Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng
hoá xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội.
Năng suất lao động lại tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ khéo léo của người lao
động, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự
nhiên.
c) Mối quan hệ giữa lượng giá trị hàng hóa với
Cường độ lao động
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, là sự căng thẳng mệt nhọc của người lao
động. Vì vậy khi cường độ lao động tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một
đơn vị thời gian cũng tăng lên và lượng sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương ứng còn
lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm thì không đổi. Xét về bản chất, tăng cường độ lao
động cũng giống như kéo dài thời gian lao động. Cần lưu ý, tăng năng suất lao động và
tăng cường độ lao động tác động không giống nhau đối với lượng giá trị hàng hoá.
- Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động. Tăng năng suất lao
động vừa làm cho khối lượng sản phẩm tăng vừa làm cho giá trị một đơn vị hàng hoá
giảm xuống. Còn tăng cường độ lao động thì khối lượng hàng hoá tăng và khối lượng lao
động hao phí cũng tăng cùng một tỷ lệ nên giá trị một hàng hoá không đổi.
Mức độ phức tạp của lao động
Khi nghiên cứu tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, có một vấn đề đặt ra
là: phải chăng trong cùng một đơn vị thời gian lao động, thì bất cứ ai làm việc gì, nghề gì
thì cũng đều tạo ra một lượng giá trị như nhau?
3
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
Thực tế không phải như vậy. Trong một giờ lao động, chuyuên viên máy tính tạo ra
nhiều giá trị hơn người rửa bát. Bởi vì lao động của người rửa bát là lao động giản đơn, có
nghĩa là bất kì một người bình thường nào, không phải trải qua đào tạo, không cần có sự

7
× 100% = 140%
Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu
không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng
lên. Như thí dụ trên tỷ suất giá trị thặng dư từ 100%, tăng lên là 140%. Đây chính là
phương pháp sx GTTD tuyệt đối
Thời gian tất yếu 5 giờ
Thời gian thặng dư 5 giờ
Thời gian cần thiết 5 h
Thời gian thặng dư 7 h
4
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những
giới hạn nhất định đó là Giới hạn về mặt sinh lí do cn phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi,
giải trí để phục hồi sức khoẻ do đó không thể kéo dài bằng ngày tự nhiên hơn nữa công
nhân kiên quyết đấu tranh đòi rút ngắn ngày lđ nên quyền lợi hai bên có mâu thuẫn, thông
qua đấu tranh tùy tương quan lực lượng mà quyết định độ dài ngày lđ nhưng dù sao ngày
lđ phải dài hơn ngày lđ tất yếu và cũng không thể vượt qua giới hạn thể chất và tinh thần
của ngưới lđ trong từng giai đoạn lịch sử. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi ngày
lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng thế kỷ. đây cũng là cơ sở để các nhà
tư bản sử dụng phương pháp khác tinh vi hơn để tăng cường bóc lột đó là phương pháp :
sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động
tất yếu( thời gian lđ cần thiết) để kéo dài tương ứng thời gian lđ thặng dư trong khi độ dài
ngày lao động không đổi bằng cách tăng năng xuất lđ hoặc phát biểu cách khác là: giá trị
thặng dư tương đối là GTTD thu được nhờ rút ngắn thời gian lđ tất yếu bằng cách hạ
thấp giá trị sức lđ do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lđ
không thay đổi
Giả sử ngày lao động là 10 giờ với 5 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời
gian lao động thặng dư như biểu diễn ở sơ đồ dưới:

nhà tư bản đã vận dụng rất tốt vai trò của năng xuất lao động( với việc tăng năng xuất lđ
bằng cách không ngừng đổi mới và áp dụng tiến bộ của khoa học kĩ thuật) và cường độ lđ
để tạo ra nhiều giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối với quy mô và trình độ bóc lột ngày
càng cao hơn.
Câu 2: Phân tích tuần hoàn của tư bản sản xuất và tư bản tiền tệ. Liên hệ với việc rút
ngắn thời gian chu chuyển của TB. Ý nghĩa nghiên cứu vấn đề trên.
A. Phân tích tuần hoàn của tư bản sản xuất và tư bản tiền tệ
Khái niệm về tuần hoàn của tư bản: chỉ sự vận động của tư bản trải qua ba giai đoạn,
rồi quay trở về hình thái ban đầu vơi giá trị không chỉ đuợc bảo tồn mà còn tăng lên gọi là
sự tuần hoàn của TB.
Theo Mác thì: “Tuần hoàn của tư bản là sự biến chuyển liên tiếp của tư bản qua ba giai
đoạn, trải qua ba hình thức, thực hiện ba chức năng tương ứng, để trở về hình thái ban đầu
với lượng giá trị lớn hơn”(1).
Tuần hoàn của tư bản là một khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin chỉ sự vận động
của tư bản trải qua các giai đoạn, lầ
n lượt mang những hình thái khác nhau, thực hiện các chức năng rồi trở về hình thái ban
đầu với giá trị không những được bảo tồn mà còn tăng lên. Tuần hoàn của tư bản chỉ có
thể tiến hành bình thường trong điều kiện các giai đoạn khác nhau của nó không ngừng
được chuyển tiếp. Mặt khác, tư bản phải nằm lại ở mỗi giai đoạn tuần hoàn trong một thời
gian nhất định. Vì vậy, sự vận động tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục không
ngừng đồng thời là sự vận động đứt quãng không ngừng.
Tuần hoàn sản xuất: SX H’-T’-H SX
Mở đầu và kết thúc tuần hoàn là SX, vận đọng của TB biểu hiện ra là sự vận động không
ngừng của SX. Trong hình thái tuần hoàn này, hàng hoá và tiền tệ chỉ là những yếu tố trug
gian, toàn bộ quá trình lưu thông H’- T’-H chỉ là điều kiện trong SX. Tuần hoàn này chỉ rõ
TB-Hàng hoá từ quá trình SX mà ra, là kết quả trực tiếp của SX, còn TB tiền tệ là kết quả
của việc thực hiện TB hàng hoá, đồng thời là phương tiện mua, chuẩn bị các yếu tố cho
quá trình SX mới, nghĩa là TB tiền tệ chỉ là môi giới trung gian cho TB hàng hoá chuyển
biến thành TB SX.
Tuần hoàn của TB SX không chỉ ra được động cơ, mục đích vận động của TB, nhưng lại

thời gian mà theo Mác - Lênin nêu lên là: “Thời gian chu chuyển củatư bản là khoảng thời
gian kể từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thức nhấtđịnh (tiền tệ, sản xuất hàng hoá) cho
đến khi nó trở về tay nhà tư bản cũngdưới hình thức như thế, nhưng có thêm giá trị thặng
dư(3).
Như vậy tổng thờigian chu chuyển của một tư bản nhất định bằng thời gian lưu
thông và thờigian sản xuất của nó cộng lại. Thời gian củavòng chu chuyển ấy được quyết
định bởi tổng số thời gian sản xuất và thờigian lưu thông cộng lại. Tổng số thời gian ấy là
thời gian chu chuyển của tưbản. Do đó, thời gian chu chuyển của tư bản bao quát khoảng
thời gian từ mộtđịnh kỳ tuần hoàn tiếp theo; nó nói lên tính chu kỳ trong quá trình sinh
sốngcủa tư bản.
B. Liên hệ với việc rút ngắn thời gian chu chuyển
Chu chuyển của tư bản là khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin chỉ về sự tuần
hoàn của tư bản được lặp đi lặp lại không ngừng. Chu chuyển của tư bản nói lêntốc độ vận
động của tư bản cá biệt.
Thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn gọi là thời gian chu chuyển của tư
bản. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông.
Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất
bao gồm:
• Thời gian lao động
• Thời gian gián đoạn lao động
• Thời gian dự trữ sản xuất.
Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của các nhân tố như:
7
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
• Tính chất của ngành sản xuất, ví dụ ngành đóng tàuthời gian sản xuất thường dài
hơn ngành dệt vải hay dệt thảm trơn thời gian thường ngắn hơn dệt thảm trang trí hoa
văn
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lặp đi lặp lại
thì gợi là sự chu chuyển của tư bản. Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khác
nhau tuỳ theo thời gian sản xuất và lưu thông của hàng hóa. Thời gian chu chuyển của tư

- Một là, tăng tốc độ chu chuyển của TBCĐ sẽ:
+ Tránh được hao mòn hữu hình, vô hình
+ Cho phép đổi mới nhanh máy móc, thiết bị
+ Giảm chi phí bảo quản
8
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
+ Có thể sử dụng quỹ khấu hao để mở rộng quy mô sản xuất
+ Hết hạn sử dụng thì TB cố định có thể sử dụng như một công cụ tự nhiên, không
phải khấu hao nữa. Còn có thể bán thanh lý, do vậy cần phải xem xét kỹ.
- Hai là, tăng tốc độ chu chuyển của TBLĐ có tác dụng:
+ Có thể mở rộng quy mô sản xuất mà không cần phải có TBLĐ phụ thêm, nếu tận
dụng được công suất của thiết bị
+ Nếu quy mô sản xuất không đổi thì tăng tốc độ chu chuyển của TBLĐ sẽ tiết
kiệm được khối lượng TBLĐ.
- Ba là, đối với tư bản khả biến, việc tăng tốc độ chu chuyển càng hết sức quan
trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm tăng tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm.
Ý nghĩa tổng quát là tăng tốc độ chu chuyển của tư bản sẽ tăng được hiệu suất sử
dụng tư bản cho nhà tư bản, mang lại nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Tóm lại: Tăng tốc độ chu chuyển TB lên sẽ tăng vòng quay của vốn. Đối với TB cố
định rút ngắn thời gian khấu hao, tránh được hao mòn hữu hình và vô hình, thì sẽ tăng
vòng quay của TB cố định, rút ngắn thời gian chu chuyển cố định hoặc làm rút ngăn thời
gian khấu hao TB cố định máy móc, nhà xưởng tránh được hao mòn vô hình. Trong thời
đại công nghệ hao mòn vô hình diễn ra rất nhanh, xuất hiện rất nhiều máy móc khác cùng
loại năng suất cao hơn, giá thành lại rẻ. Do đó, phải tăng cường thời gian sử dụng máy
móc có nghĩa là tăng ca làm việc hoặc tăng thời gian lao động. Đối vơi TB cố định giảm
thời gian khấu hao giảm thời gian vô hình. Đối vơi TB lưu động rút ngăn thời gian SX,
tăng tốc độ quay vòng của vốn, cùng vốn sản xuất cố định mà vẫn có thể mở rộng SX
không cần tăng vốn mà vẫn thu được lợi nhuận cao.
Nếu tăng tốc độ chu chuyển của vốn lưu động thì có thể mở rộng SX mà không cần
tăng vốn hoặc nếu quy mô sx vẫn như cũ thì số vốn ứng ra ban đầu bỏ ra ít đi. Đối với tỉ

- - Sự khác nhau:
+ về nguồn gốc: tích tụ tư bản là giá trị thặng dư được tư bản hóa còn tư bản tập trung là những tư bản
cá biệt đã được hình thành trong xã hội.
+ về quy mô: tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản cá biệt và tư bản xã hội còn tập trung tư bản tăng
quy mô tư bản cá biệt không tăng tư bản xã hội
+ Về quan hệ: tư bản tích tụ là mối quan hệ giữa nhà tư bản và lao động còn tập trung tư bản là
phản ánh mối quan hệ cạnh tranh tư bản trong nội bộ giai cấp tư sản.Thực chất của tập trung tư bản là cơ
cấu lại tư bản xã hội dưới tác động của quy luật cạnh tranh.
+ Về phạm vi: tư bản tích tụ bị giới hạn bởi khối lượng giá trị thặng dư còn tập trung tư bản thì ngược
lại không bị giới hạn bởi khối lượng giá trị thặng dư.
+ Về vai trò : Tích tụ tư bản quyết định số vốn của một quá trình tái sản xuất mở rộng TBCN. Tập trung
tư bản cho phép tiến hành một nền sản xuất lớn TBCN.
Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ chặt chẽ với nhau và thúc đẩy nhau dưới tác động của cạnh
tranh.Tích tụ là điều kiện, là cơ sở cho tập trung tư bản. Tích tụ là quá trình làm cho tư bản thay đổi về
lượng, cạnh tranh gay gắt hơn, dẫn đến tập trung mạnh hơn. Tập trung làm cho tư bản thay đổi về chất,
làm tăng sức cạnh tranh của tư bản trên thị trường, tạo động lực trở lại cho tích tụ tư bản. Ảnh hưởng qua
lại này của tích tụ và tập trung tư bản làm cho tích lũy tư bản ngày càng tăng.
Quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng do đó nền sản xuất TBCN cũng ngày càng trở thành
nền sx xã hội hóa cao độ, làm cho mâu thuẫn kinh tế cơ bản của CNTB ngày càng sâu sắc thêm. Nếu
gạch bỏ tính chất TBCN thì tích tụ và taapjtrung tư bản là hình thức tích tụ và tập trung sản xuất, góp
phần làm tăng thu nhập quốc dân và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn vốn xã hội, đẩy nhanh quá
trình xã hội hoá sản xuất.
Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau phát triển. Tích tụ tư bản
làm tăng quy mô và sức mạnh của tư bản cá biệt, do đó cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, dẫn đến tập trung
mạnh hơn. Tập trung tư bản lạ tạo điều kiện thuận lợi để thu được nhiều giá trị thặng dư, đẩy nhanh tích
tụ, ảnh hưởng qua lại giữa tích tụ và tập trung tư bản ngày càng cao.
10
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
SỰ CHÊNH LỆCH GIỮA TƯ BẢN SỬ DỤNG VÀ TƯ BẢN TIÊU DÙNG LÀM TĂNG QUY MÔ
TÍCH LŨY ?

TĂNG QUY MÔ TÍCH LŨY
1. Khái niệm tích lũy tư bản
Đặc điểm phổ biến của tái sản xuất TBCN là tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở
rộng có nghĩa là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại với quy mô ngày càng lớn hơn.
Muốn vậy phải biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm.
11
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
Thí dụ: nhà tư bản ứng ra 1.000 đôla, sản xuất được 200 đôla giá trị thặng dư và
tiêu dùng 100 đôla, còn 100 đôla bỏ vào sản xuất thì quy mô của quá trình tiếp theo sau đó
sẽ là 1.100 đôla.
Vậy, tích luỹ tư bản là quá trình biến một phần GTTD thành tư bản phụ thêm
để mở rộng sản xuất hay là quá trình tư bản hoá một phần GTTD.
Đặc điểm phổ biến của tái sản xuất TBCN là tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở rộng
là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại với quy mô ngày càng lớn hơn. Muốn vậy, phải
biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm.
Tích lũy tư bản là quá trình biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở
rộng sản xuất hay là quá trình tư bản hóa một phần giá trị thặng dư.
Khi nghiên cứu tái sản xuất mở rộng hay tích lũy tư bản, ngoài những kết luận rút ra từ tái
sản xuất giản đơn, Các Mác còn rút ra thêm các kết luận sau:
Một là, nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư. Tư bản tích lũy chiếm
tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản, còn tư bản ứng trước chỉ là “một giọt nước trong
dòng sông ngày càng lớn của tích lũy”. Như vậy, toàn bộ sự giàu có của giai cấp tư bản
đều là kết quả của sự chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân tạo ra.
Hai là, sự chuyển hóa các quy luật sở hữu nền sản xuất hàng hóa thành các quy luật của sự
chiếm hữu tư bản chủ nghĩa. Nhà tư bản là người sản xuất hàng hóa, là người sở hữu tư
bản và ứng tư bản ra mua các yếu tố của quá trình sản xuất theo đúng giá trị của chúng
(trao đổi ngang giá). Sau quá trình sản xuất, hàng hóa được tạo ra cũng thuộc quyền sở
hữu của nhà tư bản và được bán theo đúng giá trị của nó, như vậy là đã thực hiện đúng các
quy luật sở hữu hàng hóa. Nhưng điều đáng chú ý là khi mua sức lao động, nhà tư bản có
toàn quyền sử dụng hàng hóa sức lao động và do đó có quyền sở hữu giá trị thặng dư do

dưới hình thức có ích mới được sử dụng làm chức năng tư bản càng nhiều, do đó làm tăng
quy mô của tích lũy tư bản.
- Nhân tố thứ ba, quy mô của tư bản ứng trước: Theo công thức M = m’ . V, nếu tỷ
suất giá trị thặng dư m’ không đổi thì khối lượng giá trị thặng dư M chỉ tăng khi tổng tư
bản khả biến V tăng và tất nhiên tư bản bất biến cũng sẽ phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ
nhất định. Do đó, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư khi các điều kiện khác không đổi,
phải tăng quy mô tư bản ứng trước. Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản
xuất càng được mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu, sẽ có khối lượng những yếu tố
sản xuất lớn hơn, hiện đại hơn. Do đó khối lượng giá trị thặng dư cũng lớn hơn, tạo điều
kiện tăng quy mô của tích lũy tư bản.
- Nhân tố thứ tư, sự chênh lếch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu sản xuất mà toàn bộ quy mô hiện vật
của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất hàng hoá, còn tư bản tiêu dùng là phần
giá trị những tư liệu sản xuất ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất
dưới dạng khấu hao. Vì vậy, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng.
Máy móc, thiết bị, nhà xưởng mặc dù giá trị của nó đã được chuyển từng phần vào sản
phẩm mới theo mức độ hao mòn vật chất, nhưng chúng vẫn được sử dụng toàn bộ trong
quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, mặc dù tư liệu lao động (máy móc, thiết bị,
nhà xưởng) tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao mòn dần. Sau
khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc và công cụ lao động, nhà
tư bản sử dụng các công cụ lao động đó mà không mất thêm chi phí nào khác.
Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng là thước đo sự tiến bộ của lực
lượng sản xuất.Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày rong việc sử dụng máy móc và
công cụ lao động, nhà tư bản sử dụng các công cụ lao động đó mà không mất thêm chi phí
nào khác. Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn thì sự phục vụ
không công của tư liệu sản xuất càng nhiều. Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng
trong suốt thời gian hoạt động, máy móc vẫn có tác dụng như khi còn đủ giá trị. Do đó,
nếu không kể đến phần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian, thì
máy móc phục vụ không công chẳng khác gì lực lượng tự nhiên.
Sự phục vụ không công của lao động quá khứ cho nhà tư bản giống như các lực lượng tự

+ Nếu giá cả hàng hóa > Giá trị hàng hóa thì P > m
+ Nếu giá cả hàng hóa < Giá trị hàng hóa thì P < m
Xét trong toàn bộ xã hội, tổng số lợi nhuận bằng tổng giá trị thặng dư.
m- Giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất hàng hóa; trong khi, lợi nhuận là hình
thức chuyển hóa của giá trị thặng dư sau khi bán hàng hóa.
14
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
- Về chất: Giá trịn thặng dư biểu hiận quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:
Quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê. Còn lợi nhuận chỉ nói lên mức lời lãi của
sản xút TBCN, không phản ánh quan hệ sản xuất TBCN.
thặng dư (p = m); nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả hàng hóa P<G, nên p<m, và nếu
cung nhỏ hơn cầu thì P>G, nên p>m. Nhưng trong toàn xã hội, do tổng giá cả bằng tổng
giá trị hàng hóa nên tổng lợi nhuận bằng tổng giá trị thặng dư. Tức là cơ sở của lợi nhuận
là giá trị thặng dư. Giá trị thặng dư càng nhiều thì khối lượng lợi nhuận càng lớn và ngược
lại. Do giá cả xoay quanh giá trị của nó, nên trong hiện thực, mức lên xuống của lợi nhuận
cũng xoay quanh giá trị thặng dư.
II- So sánh tỷ suất thặng dự và tỷ suất lợi nhuận
1/Tỷ suất giá trị thặng dư: là tỷ lệ phần trăm giữa thời gian lao động thặng dư và
thời gian lao động cần thiết, hay giữa giá trị thặng dư và giá trị sức lao động, ký hiệu m’
Công thức tính:
' 100%
m
m x
v
=
2/ Tỷ suất lợi nhuận:
Lợi nhuận là giá trị thặng dư được so sánh với toàn bộ TB ứng trước, được quan niệm là
kết quả của toàn bộ TB ứng trước sẽ mang hình thái chuyển hoá và lợi nhuận. Hay lợi
nhuận là sôốtiền lời mà nhà TB thu được do có sự chênh lệch giữa giá trị hành hoá và chi
phí SX TBCN.

+ Do giá trị cá biệt của đại bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong những điều
kiện trung bình quyết định (phổ biến nhất).
+ Do giá trị của đại bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện xấu
quyết định (cơ sở có điều kiện sản xuất tốt và TB được lợi nhuận siêu ngạch).
+ Do giá trị của đại bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện tốt
quyết định (chỉ cơ sở có điều kiện sản xuất tốt được lợi nhuận siêu ngạch).
2/ Giá cả sản xuất được diễn ra trong cạnh tranh giữa các ngành ở thời kỳ chủ nghĩa
tư bản tự do cạnh tranh. Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà tư bản trong
các ngành sản xuất khác nhau tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Do các điều kiện sản xuất của các
xí nghiệp ở các ngành không giống nhau, nên mặc dù có cùng lượng tư bản và tỷ suất giá
trị thặng dư, nhưng tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận thu được không giống nhau. Điều này
16
TÀI LIỆU ÔN THI MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ LỚP CAO CẤP CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
dẫn đến sự di chuyển tư bản của ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi
nhuận cao nhất để đầu tư kinh doanh.
Kết quả là các tỷ suất lợi nhuận cá biệt được chuyển hóa thành tỷ suất lợi nhuận
bình quân, lợi nhuận cá biệt chuyển hóa thành lợi nhuận bình quân và các giá trị cá biệt
của hàng hóa chuyển hóa thành giá cả sản xuất.
Sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác dẫn đến xu hướng bình
quân hóa tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận bình quân (
'p
) là con số trung bình của tất
cả các tỷ suất lợi nhuận ở các ngành khác nhau. Công thức:
' 100%
p
p x
k
=



ruộng đất tốt và trung bình, là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của nông phẩm được quyết định
bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình.

Sở dĩ giá cả sản xuất chung của nông phẩm được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất
xấu nhất là vì:
+ Phải tiến hành canh tác cả trên những ruộng đất xấu nữa mới đủ nông phẩm cho xã hội. Muốn vậy, phải
lấy giá cả sản xuất trên ruộng xấu nhất làm giá cả sản xuất chung của nông sản
+ Trong nông nghiệp ruộng đất có hạn, toàn bộ diện tích canh tác đã bị độc quyền kinh doanh, ngời kinh
doanh ruộng tôt & trung bình luôn thu đợc P siêu ngạch và phải nộp cho địa chủ
Căn cứ hình thành địa tô chênh lệch (R
CL
): Trong nông nghiệp cũng như trong công nghiệp cũng đều phải
có lợi nhuận siêu ngạch. Còn trong nông nghiệp thì lợi nhuận siêu ngạch hình thành và tồn tại một cách
tương đối lâu dài. Vì không thể tự tạo thêm ruộng đất tốt hơn, gần nơi tiêu thụ, mặt khác diện tích ruộng
đất có hạn và toàn bộ đất đai trồng trọt được đã bị tư nhân chiếm đoạt hết và cũng có nghĩa là đã có độc
quyền kinh doanh những thửa ruộng màu mỡ, có vị trí thuận lợi thì thu được lợi nhuận siêu ngạch một
cách lâu dài.
Nhưng có phải chỉ có ruộng đất tốt hay ít nhất là ruộng đất trên mức trung bình mới thu được lợi nhuận
siêu ngạch không? Về mặt này, giá cả hay giá trị sản xuất của nông phẩm lại do những điều kiện sản xuất
xấu nhất quyết định. Đó là vì nếu chỉ canh tác những ruộng đất tốt và trung bình, thì không đủ nông phẩm
để thoả mãn nhu cầu của xã hội nên phải canh tác cả những ruộng đất xấu, và do đó cũng phải bảo đảm
cho những nhà tư bản đầu tư trên những ruộng đất này có được lợi nhuận bình quân. Như vậy giá cả sản
xuất của nông phẩm trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất xấu là giá cả sản xuất chung của xã hội
nên nhà tư bản kinh doanh trên những ruộng đất trung bình cũng thu được lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi
nhuận bình quân. Thực chất thì địa tô chênh lệch cũng chính là lợi nhuận siêu ngạch, hay giá trị thặng dư
siêu ngạch.Vậy địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, thu được trên những
điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá cả chung của nông phẩm được quyết định
bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất trung bình và tốt.
Nó sinh ra là do có độc quyền kinh doanh ruộng đất nhưng bên cạnh đó lại có độc quyền chiếm hữu
ruộng đất, nên cuối cùng nó vẫn lọt vào tay chủ ruộng đất. Không phải địa tô chênh lệch là sản phẩm do

Địa tô chênh lệch II là do thâm canh mà có. Muốn vậy phải đầu tư thêm tư liệu sản xuất và lao động trên
cùng một khoảng ruộng đất, phải cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng canh tác để tăng năng suất ruộng
đất và năng suất lao động lên.
Chừng nào thời hạn thuê đất vẫn còn thì nhà tư bản bỏ túi số lợi nhuận siêu ngạch trên. Nhưng khi hết
hạn hợp đồng thì chủ ruộng đất sẽ tìm cách nâng mức địa tô lên để giành lấy lợi nhuận siêu ngạch đó,
biến nó thành địa tô chênh lệch. Vì lẽ đó, chủ ruộng đất chỉ muốn cho thuê ruộng đất ngắn hạn còn nhà tư
bản lại muốn thuê dài hạn. Cũng vì lẽ đó nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp không muốn bỏ ra số
vốn lớn hơn để cải tiến kĩ thuật, cải tạo đất đai, vì làm như vậy phải mất nhiều thời gian mới thu hồi được
vốn về. Và rốt cuộc chủ đất sẽ là kẻ hưởng hết lợi ích của những cải tiến đó. Và nhà tư bản thuê ruộng đất
vì vậy chỉ nghĩ làm sao tận dụng hết màu mỡ của đất đai trong thời gian thuê ruộng đất. Mục đích thâm
canh của họ là nhằm thu được thật nhiều lợi nhuận trong thời gian kí kết hợp đồng, nên họ ra sức bòn rút
hết màu mỡ đất đai.
Điều kiện để hình thành R chênh lệch II là thâm canh tăng năng suất ruộng đất, còn nguyên nhân hình
thành R chênh lệch II là do độc quyền t hữu ruộng đất
Thâm canh tăng năng suất mang lại P siêu ngạch trên ruộng đất đợc thâm canh, còn độc quyền t hữu
ruộng đất làm cho P siêu ngạch biến thành R chênh lệch II trong hợp đồng thuê đất tiếp theo.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên đối với quá trình xây dựng cơ cấu kinh tế vùng nông
nghiệp theo hướng sản xuất lớn, chuyên canh:
Xuất phát từ nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp phổ biến sản xuất nhỏ, lạc hậu và đang ở
trình độ thấp, đó là cơ sở vật chất, kỹ thuật còn lạc hậu, lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông
nghiệp, sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc và thu nhập của nông dân thấp, đời sống
mọi mặt của họ còn hết sức khó khăn. Trong khi đó đến nay nhiều nước trên thế giới đã có nền nông
nghiệp phát triển ở trình độ cao, mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp đã được cơ giới hoá, điện khí hoá,
thuỷ lợi hoá, hoá học hoá. Nhờ đó năng suất ruộng đất, năng suất lao động của họ đạt rất cao, tạo sự phân
công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Mặt khác do yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhu cầu về nâng cao đời sống con người
đó là xã hội càng phát triển, đời sống con người càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương
thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Như vậy chỉ có một
nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới hy vọng đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó.
Cụ thể:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status