PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO HUYỆN HẢI LĂNG
Trường THCS Hội Yên
Giáo viên thực hện: Phạm Bá Linh
Chuyên nghành đào tạo: CĐSP Lí – KTCN
Nơi công tác: Trường THCS Hội Yên.
Năm học: 2009 – 2010
Phòng GD – ĐT Huyện Hải Lăng
Trường THCS Hội Yên.
LỜI MỞ ĐẦU
Để thuận lợi cho công việc giảng dạy môn vật lí theo chương trình đổi
mới SGK từ năm học 2002 – 2003 của Bộ GD – ĐT và để giúp học sinh có
phương pháp giải bài tập Vật Lí phù hợp khi học Vật Lí. Tôi đã tiến hành đề
tài này.
Cấu trúc của đề tài này gồm có 4 chương:
Chương I: Mở đầu
Chương II: Cơ sở lí thuyết
Chương III: Khảo sát thực tế
Chương IV: Kết luận và đề nghị
Để hoàn thành đề tài này, bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
thầy cô giáo trong tổ bộ môn và các em học sinh lớp 8 Trường THCS Hội
Yên.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn và các
em học sinh đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này! Do hạn
chế về thời gian, chắc chắn đề tài không tránh khỏi sự sai xót.Rất mong nhận
đựơc sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp và những ai quan tâm đến
đề tài này.
Hải Lăng, ngày 18 tháng 8 năm 2009
Giáo viên thực hiện: Phạm Bá Linh
Đề tài nghiên cứu khoa học Năm học: 2009 – 2010
Giáo viên thực hiện: Phạm Bá Linh
2
Thông qua việc cho học sinh làm bài kiểm tra tự luận để tìm hiểu
những hiểu biết cũng như kĩ năng giải bài tập vật lí hiện có của học sinh lớp
8, qua đó giúp cho người dạy biết được học sinh đã có những hiểu biết và kĩ
năng gì để trong quá trình giảng dạy khi hướng dẫn học sinh giải bài tập vật
lí thì người thầy có cơ sở để lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học sao cho phù hợp với khả năng của các em, nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của các em trong quá trình học tập, đồng thời lại khẳng
định được vai trò chủ đạo của giáo viên tronh quá trình giảng dạy.
III.Giới hạn vấn đề nghiêng cứu.
Đối tượng nghiêng cứu đề tài này là học sinh khá, giỏi khối 8 Trường
THCS Hội Yên, Huyện Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Số học sinh này được
Đề tài nghiên cứu khoa học Năm học: 2009 – 2010
Giáo viên thực hiện: Phạm Bá Linh
3
Phòng GD – ĐT Huyện Hải Lăng
Trường THCS Hội Yên.
chia đều thành hai nhóm (Một mhóm chỉ giảng dạy theo phương pháp thông
thường, nhóm còn lại tiến hành dạy thử nghiệm theo phương pháp: Sử dụng
mô hình – hình vẽ trong dạy học vật lí).
IV.Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu.
-Góp phần làm phong phú thêm lí luận dạy học.
-Biết được những hiểu biết cũng như kĩ năng giải bài tập vật lí hiện có của
học sinh lớp 8 để từ đó có phương pháp dạy học phù hợp nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình giải bài tập vật lí.
-Làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
-Bằng những mô hình – hình vẽ trực quan nhằm phát triển khả năng tư duy
trừu tượng của học sinh trong khi giải bài tập vật lí.
Đề tài nghiên cứu khoa học Năm học: 2009 – 2010
Giáo viên thực hiện: Phạm Bá Linh
4
*Đối với người dạy.
-Việc làm ra những mô hình – hình vẽ thường rất tốn kém và mất nhiều thời
gian.
-Để có được những mô hình – hình vẽ sôi động, cụ thể đôi khi cần có sự hỗ
trợ của công nghệ thông tin nên đòi hỏi người dạy phải nắm bắt được các
phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại.
*Đối với người học.
-Phải luôn chủ động trong hoạt động tiếp nhận kiến thức.
-Bước đầu tự mình xây dựng mô hình – hình vẽ phù hợp với nội dung bài
học thường bỡ ngỡ, tốn kém và mất thời gian.
Đề tài nghiên cứu khoa học Năm học: 2009 – 2010
Giáo viên thực hiện: Phạm Bá Linh
5
Phòng GD – ĐT Huyện Hải Lăng
Trường THCS Hội Yên.
CHƯƠNG III. KHẢO SÁT THỰC TẾ.
I.Bài tập tự luận khảo sát.
(Gồm 2 bài, thời gian làm bài 60 phút)
Câu 1.
Một ô tô A và đoàn tàu hoả B dài 60m chuyển động trên hai đoạn đường
song song cạnh nhau. Nếu ô tô A đuổi theo tàu hoả B thì khoảng thời gian từ
lúc A ngang đuôi B tới lúc A đến ngang đầu của B là t
1
= 20s. Nếu ô tô chạy
ngược chiều tàu hoả B thì khoảng thời gian từ lúc A ngang đầu của B tới lúc
A ngang đuôi của B là t
2
= 5s. Hãy xác định vận tốc của ô tô A và đoàn tàu
hoả B.
Câu 2.
B
=
3
20
60
1
==
t
s
+Khi đi ngược chiều: v
2
= v
A
+ v
B
=
12
5
60
2
==
t
s
⇒
v
A
= 7,5m/s; v
B
= 4,5m/s
Đề tài nghiên cứu khoa học Năm học: 2009 – 2010
t = 28
0
C.
+Trong số 17 học sinh có điểm từ 6,5 - < 8, đa số các em chỉ làm hoàn chỉnh
câu 2 như trình bày ở trên, còn câu 1 các em chỉ lập được biểu thức liên hệ
của vận tốc:
+Khi đi cùng chiều: v
1
= v
A
– v
B
.
+Khi đi ngược chiều: v
2
= v
A
+ v
B
.
+Trong số 12 học sinh có điểm từ 4 – 5, đa số các em chỉ làm được câu 2
như trình bày ở trên.
+Trong số 5 học sinh không giải đúng bài nào.
• Câu 1. Học sinh không làm được gì.
• Câu 2.Đa số học sinh nhầm lẫn như sau:
Q
1
= Q
2
s = s’’ + s
1
⇔
v
A
.t
1
= 60 + v
B
.t
1
⇔
v
A
– v
B
= 3 (1).
+Khi đi ngược chiều:
s’’ v
B
; t
2
; s
2
Tàu hoả
v
B
; t
2
c
(
t
–
t
2
)
Phòng GD – ĐT Huyện Hải Lăng
Trường THCS Hội Yên.
v
A
; t
2
; s’
Dựa vào hình vẽ ta có:
s’’ = s’ + s
2
⇔
60 = v
A
. t
2
+ v
B
. t
2
⇔
v
A
.t
1
= v
B
.t
1
+ 60
⇔
v
A
– v
B
= 3 (1).
+Khi đi ngược chiều:
s
Đuôi tàu
s
3
; v
A
; t
2
Đầu tàu s
4
; v
B
; t
1
= Q
2
t
1
; m
1
⇔
m
1
c(t
1
– t) = m
2
c(t – t
2
)
⇒
t = 28
0
C.
(Hình vẽ bên chỉ mang tính minh hoạ)
t
t
2
; m
2
11 học sinh còn lại trình bày như 6 học sinh làm được ở nhóm 1
+Trong số 7 học sinh có điểm từ 6,5 - < 8.
• Câu 1.Trong cách giải của 7 học sinh đều có minh hoạ bằng hình vẽ
-Tính tương đối của chuyển động theo tôi là có phần trừu tượng đối với học
sinh, đặc biệt là khi cả vật mốc và vật đang xét đều chuyển động. Tuy nhiên,
vấn đề này hoàn toàn có thể khắc phục được khi áp dụng phương pháp: “Sử
dụng mô hình – hình vẽ trong dạy học vật lí”, cụ thể là ta chọn vật mốc là
một vật cố định trên đường khi đó vị trí của ô tô, tàu hoả so với vật mốc
được biểu diễn trên các hình vẽ như đã mô tả ở trên.Kết quả là khi sử dụng
phương pháp này, thì có 29/40 học sinh giải được bài tập 1. Đối với bài tập
2, tuy không có gì trừu tượng nhưng khi áp dụng phương pháp: “Sử dụng
mô hình – hình vẽ trong dạy học vật lí” thì khả năng nhầm lẫn của các em
cũng giảm đi đáng kể. Đến đây tôi có thể khẳng định rằng, nguyên nhân dẫn
đến học sinh không làm được hai bài tập trên là do khả năng tư duy trừu
tượng của các em còn hạn chế. Việc áp dụng phương pháp: “Sử dụng mô
hình – hình vẽ trong dạy học vật lí” không những giúp các em giải được bài
tập mà còn giúp các em phát triển tư duy trừu tượng.
III.Các biện pháp khắc phục.
-Đối với những bài tập cụ thể, nên hướng dẫn học sinh cách tự tạo ra mô
hình – hình vẽ thích hợp (nếu cần) trước khi giải bài tập.
-Cần cho học sinh quan sát, tìm hiểu những mô hình – hình vẽ có liên quan
đến các hiện tượng vật lí mô tả trong nội dung bài tập qua tranh ảnh, mô
hình vật thật hoặc qua Vidiô, phần mền dạy học vật lí, Powerpoint.
-Với một số bài tập sau khi giải xong, nếu cần thì hướng dẫn học sinh tiến
hành thí nghiệm kiểm tra.
-Nên giới thiệu cho học sinh những tài liệu tham khảo có nội dung cũng như
phương pháp phù hợp với các em.
Đề tài nghiên cứu khoa học Năm học: 2009 – 2010
Giáo viên thực hiện: Phạm Bá Linh
9
Phòng GD – ĐT Huyện Hải Lăng
Trường THCS Hội Yên.
CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Phương pháp trắc nghiệm.
Nhà xuất bản Giáo Dục, 1996.
3.Lê Văn Giáo – Lê Phúc Tuấn – Đoàn Tứ Nghĩa - Trần Công
Thông.
Vận dụng các phương pháp nhận thức trong dạy học vật lí.
Đại Học Huế 1999.
Đề tài nghiên cứu khoa học Năm học: 2009 – 2010
Giáo viên thực hiện: Phạm Bá Linh
11
Phòng GD – ĐT Huyện Hải Lăng
Trường THCS Hội Yên.
MỤC LỤC Trang
Lời mở đầu 1
Chương I. Mở đầu 2
I. Lí do chọn đề tài.
II. Mục đích nghiên cứu.
III. Giới hạn vấn đề nghiên cứu.
IV. Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu.
Chương II. Cơ sở lí thuyết. 4
I. Mô hình – hình vẽ.
II. Mô hình – hình vẽ đem lại lợi ích gì cho người dạy? Người
học?
III. Mô hình – hình vẽ đem lại khó khăn gì cho người dạy? Người
học?
Chương III.Khảo sát thực tế. 5
I. Bài tập tự luận khảo sát.
II. Phân tích kết quả bài tập tự luận.
III. Các biện pháp khắc phục.
ChươngIV. Kết luận và đề nghị. 9
I. Kết luận