PHẦN 1:MỞ DẦU
1. Lý do chọn đề tài
Qua gần 20 năm công tác trong ngành giáo dục, gần 6 năm làm công tác
quản lý trường học, với vai trò là người lãnh đạo, quản lý một trường THPT ở
huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai, tôi luôn trăn trở về tình trạng bỏ học khá phổ biến
của học sinh những năm gần đây ở các trường THPT trên địa bàn huyện. Thực tiễn
ấy đã thôi thúc tôi nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp hữu hiệu để phòng chống tình
trạng học sinh bỏ học ở bậc THPT trên địa bàn huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai.
Hiện nay, tuy nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể về mặt kinh tế,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, nhưng những mặt trái
của cơ chế thị trường đã tác động không nhỏ đến một bộ phận thanh thiếu niên như:
lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, không có lý tưởng rõ ràng Một bộ
phận dân cư đã không nhận thức được vai trò của tri thức trong nền kinh tế thị
trường, trong nền sản xuất CNH-HĐH, từ đó có sự dễ dãi đối với việc bỏ học từ bậc
học phổ thông của con em mình.
Bên cạnh đó, những tệ nạn xã hội, ma túy, tai nạn giao thông, bạo lực
học đường đã và đang xâm nhập vào các nhà trường và có xu hướng gia tăng.
Lối sống hưởng thụ, buông thả, lười lao động lười học tập đang tác động không
nhỏ đến HS, nhất là những HS có hoàn cảnh kinh tế gia đình khá giả. Trên thực
tế, tình hình giáo dục ở bậc THPT của huyện Tân Phú đã và đang có những đổi
thay khởi sắc: Trường học được xây dựng kiên cố theo hướng chuẩn quốc gia,
trang thiết bị và đồ dùng dạy học được trang bị cơ bản đầy đủ, đội ngũ cán bộ
quản lý và giáo viên được chuẩn hóa, chất lượng giáo dục đào tạo từng bước
được nâng lên…Tuy nhiên, còn một vấn đề mà các cấp chính quyền, cha mẹ
HS, thầy cô giáo và xã hội rất quan tâm, đó là vấn đề HS bỏ học, các em sẽ gia
nhập vào các nhóm thanh niên chơi bời lêu lỏng, gây nhiều phiền toái cho nhân
dân.
Thời gian qua, các trường THPT của huyện Tân Phú đã có nhiều cố gắng và
đạt được những thành tích nhất định về việc phòng chống tình trạng HS bỏ học.
Cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm để rút ra những
kết luận khoa học về việc nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục để phòng chống tình
- Phương pháp toán học.
PHẦN 2:NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nguyên nhân có thể
ảnh hưởng đến việc HS bỏ học. Các tác giả đã đưa ra những quan điểm lý luận
chung giúp xác định bản chất của hiện tượng HS bỏ học, các nhân tố tác động đến
hiện tượng HS bỏ học. Các nghiên cứu khảo sát thực trạng HS bỏ học trên phạm vi
cả nước của Phạm Minh Hùng , Nguyễn Sinh Huy….Các tác giả đã đề cập đến bản
chất của hiện tượng lưu ban, bỏ học; mối tương quan giữa lưu ban và bỏ học; các
nhân tố tác động đến hiện tượng bỏ học (như xã hội, nhà trường, gia đình và bản
thân HS); đồng thời các tác giả cũng đề xuất các giải pháp trên bình diện quá trình
dạy học GD, bình diện nhân cách và cá nhân HS….
Một số công trình nghiên cứu khác đã đề cập đến một số biện pháp cụ thể
nhằm hạn chế hiện tượng HS bỏ học, từ đó giúp duy trì tốt hơn sĩ số HS, như các
tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thị Kim Quý đã khảo sát các đặc điểm tâm lý HS học
kém, lưu ban, thử nghiệm tổ chức học riêng cho HS kém, trên cơ sở đó đề ra giải
pháp phòng chống học kém nhằm phòng chống tình trạng HS bỏ học.
Bây giờ học sinh nên học những kiến thức cơ bản nhất và học khi cần thông
tin biết tìm ở đâu, làm cách nào tìm ra, tìm ra thì dùng như thế nào. Trường học
phải dạy cho học sinh những kỹ năng đó.
Hơn nữa hàng loạt chính sách tài chính giáo dục kiểu “nhà nước và nhân dân
cùng làm” đang đẩy vùng nghèo, người nghèo vào hoàn cảnh khó khăn. Đóng góp
của phụ huynh được coi là một nguồn tài chính giáo dục nên tại những vùng phụ
huynh không thể đóng góp nhiều, đầu tư bị thua sút.
Để đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, nhóm nghiên cứu
“Việt Nam - quản lý chi tiêu để tăng trưởng và giảm nghèo” do ngân hàng Thế giới
thực hiện đã đề xuất cơ chế để tất cả học sinh đều được nhận một mức chất lượng
giáo dục tối thiểu. Theo đó, cần xây dựng mức chi ngân sách tối thiểu cho một học
sinh với đầy đủ các yếu tố như: Chi lương, chi ngoài lương, chi trang thiết bị, duy
+ Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm XH.
+ Hoạt động QL là những tác động có tính hướng đích.
+ Hoạt động QL là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm
thực hiện mục tiêu của tổ chức.
- QL việc DTSSHS là “Việc nắm vững SSHS diễn ra trong quá trình đào tạo
ở trường”, cụ thể là:
+ Nắm vững thực trạng diễn biến về sự biến động SSHS trong quá trình đào
tạo theo thời gian của từng tháng, từng quý, học kỳ, năm học và khóa học.
+ Tìm hiểu và nghiên cứu xem những nguyên nhân nào tác động đến sự biến
động SSHS.
+ Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp khắc phục để ngăn ngừa và hạn
chế tình trạng giảm sút SSHS trong quá trình đào tạo của trường, nhằm giữ cho hoạt
động của trường được ổn định, giảm thiểu những khó khăn do sự biến động sĩ số
gây ra.
1.2.4. Giải pháp, giải pháp quản lý duy trì sĩ số học sinh
- Giải pháp : Nghĩa chung nhất của giải pháp là “Cách làm, cách thực hiện
một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra”.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì: “Giải pháp là cách thức giải
quyết một vấn đề cụ thể”.
- Giải pháp quản lý duy trì sĩ số học sinh : Nếu không đề cập đến nguyên
nhân HS chuyển trường thì hiện tượng HS bỏ học là nguyên nhân chính ảnh hưởng
đến việc duy trì sĩ số HS. Như vậy, muốn DTSSHS thì phải có những giải pháp
nhằm hạn chế hiện tượng HS bỏ học. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ
giữa nhà trường, gia đình và XH trong công tác QL nhằm hạn chế hiện tượng HS bỏ
học như tinh thần của nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng
định quan điểm đổi mới toàn diện GD&ĐT: “Xây dựng môi trường GD lành mạnh,
kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và XH”.
Vậy có thể hiểu: Giải pháp QL DTSSHS là “Cách thức QL của Hiệu trưởng nhằm
giữ vững SSHS đã có trong suốt một năm học, suốt một cấp học”.
1.3. Một số vấn đề về quản lý việc duy trì sĩ số học sinh trung học phổ thông
nề nếp gia đình đã tác động không nhỏ đến việc học tập của HS. Mặt khác sự tác
động của XH đến gia đình, thông qua gia đình tác động đến HS: những ảnh
hưởng tiêu cực, những mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu
nghèo trong XH mạnh mẽ đã làm thay đổi sâu sắc định hướng giá trị của cha mẹ
HS về việc học tập của con em mình.
Tất cả những tác động trên tạm gọi là tác động bên ngoài đối với HS và dẫn đến bỏ
học. Cùng với tác động đó, những tác động bên trong của bản thân HS cũng dẫn đến
bỏ học.
d. Nguyên nhân từ bản thân học sinh
Với tư cách là một thực thể của XH, HS cũng chịu sự tác động của môi
trường XH. Nếu chỉ xét trong mối quan hệ gần trong XH như ảnh hưởng của nhóm
bạn, của tập quán địa phương, của chuẩn mực vốn có không chính thức, của môi
trường tự nhiên, bệnh tật, học kém do mất căn bản,… đã ảnh hưởng đến sự định
hướng giá trị về học tập của HS. Quan điểm biện chứng đã khẳng định rằng, sự tự
nỗ lực của chủ thể là một trong những động lực quan trọng để chủ thể phát triển. Vì
vậy, nếu bản thân HS có nghị lực và ý chí vượt qua những khó khăn từ phía XH, từ
phía gia đình, từ phía nhà trường thì việc bỏ học sẽ không đến với HS.
e. Một số đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Tuổi của học sinh THPT từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn chuyển hóa, giao thời
giữa giữa tuổi trẻ em và tuổi người lớn. Trong lứa tuổi này các em có cơ thể phát
triển cân đối, khỏe và đẹp. Đa số các em có thể đạt được những khả năng thành tích
về cơ thể như người lớn. Những đặc điểm nhân cách chủ yếu của lứa tuổi HS THPT
liên quan đến việc phát triển của tự ý thức, sự hình thành thế giới quan, các hoạt
động giao tiếp và quan hệ xã hội, sự phát triển của tâm sinh lý và đời sống tình cảm.
1.4. Thực trạng học sinh bỏ học ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
1.4.1. Thực trạng công tác quản lý nhằm duy trì sĩ số học sinh phòng
chống bỏ học ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Để tìm hiểu các giải pháp mà các nhà trường THPT đang áp dụng nhằm duy
trì sĩ số HS, cũng như xác định nguyên nhân dẫn đến HS THPT bỏ học làm ảnh
hưởng đến công tác duy trì sĩ số HS của các nhà trường, chúng tôi đã tiến hành
SL % SL % SL % SL %
42 15 36% 6 14,4% 11 25,6% 10 24%
Biểu đồ : Tỉ lệ HS THPT bỏ học qua khảo sát 42 HS đã bỏ học
Từ kết quả khảo sát trên, ta nhận thấy rằng các cơ quan quản lý giáo dục cần
chú ý chỉ đạo các nhà trường thực hiện tốt công tác vận động HS ra lớp ở thời điểm
đầu năm học, làm được điều này sẽ tác động rất lớn đến việc duy trì sĩ số HS. Mặt
khác, cần chú ý đến các báo cáo số lượng HS của nhà trường ở thời điểm kết thúc
năm học trước và thời điểm bắt đầu năm học mới để kịp thời nắm bắt số lượng HS
bỏ học trong thời gian nghỉ hè. HS bỏ học trong hè hiện đang bỏ ngỏ, chưa đưa vào
thống kê hàng năm. Bên cạnh đó, các nhà trường và Sở GD&ĐT cần chú ý đến
công tác duy trì sĩ số HS trước và sau Tết Nguyên đán, thời điểm mà có tỉ lệ HS bỏ
học cao thứ hai trong năm.
1.4.3. Hoàn cảnh gia đình học sinh bỏ học
Tham khảo ý kiến của cán bộ quản lý và các giáo viên, đa số đều cho rằng,
HS bỏ học thường rơi vào những gia đình làm những nghề nghiệp cần đến sức lao
động chân tay như: Làm rẫy, làm ruộng, làm công nhân, thợ thủ công, làm thuê
hoặc không có việc làm ổn định.
Bảng 2: Nghề nghiệp của bố, mẹ HS bỏ học (42 HS THPT bỏ học)
Làm rẫy,
làm ruộng
Công
nhân
Thợ thủ
công
Buôn
bán
Nghề
nghiệp
Công
chức, viên
TT Mức độ ảnh hưởng Số ý kiến Tỷ lệ
1 Ảnh hưởng rất lớn 17 34%
2 Ảnh hưởng không lớn 32 64%
3 Không ảnh hưởng 11 22%
Kết quả trên cho thấy ý thức trách nhiệm của nhiều bậc phụ huynh đối với
nhiệm vụ học tập của con em mình còn có những hạn chế. Đây cũng là một lý do
ảnh hưởng lớn đến mục tiêu học tập của HS, làm cho các em bị suy giảm động lực
học tập, từ đó dễ dẫn đến tư tưởng phó mặc, không cần cố gắng vươn lên trong học
tập ở HS, sau đó là học yếu kém và cuối cùng là xuất hiện ý định bỏ học và bỏ học.
Cũng thông qua kết quả thăm dò 50 phụ huynh ở trên cho thấy hầu hết họ
đều có trình độ văn hóa thấp, thậm chí còn có người chưa biết chữ. Đây cũng là câu
trả lời vì sao nhận thức của họ về ý nghĩa của việc học tập đối với tương lai của con
em mình còn sai lệch.
Bảng 5: Thống kê trình độ văn hóa của cha mẹ HS THPT bỏ học
Trình độ
Chưa
biết chữ
Cấp 1
(Tiểu
học)
Cấp 2
(THCS)
Cấp3
(THPT)
Đại học,
Cao
đẳng
Sau
Đại học
Số lượng 1 24 19 4 2 0
được.
Những nguyên nhân trên đang là tác nhân chủ yếu ở trong nội tại HS, gây
nên tâm lý ngại học, chán học và ý tưởng bỏ học của HS.
+ Ngược lại, khi trao đổi với 60 HS đang là HS tiên tiến, HS giỏi ở các
trường THPT trong huyện, đa phần các em đều xác định được mục tiêu học tập của
mình, các em còn nêu được dự định của bản thân mình trong tương lai sau khi học
xong chương trình THPT.
Những nghiên cứu trên đây có thể cho thấy rằng, những yếu tố từ gia đình,
xã hội và nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến HS, những điều này là tác nhân trực
tiếp gây nên những tác động tiêu cực hoặc tích cực đến nhận thức về mục đích học
tập của các em, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến công tác duy trì sĩ số HS của các
trường THPT trên địa bàn huyện Tân Phú.
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ PHÒNG CHỐNG TÌNH TRẠNG
HỌC SINH BỎ HỌC Ở HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI
2.1. Những nguyên tắc cơ bản trong đề xuất các giải pháp
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là phát triển GD&DT nhằm nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Luật giáo dục đã qui định mục tiêu
GD, mục tiêu GD phổ thông trong đó có mục tiêu GD THPT.
Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp được đề xuất phải hướng vào việc QL
phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng
Nai. Mỗi một biện pháp phải nhằm đạt một mục tiêu cụ thể, từ đó hướng tới mục tiêu
chung. Các mục tiêu phải được quán triệt trong mọi hình thức QL nhằm phòng chống
tình trạng HS THPT bỏ học, góp phần vào việc nâng cao chất lượng GD&ĐT, tích
cực thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH của huyện. Có như vậy các nội
dung của biện pháp mới có tính thiết thực và đạt hiệu quả cao.
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Trong khi thực hiện mục tiêu QLGD chung, QL phòng chống tình trạng HS
THPT bỏ học, mỗi nhà trường có các điều kiện khác nhau về cơ sở vật chất, về đội
ngũ, về các khả năng QL, tổ chức, điều hành. Để đề xuất các biện pháp QL có hiệu
phải thực sự có niềm tin ở HS, tạo được quan hệ phù hợp với HS. Quan hệ giữa GD
với HS là quan hệ hợp tác, cộng đồng trách nhiệm, tạo điều kiện cho HS khẳng định
được tính chủ thể trong mọi hoạt động. Các biện pháp QL phải xác định vai trò định
hướng của các nhà GD, của gia đình và quan hệ hợp tác giữa các nhà GD với HS.
Đặc biệt là mối quan hệ gia đình, nhà trường và XH trong công tác QL phòng chống
HSBH. Đồng thời đảm bảo tính kế thừa và phát triển của những giải pháp đã được
thực hiện và mang lại hiệu quả trong việc QL phòng chống tình trạng HS THPT bỏ
học
2.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Nguyên tắc này đòi hỏi các giải pháp được đề xuất phải phù hợp với điều
kiện KT-XH của huyện và yêu cầu đổi mới GD trong điều kiện hiện nay. Đặc biệt,
các giải pháp được đề xuất cũng phải được sự đồng thuận của đại đa số cán bộ
QLGD ở các trường THPT trong huyện Tân Phú, cũng như cán bộ QLGD, các Ban,
ngành đoàn thể các cấp.
2.2. Các giải pháp quản lý phòng chống tình trạng học sinh trung học
phổ thông bỏ học trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
2.2.1. Giải pháp 1
Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân
viên và cha mẹ học sinh về việc phòng chống tình trạng bỏ học của học sinh trung
học phổ thông
*Mục tiêu của giải pháp
Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về việc phòng chống trình trạng bỏ
học của HS THPT có một vị trí quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả
của công tác này. Chỉ khi toàn xã hội, trước hết là ngành giáo dục và các lực lượng
liên quan trực tiếp, nhận thức được ví trí, tầm quan trọng, trách nhiệm của mình đối
với công tác này thì mới thực sự đưa hết tâm lực đóng góp cho việc phòng chống
HS THPT bỏ học.
* Nội dung giải pháp
a) Làm rõ vị trí của tri thức, của việc học trong xã hội hiện nay, trong việc
nâng cao đời sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. GD là một hiện tượng xã hội
báo cáo về BGH. Đặc biệt chống các hiện tượng HS bỏ tiết, nghỉ học không lý do.
Hàng tháng BGH họp với GVCN và các thành viên liên quan nghe báo cáo công tác
phòng chống HS bỏ học, rút ra bài học kinh nghiệm và chỉ đạo các phương án khắc
phục.
2.2.2. Giải pháp 2
Lập kế hoạch, phân công nhân sự, xây dựng chương trình hoạt động trong
công tác phòng chống tình trạng học sinh trung học phổ thông bỏ học
* Mục tiêu của giải pháp
Bốn chức năng của QL ( kế hoạch hoá - tổ chức - chỉ đạo - kiểm tra ) QL
phòng chống hiện tượng HS bỏ học nói riêng luôn cần được thực hiện liên tiếp, đan
xen vào nhau, phối hợp bổ sung cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình này sang chu
trình sau theo hướng phát triển.
Khi đã quán triệt được về mặt nhận thức, tổ chức công tác phòng chống tình trạng
HS THPT bỏ học mà không có một chương trình, kế hoạch cụ thể, không có người
chịu trách nhiệm thực hiện thì cũng chỉ dừng lại ở mặt hô hào, hình thức, đánh
trống bỏ dùi. Có thể nói, chất lượng và hiệu quả của công tác phòng chống tình
trạng HS THPT bỏ học ở huyện Tân Phú phụ thuộc rất lớn về giải pháp QL công tác
xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động, bồi dưỡng bố trí nhân lực cho hoạt
động này.
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của các trường THPT, các đơn vị liên quan
để xây dựng, thống nhất kế hoạch về công tác phòng chống tình trạng HS bỏ học và
đưa vào chương trình hoạt động của nhà trường, các tổ chức đoàn thể liên quan.
Cần phải làm tốt công tác QL việc thu thập thông tin về thực trạng HS THPT bỏ
học. Muốn phòng chống được thực trạng bỏ học, trước tiên nhà trường phải nắm
chắc thực trạng, nguyên nhân và dự báo được những đối tượng thuộc nhóm có nguy
cơ bỏ học.
*Nội dung của giải pháp
Nhà trường phải có kế hoạch và triển khai đến GVCN ngay đầu năm học,
phải thu thập thông tin về tình hình HS một cách khách quan, chính xác, trung thực,
đáng tin cậy. Muốn vậy, các trường cần hướng dẫn, tổ chức tốt công tác GVCN, tìm
nguyên nhân khách quan và chủ quan, trực tiếp và gián tiếp liên quan đến hoạt động
học tập của HS. Vì vậy, phòng chống tình trạng HS THPT bỏ học thực chất là xác
định nguyên nhân và giải quyết dức điểm nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Do
đó, giải pháp QL việc phát hiện và giải quyết dứt điểm, đồng bộ các nguyên nhân
dẫn đến tình trạng HS THPT bỏ học có thể xem nó có vị trí quan trọng then chốt
trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này. Nếu làm tốt giải pháp này,
thì việc chấm dứt tình trạng HS THPT bỏ học mới có hiệu quả bền vững, lâu dài,
còn không sẽ dẫn đến tình trạng “bắt cóc bỏ đĩa”, một HS có thể tái diễn việc bỏ
học nhiều lần do chưa giải quyết được nguyên nhân gốc rễ.
* Nội dung của giải pháp
Quản lý việc giải quyết các nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS THPT bỏ
học hoặc những dấu hiệu đẫn đến nguy cơ bỏ học, hậu quả tác động của tình trạng
HS bỏ học không chỉ ở ngay trong nhà trường bằng việc nâng cao chất lượng hoạt
động dạy học, xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” để thu hút việc
học tập của HS. QL việc điều tra, tìm hiểu các nguyên nhân và nguy cơ bên ngoài
dẫn đến tình trạng HS bỏ học để có biện pháp loại trừ ngay từ đầu, tránh tình trạng
“nước đến chân mới nhảy”, để xảy ra tình trạng HS bỏ học và vi phạm pháp luật
mới bắt đầu tìm hiểu, xóa bỏ nguyên nhân. Nguyên nhân bỏ học của HS rất phức
tạp, đa dạng và liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau. Xây dựng cảnh quan nhà
trường xanh - sạch - đẹp, tổ chức các hoạt động GD lành mạnh, đổi mới phương
pháp dạy học nhằm tạo cho HS sự hứng khởi, tình cảm thân thiết, gắn bó đối với
môi trường học tập. Tránh tâm lý nhàm chán ở các em khi phải tiếp xúc với một
môi trường học tập khô khan, phương pháp giáo dục và dạy học áp đặt khó hiểu, từ
đó dễ hình thành ý định bỏ học ở các em.
* Cách thức thực hiện
a) Phát hiện và giải quyết những nguyên nhân xã hội
Ông bà ta thường nói “Có thực mới vực được đạo”, không có đời sống kinh
tế tốt thì không thể đảm bảo cho việc học tập được tốt, nhất là trong điều kiện kinh
tế thị trường và thực trạng của hoạt động học tập hiện nay. Vì vậy, để không xảy ra
hiện tượng HS bỏ học, các địa phương, các xã, thị trấn của huyện Tân Phú phải phát
c) Phát hiện và giải quyết những nguyên nhân từ gia đình, xã hội
Các trường THPT cần quan tâm đến tất cả các tổ chức, các phương thức hoạt
động ở địa phương có liên quan đến GD để chủ động liên kết, lồng ghép với các nội
dung hoạt động của nhà trường. Hiện nay tại các xã, thị trấn trong huyện có các loại
hình hoạt động như: cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa và đời sống mới ở
khu dân cư; tổ dân phòng - khuyến học, gia đình hiếu học, gia đình thể thao, câu lạc
bộ người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan; câu lạc bộ ông bà cha mẹ mẫu mực
con cháu thảo hiền, dòng họ hiếu học, họ đạo khuyến học,… nếu biết khai thác và
lồng ghép tốt các hoạt động của nhà trường, trong đó có hoạt động phòng chống HS
bỏ học, tạo cho mình một tổng lực to lớn góp phần thực hiện mục tiêu GD cả trước
mắt và lâu dài.
d) Phát hiện và giải quyết những nguyên nhân từ bản thân HS THPT
Cần phải phát huy sự nỗ lực của chủ thể HS như là một động lực quan trọng để
phát triển nhân cách, sự tự giác nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc học cũng như
tác hại của sự bỏ học. Phải tạo điều kiện, môi trường và dư luận cho HS THPT có nghị
lực và ý chí vượt qua những khó khăn chủ quan và khách quan để kiên trì với việc học
tập. Phát huy tính chủ động, tự giác, sáng tạo của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri
thức, rèn luyện kỹ năng, hoàn thiện nhân cách; góp phần hình thành kỹ năng sống cho
HS. Giúp HS tự mình có thể ứng phó với những thử thách, khó khăn của cuộc sống và
của xã hội.
2.2.4. Giải pháp 4
Đẩy mạnh xã hội hóa trong phòng chống tình trạng bỏ học của học sinh trung
học phổ thông
* Mục tiêu của giải pháp
Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của toàn xã hội. Công tác QL
phòng chống tình trạng bỏ học của HS THPT cũng phải được xã hội hóa như sự
nghiệp GD nói chung. Hơn nữa, cuộc sống của HS THPT diễn ra ở nhiều môi trường
khác nhau và nguyên nhân dẫn đến trình trạng bỏ học cũng khác nhau. Vì vậy, không
thể không thực hiện giải pháp quản lý sự phối hợp của các lực lượng khác, của toàn xã
hội trong việc giảm bớt hiện tượng bỏ học của HS.
người hiểu rõ nhất về tình hình học tập, đặc điểm tâm lí và hoàn cảnh gia đình của
HS. GVCN cũng là cầu nối quan trọng giữa nhà trường và gia đình HS. Phát huy tốt
vai trò của GVCN sẽ góp phần đắc lực vào việc nâng cao hiệu quả của công tác duy
trì sĩ số, phòng chống HS bỏ học.
* Nội dung của giải pháp
+ Đề ra những giải pháp tích cực nhằm nâng cao tinh thần yêu nghề, tận tụy
với công việc ở GVCN.
+ Giao nhiệm vụ và yêu cầu GVCN phải thường xuyên quan tâm đến lớp
học do mình phụ trách.
+ Tăng cường sự phối hợp giữa GVCN với các GV bộ môn khác.
+ Giữ mối liên hệ thường xuyên giữa GVCN và Hiệu trưởng.
+ Xây dựng cho GVCN giữ mối liên lạc với phụ huynh HS.
+ Tạo điều kiện để GVCN thường xuyên quan tâm đến các hoạt động xã hội
ở địa phương.
+ Bồi dưỡng cho GVCN các kĩ năng cần thiết để thực hiện tốt công tác vận
động HS đi học.
+ Chỉ đạo GVCN thường xuyên xây dựng các phong trào học tập, thi đua
trong lớp.
* Cách thức thực hiện
Tích cực xây dựng đội ngũ GVCN thực sự có tinh thần yêu nghề, tận tụy với
công việc. Chính lòng yêu nghề, yêu công việc sẽ giúp cho đội ngũ GV mà đặc biệt
là GVCN quan tâm nhiều hơn với công tác của mình trong đó có công tác phòng
chống HS bỏ học.
Giảng dạy tốt, có nghiệp vụ sư phạm vững vàng, có những biện pháp GD
đúng đắn, có sức lôi cuốn HS, được HS tin tưởng chính là những phẩm chất rất cần
thiết của một người GVCN. Người GVCN biết quan tâm thường xuyên đến HS của
lớp mình sẽ là một động lực rất lớn nhằm thúc đẩy HS siêng năng học tập, học tập
với thái độ tích cực hơn.
Công tác chủ nhiệm là một công tác quan trọng nhằm giúp nhà trường thực
hiện tốt công tác giáo dục HS, trong đó có công tác duy trì sĩ số, phòng chống HS
Tuy nhiên, để công tác tư vấn trong nhà trường có hiệu quả, và có trọng tâm,
hiệu trưởng cần xây dựng một nhóm GV làm công tác tư vấn, nhóm GV có thể xây
dựng như: GV có chuyên môn nghiệp vụ về môn GDCD phụ trách tư vấn về các
vấn đề: Hiểu biết pháp luật; hiểu biết xã hội; các vướng mắc trong cuộc sống gia
đình, trong giao tiếp với bạn bè; các vấn đề về tâm lý lứa tuổi vị thành niên v.v. GV
có chuyên môn nghiệp vụ về môn Sinh học phụ trách tư vấn về các vấn đề: Vệ sinh
thân thể; phòng chống bệnh tật; các vấn đề của lứa tuổi dậy thì; sức khỏe sinh sản vị
thành niên. GV làm công tác Đoàn phụ trách tư vấn về các vấn đề: Xây dựng niềm
tin, lý tưởng cho HS; hướng nghiệp; các biện pháp phòng tránh tai, tệ nạn xã hội, tai
nạn giao thông; các biện pháp hạn chế những tác động của những hủ tục lạc hậu đến
đời sống của HS .v.v.
2.3. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp
Hệ thống các giải pháp mà chúng tôi đưa ra là kết quả của quá trình nghiên
cứu lý luận và khảo sát, phân tích thực trạng công tác quản lý sĩ số HS, phòng
chống tình trạng HS bỏ học ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh
Đồng Nai; tuy nhiên để phản ánh khách quan tính cần thiết và tính khả thi của các
giải pháp đã đề xuất, chúng tôi đã trưng cầu ý kiến của 7 hiệu trưởng, 14 phó hiệu
trưởng các trường THPT của huyện Tân Phú, 76 người là thành viên trong hội đồng
sư phạm: là chủ tịch công đoàn, Bí thư Đoàn trường, GVCN, tổ trưởng chuyên
môn, các thành viên trong hội đồng sư phạm nhà trường.
Mục tiêu khảo sát: xác định sự cần thiết, tính khả thi của các giải pháp do tác
giả đề xuất, từ đó triển khai hoặc điều chỉnh rồi triển khai thực hiện ở các nhà
trường THPT trên địa bàn huyện.
Hình thức khảo sát: phát phiếu khảo sát tới các cá nhân đang công tác tại các
trường THPT trên địa bàn huyện Tân Phú.
Kết quả khảo sát
2.3.1. Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp
TT Các giải pháp
Mức độ cần thiết của các giải pháp
Rất
SL 75 20 2 0 0
% 77,3 20,6 2,1
5
Phát huy vai trò của giáo viên chủ
nhiệm trong công tác phòng chống
SL 87 8 2 0 0
% 89,7 8,2 2,1
6
Tổ chức tốt các hoạt động tư vấn GD
cho phụ huynh và HS.
SL 85 9 3 0 0
% 87,6 9,3 3,1
7
Đảm bảo các điều kiện hoạt động,
công tác thanh tra kiểm tra, đánh giá
SL 80 10 7 0 0
% 82,5 10,3 7,3
8 Trung bình chung
SL 84 11 2 0 0
% 86,6 11,3 2,1
2.3.2. Đánh giá tính khả thi của các giải pháp
TT Các giải pháp
Mức độ khả thi của các giải pháp
Rất
khả
thi
Khả
chống tình trạng bỏ học của học sinh
SL 80 11 6 0 0
% 82,5 11,3 6,2
5
Phát huy vai trò của giáo viên chủ
nhiệm trong công tác phòng chống
SL 88 8 1 0 0
% 90,7 8,3 1,0
6
Tổ chức tốt các hoạt động tư vấn GD
cho phụ huynh và HS.
SL 79 10 8 0 0
% 81,4 10,3 8,3
7
Đảm bảo các điều kiện hoạt động,
công tác thanh tra kiểm tra, đánh giá
SL 74 14 9 0 0
% 76,3 14,4 9,3
8 Trung bình chung SL 82 10 5 0 0
% 84,5 10,3 5,2
Kết quả tổng hợp được thể hiện qua hai bảng trên đây cho thấy tính cấp thiết
và tính khả thi của các giải pháp đều đạt ở mức độ cao. Cho phép chúng ta tin tưởng
những giải pháp đề xuất có thể đưa ra áp dụng trong thực tế để góp phần duy trì tốt sĩ
số, phòng chống HS THPT bỏ học. Bảng khảo nghiệm trên cho thấy cần tăng cường
giải pháp tác động đến gia đình HS có nguy cơ bỏ học; đẩy mạnh thực hiện xây dựng
môi trường GD tốt, phát hiện và giải quyết dứt điểm, đồng bộ các nguyên nhân dẫn
đến tình trạng HS THPT bỏ học, đồng thời phát huy vai trò của GVCN và tổ chức tốt
thông
+ Các cấp ủy, chính quyền trong huyện cần chỉ đạo sát sao hơn nữa công tác
xã hội hóa GD, tạo được sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân
đối với công tác GD, chú trọng công tác tuyên truyền về xây dựng xã hội học tập,
dòng họ học tập, thực hiện tốt hoạt động của các tổ chức khuyến học, họ đạo
khuyến học ở tất cả các xóm ấp. Tiếp tục chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy học cho các nhà trường, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho
công tác GD.
+ Hàng năm tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác khuyến học, khen
thưởng và nhân rộng các địa phương có mô hình khuyến học hiệu quả, đặc biệt