SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Trãi
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG GIẢNG DẠY
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN KHỐI 11
Người thực hiện: TRẦN THỊ VƯƠNG NHI
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn GDCD
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2007 - 2008
1
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1. Họ và tên: TRẦN THỊ VƯƠNG NHI
2. Ngày tháng năm sinh: 08 - 05 - 1982
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: 5c/58 khu phố 9, phường Hố Nai, Biên Hoà, Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613.881221- 3884351 (CQ) (NR): 0613.889576
6. Fax: 061.3881183 E-mail: [email protected]
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Trãi
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
dắt HS tự xây dựng công cụ làm trẻ thay đổi từ bên trong…
Hoạt động cùng nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy và trò,
hoạt động hợp tác giữa trò và trò có một tác dụng lớn" . Từ đó có
thể rút ra kết luận: "cần kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt
động nhóm"; Dạy học là tổ chức các dạng hoạt động học tập
khác nhau cho HS; Dạy học cần thay đổi phương thức cưỡng bức
HS học tập bằng phương thức học tập hợp tác, làm việc cùng
nhau.
Theo quan điểm Tâm lý học lịch sử, L. X. Vưgôtxki cho rằng
các chức năng tâm lý cấp cao xuất hiện trước hết ở mức độ liên
nhân cách giữa các cá nhân, trước khi chúng tồn tại ở mức độ tâm
lý bên trong. Chính vì vậy, theo ông, trong một lớp học, cần coi
trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá. Từ đó
cần rút ra một nguyên tắc là dạy học cần tổ chức cho HS học tập
với sự trợ giúp, hỗ trợ của bạn học, học tập cùng nhau sẽ giúp HS
lĩnh hội kiến thức tốt hơn.
Ông bà ta đã dạy rằng:
“ Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lai nên hòn núi cao”
Nhưng, làm sao để tổ chức được một giờ dạy GDCD tốt khi vận dụng
phương pháp thảo luận nhóm? Việc giảng dạy này được kéo dài trong nhiều buổi
học nên người dạy sẽ có cơ hội thiết lập và phát triển một không khí học tập năng
động và hữu ích cho học sinh. Việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm là một
kinh nghiệm vô cùng quí giá cho người giáo viên. Để thành công trong việc giảng
3
dạy theo phương pháp thảo luận nhóm, người giáo viên cần chuẩn bị bài chu đáo
và có kỹ năng quản lý nhóm. Người giáo viên không nên cho rằng việc thảo luận
trong nhóm tất yếu sẽ xảy ra và dù điều này có diễn ra đi nữa thì nó thường mất
trật tự, vô bổ và không đúng yêu cầu học tập. Để tránh tình trạng này, người giáo
viên phải biết cách làm việc theo nhóm và có thể kết hợp các phương pháp dạy học
luận nhóm: Số HS, không gian lớp học, trang thiết bị, đồ dung dạy học, thời
gian tiết học…
- Năng lực HS không đồng đều nên đôi khi việc thảo luận nhóm là sự máy móc
không hiệu quả.
- Tài liệu tham khảo đặc thù phục vụ cho môn GDCD 11 không phong phú,
chưa phổ biến…
- Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là HS đối với bộ môn naỳ còn khá
lệch lạc: không đầu tư, không chú ý thậm chí là xem thường hoặc học cho
xong…
4
3. Số liệu thống kê
a. Nhóm lớp GV thường xuyên áp dụng phương pháp thảo luận nhóm:
LỚP SỐ HS GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH
11A1 47 18 38.30% 29 61.70% 0 0.00%
11A2 46 18 39.13% 27 58.70% 1 2.17%
11A3 46 7 15.22% 33 71.74% 6 13.04%
11A6 44 5 11.36% 33 75.00% 6 13.64%
11A7 41 8 19.51% 30 73.17% 3 7.32%
11A8 43 5 11.63% 32 74.42% 6 13.95%
b. Nhóm lớp GV không thường xuyên áp dụng phương pháp thảo luận nhóm:
LỚP SỐ HS GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH
11A9 44 1 2.27% 43 97.73% 0 0.00%
11A5 45 5 11.11% 32 71.11% 8 17.78%
11C1 38 2 5.26% 31 81.58% 5 13.16%
c. Nhóm lớp GV không áp dụng phương pháp thảo luận nhóm:
LỚP SỐ HS GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH
11C2 45 1 2.22% 33 73.33% 11 24.44%
II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lý luận:
Jean Piaget (1896 – 1980) với thuyết mâu thuẫn nhận thức
táo. Song nếu bạn có một ý tưởng, tôi có một ý tưởng, chúng ta
trao đổi cho nhau thì mỗi người sẽ có hai ý tưởng.
Tuy nhiên, bên cạnh việc đề cao sự hợp tác, phối hợp trong
học tập thì PPDH nhóm lại nhấn mạnh về thực chất, học tập là
một hoạt động cá nhân có tính tích cực cao, những kiến thức mà
cá nhân thu nhận được không phải chỉ là kết quả hoạt động riêng
biệt của cá nhân người học mà là những điều con người thu nhận
được thông qua quá trình cọ sát, chia sẻ, hợp tác. Nếu không có
quan hệ, không có sự thúc đẩy của hoàn cảnh sống, của xã hội,
của bạn học, con người không có động lực học. Còn sự cạnh tranh,
đấu tranh giữa những nhận thức trái ngược nhau đã tạo nên động
lực thôi thúc sự tìm tòi chân lý của mỗi cá nhân, thúc đẩy cá nhân
hoạt động để tự khẳng định mình.
Như vậy, PPDH nhóm một mặt vừa chú trọng phát huy tính
tích cực cao, tính chủ thể của người học; Mặt khác lại chú trọng sự
phối hợp, hợp tác cao giữa các chủ thể đó trong quá trình học tập.
Cần kết hợp tốt giữa năng lực cạnh tranh và năng lực hợp tác ở
người học. Để sử dụng có hiệu quả PPDH nhóm, GV cần phải chú
trọng xây dựng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm nhóm, xây
dựng vị thế của mỗi người học trong nhóm và trong lớp, hình
thành kỹ năng làm việc nhóm cho HS.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1. Khái niệm:
A.T.Francisco (1993): " Học tập nhóm là một phương pháp học tập mà theo
phương pháp đó học viên trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và hợp tác với nhau trong
học tập"
Về thực chất, phương pháp thảo luận là tổ chức cho HS bàn bạc , trao đổi
trong nhóm nhỏ. Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho HS tham
gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho HS có thể chia sẽ kiến
thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài
Nhóm 4: Thị trường sách báo
3. Chia nhóm đánh giá: Một nhóm chịu trách nhiệm thảo luận một chủ đề nào
đó và một nhóm khác có trách nhiệm phê bình đưa ra các quan sát, nhận xét
và đánh giá bài trình bày của nhóm kia.
VD: GV cho các nhóm cùng thảo luận vấn đề: Nội dung của quan hệ Cung -
cầu:
Nhóm 1: Cung - cầu tác động lẫn nhau
Nhóm 2: Cung - cầu ảnh hưởng đến giá cả
Nhóm 3: Giá cả ảnh hưởng đến Cung - cầu
7
Nhóm 4: Nhận xét, bổ sung
GV có thể chỉ định nhóm trình bày, sau đó GV kết luận.
4. “Giảng – Viết – Thảo luận”: cuối mỗi bài học, học viên phải trả lời những
câu hỏi ngắn và chứng minh câu trả lời của mình. Sau khi mỗi cá nhân xử lí
các câu hỏi thì so sánh với học viên khác. Sau đó, giáo viên tổ chức một
buổi thảo luận để kiểm tra các câu trả lời hợp lí.
2.2.2. Nội dung thảo luận và thời gian thảo luận
- Nội dung thảo luận có thể giống hoặc khác nhau
- Thời gian thảo luận có thể căn cứ vào nội dung thảo luận cũng như đặc điểm
lớp học.
VD: Trong bài Chính sách tài ngun và bảo vệ mơi trường:
Câu h ỏ i: Giải thích và chưùng minh những phương hướng cơ bản nhằm bảo vệ tài
nguyên và môi trường?(10 p)
Nhóm 1: Mục tiêu 1, 2
Nhóm 2: Mục tiêu 3, 4
Nhóm 3: Mục tiêu 5, 6
Nhóm 4: Em có suy nghó như thế nào về vấn đề khai thác tài nguyên và bảo vệ
môi trường trong điều kiện nước ta còn nghèo, đang thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước?
Các nhóm cử đại diện trình bày (4p / nhóm), GV chốt lại từng nội dung.
quan sát phản ứng của từng người để điều chỉnh buổi thảo luận. Khai thác nội dung
bằng cách đặt câu hỏi kích thích tư duy của từng người. Phát hiện những mâu
thuẫn trong cách trình bày của mỗi thành viên, tổng kết lại ý kiến của nhóm ở cuối
buổi thảo luận.
Nói chung, nhóm trưởng là người quan trọng, để lựa chọn một sinh viên làm
nhóm trưởng thì người dạy phải biết quan sát thái độ và cách làm việc của từng HS
để lựa chọn. Như vậy, nhóm trưởng là người đạo diễn, là MC và là nhạc trưởng
cho buổi thảo luận của nhóm, họ phải thể hiện tốt vai trò của mình để kích thích
các nhóm viên hoạt động nhưng không phải nhóm trưởng là người quyết định
thành công cho việc thảo luận của nhóm.
Đồng thời, ở nhiều trường hợp nhưng không phải là tất cả, trong nhóm cần
có một người ghi biên bản, ghi lại những điểm chính của cuộc thảo luận để trình
bày trước cả lớp.
HS cần được luân phiên nhau làm “trưởng nhóm” và “thư kí”, luân phiên
nhau đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận.
2.2.4. Vai trò của người giáo viên:
Trong thời gian HS thảo luận theo nhóm nhỏ, GV cần đi vòng quanh các
nhóm và lắng nghe ý kiến của HS, giúp đỡ, gợi ý nếu cần thiết:
+ Người giáo viên phải là người điều động các nhóm nhỏ làm việc.
+ Phải quan sát và theo dõi hoạt động, công việc của từng nhóm để tìm ra cách giải
quyết hợp lý nhất.
+ Trong quá trình quan sát các nhóm làm việc, người giáo viên phải phát hiện các
sai lầm mà các nhóm mắc phải khi tham gia nhóm, những sai lầm mang tính điển
hình và chưa được sữa chữa để cuối phần thảo luận nhóm giáo viên có nhận xét,
góp ý.
+ Ngoài những vấn đề mà các thành viên nhóm thảo luận tổng kết để báo cáo thì
giáo viên phải đặt thêm những câu hỏi bổ sung để phát huy tính tích cực hoạt động
của nhóm (Câu hỏi này không phải chỉ dành cho nhóm trưởng trả lời mà là các
nhóm viên có liên quan).
+ Giáo viên phải nhắc lại các ý kiến mà nhóm đã trình bày một lần nữa khẳng định
- Sự tôn trọng ý kiến
- Ý thức trách nhiệm- tính tự giác
- Hiểu mục tiêu của nhóm
2.4. Một số kỹ thuật cơ bản của phương pháp dạy học thảo luận nhóm:
- Kỹ thuật thiết lập mục tiêu hoạt động nhóm
- Kỹ thuật thiết kế nhiệm vụ học tập nhóm
- Kỹ thuật thiết kế nhóm học tập: bao gồm việc hình thành nhóm;
Các loại nhóm và cấu trúc nhóm; Kỹ thuật xác định quy mô nhóm.
- Kỹ thuật thiết lập, duy trì, kiểm soát các mối quan hệ tương tác
trong hoạt động nhóm.
10
- Kỹ thuật tổ chức, hướng dẫn và quản lý, đánh giá hoạt động học
theo nhóm của HS trong PPDH nhóm
- Vấn đề xác lập các điều kiện dạy học khác
III. KẾT QUẢ:
Thảo luận nhóm có phê bình, đóng vai, tranh luận và nghiên cứu là một
trong những phương pháp giảng dạy hiệu quả nhằm khơi dậy sự nhiệt tình của HS,
khuyến khích HS tham gia thảo luận nhóm.HS theo đócũng có cơ hội học tập trong
môi trường không bị kiểm soát nhưng vẫn “an toàn”. Ngoài ra HS cũng tập phản
ứng với những tình huống phức tạp và “có thật” sẽ gặp trong cuộc sống sau này.Cụ
thề là:
- Xây dựng tinh thần đồng đội và các mối quan hệ tương hỗ
- Cân bằng tâm lý, khả năng hoà nhập, kĩ năng giao tiếp và tính tự trọng tốt
hơn.
- Kết quả và thành tích học tập cao hơn:
+ Kiến thức của HS sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách
quan khoa học.
+ Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao
lưu học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.
+ Nhờ không khí thảo luận nhóm cởi mở giúp HS thoải mái, tự tin hơn trong
khác nhau để tránh trùng lắp dễ gây nhàm chán ở học sinh.
V. KẾT LUẬN:
Khi làm việc theo nhóm nhỏ, học sinh và giáo viên đều gặp những khó khăn
nhất định, để dung hòa giáo viên có thể thảo luận với nhóm để tìm ra cách làm việc
tốt nhất.
Trong khi nhóm thảo luận, nhóm trường có vai trò rất quan trọng, giáo viên phải
quan sát và nhạy cảm với thái độ của nhóm và cách cư xử của từng thành viên.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Gia Thịnh, “Lý thuyến kiến tạo, một hướng phát triển
mới của lý luận dạy học hiện đại" - T/c Thông tin KHGD số 52,
tháng 11&12/1995, tr. 30-34.
Nguyễn Hữu Châu, “Dạy học Kiến tạo, vai trò của người học
và quan điểm kiến tạo trong dạy học”, T/c Dạy và học ngày nay
số 5/2005.
Phạm Minh Hạc, “Tâm lý học Vgôtxki”. NXB Giáo dục, Hà Nội
1997.
Trên đây chỉ là kết quả của sự tìm tòi, tự mày mò
nhằm thổi thêm chút sinh khí cho bộ môn GDCD
khối 11 của cá nhân tôi. Chắc hẳn còn nông cạn và
nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý chân
thành từ phía đồng nghiệp!
NGƯỜI THỰC HIỆN
12
TRẦN THỊ VƯƠNG NHI
13
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đơn vị: TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Biên Hòa, ngày 20 tháng 05 năm 2008
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đơn vị: TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Biên Hòa, ngày 20 tháng 05 năm 2008
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học:
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giảng
dạy môn Giáo dục công dân Khối 11.
Họ và tên tác giả: TRẦN THỊ VƯƠNG NHI
Đơn vị (Tổ): GDTC – GDQP - GDCD
14
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn GDCD
Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác
4. Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
5. Hiệu quả:
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả
6. Khả năng áp dụng:
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách:
Tốt Khá Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
hiệu quả trong phạm vi rộng:
Tốt Khá Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đơn vị: TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Biên Hòa, ngày 20 tháng 05 năm 2008
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học:
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giảng
dạy môn Giáo dục công dân Khối 11.
Họ và tên tác giả: TRẦN THỊ VƯƠNG NHI
Đơn vị (Tổ): GDTC – GDQP - GDCD
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn GDCD
Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác
10. Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
11. Hiệu quả:
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả
12. Khả năng áp dụng: