Lời mở đầu.
Việt Nam đang nỗ lực thực hiện đổi mới toàn diện đất nước cả về phương
diện xã hội và kinh tế. Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển thì hoạt động thương
mại, nhất là hoạt động ngoại thương cần được tạo điều kiện thuận lợi để phát
triển mạnh mẽ. Ngành Hải quan là một trong các ngành đóng vai trò rất quan
trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của hoạt
động ngoại thương. Trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam đã và đang từng
bước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu,
phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, hành khách xuất nhập cảnh ngày càng gia
tăng mà khả năng quản lý của ngành Hải quan còn hạn chế. Để giải quyết vấn
đề này, ngành Hải quan đang từng bước thực hiện cải cách và hiện đại hóa để
nâng cao năng lực quản lý, chất lượng phục vụ của Hải quan nhằm tạo thuận
lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu nói chung của doanh nghiệp.
Qua một quãng thời gian thực tập tại chi cục Hải quan Bắc Hà Nội với sự kết
hợp giữa lý luận ở các môn học chuyên ngành Giám sát Hải Quan, em đã
chọn cho mình một đề tài: " Quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại tại Chi cục Hải quan Bắc Hà
Nội" về lĩnh vực của ngành mà tính cấp thiết của nó trong giai đoạn hiện nay
được đề cập, bàn luận nhiều trên Các phương tiện thông tin.
- Mục đích nghiên cứu:
+ Đánh giá công tác Quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác Quản lý rủi ro
trong thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại ở
Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội.
- Kết cấu của đề tài gồm ba chương:
Chương I: Lý Luận chung về Quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan
đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại
Chương II: Thực trạng công tác Quản lý rủi ro trong thủ tục hải
quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại tại Chi cục Hải
quan Bắc Hà Nội.
+ Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam
từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi
là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ
quy định cụ thể danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, danh mục
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và thủ tục cấp giấy phép
1.1.2. Thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
thương mại.
1.1.2.1. Điều kiện được hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hóa:
Trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu,
hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, thương
nhân Việt Nam được xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào
ngành nghề đăng ký kinh doanh. Chi nhánh thương nhân được xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hóa theo ủy quyền của thương nhân.
1.1.2.2. Hồ sơ thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu:
- Tờ khai hải quan: 02 bản chính;
- Hợp đồng mua bán hàng: 01 bản sao (đối với hàng hóa xuất khẩu
biên giới thì không phải nộp);
- Hoá đơn thương mại (đối với hàng có thuế): 01 bản chính.
- Bản kê chi tiết hàng hóa (đối với hàng đóng gói không đồng nhất):
01 bản chính; 01 bản sao;
-Giấy phép xuất khẩu (đối với mặt hàng thuộc danh mục hàng cấm
xuất khẩu hoặc xuất khẩu có điều kiện): 01 bản chính;
- Hợp đồng uỷ thác xuất khẩu (nếu nhận uỷ thác xuất khẩu): 01 bản
sao;
- Bản định mức sử dụng nguyên liệu của mã hàng (nếu là hàng gia
công, sản xuất xuất khẩu và chỉ nộp một lần đầu xuất khẩu): 1 bản chính.
1.1.2.4.2. Thời hạn nộp thuế nhập khẩu:
Đối với hàng tiêu dùng :
- Nộp thuế xong trước khi nhận hàng.
- Trường hợp được tổ chức tín dụng bảo lãnh : 30 ngày kể từ ngày
đăng ký tờ khai hải quan.
Đối với hàng vật tư nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu:
- Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan : 275 ngày kể từ
ngày đăng ký tờ khai hải quan.
- Doanh nghiệp có vi phạm pháp luật hải quan, về thuế: nộp thuế xong
vào tài khoản tạm thu trước khi nhận hàng.
Đối với hàng hóa kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất:
- Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan: 15 ngày kể từ ngày
hết thời hạn tạm nhập tái xuất.
- Doanh nghiệp có vi phạm pháp luật hải quan, về thuế: nộp thuế xong
nộp thuế xong vào tài khoản tạm thu trước khi nhận hàng.
Đối với hàng là vật tư, nguyên liệu trực tiếp dùng cho sản xuất:
- Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan : 30 ngày kể từ ngày
đăng ký tờ khai hải quan.
- Doanh nghiệp có vi phạm pháp luật hải quan, về thuế: Nộp thuế
xong trước khi nhận hàng.
1.1.2.5. Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu thương mại :
Bao gổm các bước sau :
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra sơ bộ, đăng ký tờ khai, quyết định
hình thức - mức độ kiểm tra.
Bước 2: Kiểm tra chi tiết hồ sơ thuế giá.
Bước 3: Kiểm tra thực tế hàng hóa.
Bước 4: Thu lệ phí hải quan, đóng dấu "Đã làm thủ tục hải quan" và
trả tờ khai cho người khai HQ.
Bước 5: Phúc tập hồ sơ.
2001-2010 của Đảng, nhà nước, tất cả các ngành , lĩnh vực trong nước đều
phải tiến hành đổi mới để bắt kịp với sự phát triển của thời đại, trong đó có
ngành Hải quan. Công tác hiện đại hoá hải quan, tạo điều kiện thuận lợi trong
thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thời gian qua đã đạt được
một số kết quả, nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao của cộng đồng doanh
nghiệp. Để thực hiện những mục tiêu trên, Hải quan Việt Nam phải tiến hành
rất nhiều chính sách để tiến hành hiện đại hoá hải quan, tạo điều kiện thuận
lợi trong thủ tục hải quan, trong đó việc áp dụng phương pháp quản lý rủi ro
được coi là sự lựa chọn không thể thiếu, giúp quản lý một cách có trọng điểm,
thủ tục thông quan hàng hóa được thuận tiện và nhanh chóng. Việc áp dụng
quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là
do những lí do cụ thể sau:
- Do yêu cầu của thực tế:
Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới
WTO và nhiều tổ chức kinh tế khác. Khi ra nhập WTO, chúng ta đã có những
cam kết đa phương, cam kết về thuế nhập khẩu và cam kết mở cửa thị trường
dịch vụ đồng thời Việt Nam còn tham gia Hiệp định chung về chương trình
ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) cho Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA); tham gia Công ước Kyoto; thực hiện việc xác định trị giá
Hải quan theo Hiệp định trị giá GATT nhằm tạo ra một hệ thống xác định trị
giá hải quan thống nhất phù hợp với các cam kết quốc tế song phương hoặc
đa phương mà Việt Nam đã tham gia.
Với những cam kết, ưu đãi về thuế quan như vậy, Việt Nam đã thu hút và
thúc đẩy hoạt động ngoại thương ngày càng phát triển. Số lượng thương nhân
tham gia xuất nhập khẩu ở nước ta ngày một tăng, khối lượng hàng hoá xuất
khẩu nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh ngày một
nhiều tạo ra một khối lượng công việc khổng lồ mà nếu không có sự cải cách
mạnh mẽ, lực lượng hải quan khó có thể đáp ứng được yêu cầu. Hơn nữa,
Việt Nam đã ra nhập tổ chức Hải quan thế giới (WCO) từ năm 1993, xác định
trị giá tính thuế trên cơ sở “trị giá giao dịch” theo hiệp định GATT, mở rộng
triển, bắt kịp với xu hướng phát triển chung của thời đại. Để gia nhập vào tổ
chức thương mại thế giới (WTO), qua các vòng đàm phán, Việt Nam phải
cam kết một số vấn đề về lĩnh vực hải quan. Cụ thể như xác định trị giá hải
quan theo quy định của WTO, đơn giản hoá thủ tục hải quan, các quy định về
phí và lệ phí Cùng với quá trình hội nhập, Việt Nam thực hiện mở cửa thị
trường, cắt giảm hàng rào thuế quan do vậy khối lượng hàng hoá xuất nhập
khẩu tăng rất nhanh nên buộc ngành Hải quan phải thay đổi dần phù hợp với
những chuẩn mực Hải quan quốc tế, cần đơn giản hoá thủ tục Hải quan để
phù hợp với yêu cầu quản lý Hải quan theo thông lệ quốc tế và phù hợp với sự
vận động của các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Hơn nữa, thực tế đã cho thấy áp dụng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối
với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là công cụ chủ yếu của phương thức quản
lý hải quan hiện đại mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng và áp dụng thành
công để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và giao lưu thương mại.
Bởi vậy, việc áp dụng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại là một tất yếu mà nước ta cần áp dụng
nếu muốn hiện đại hoá hải quan.
1.2.3.Nội dung quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.
1.2.3.1. Quy trình quản lý rủi ro
Quy trình quản lý rủi ro được thực hiện theo 4 bước: (1) xác định rủi ro,
(2) phân tích đánh giá rủi ro, (3) xử lý rủi ro, (4) giám sát, đánh giá lại và đo
lường, đánh giá tuân thủ.
Quy trình quản lý rủi ro
1.2.3.1.1. Xác định rủi ro được thực hiện theo trình tự sau:
• Thu thập, phân tích thông tin và dữ liệu; xác định rủi ro có thể xảy ra
trong từng lĩnh vực rủi ro
Nguồn thông tin phục vụ thu thập, phân tích và đánh giá rủi ro tại Cục Hải
quan tỉnh bao gồm:
Thông tin vi phạm pháp luật Hải quan từ hệ thống cơ sở dữ liệu của
ro). Các thông tin này được gắn với đối tượng quản lý là doanh nghiệp và
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Khi thu thập thông tin liên quan đến rủi ro nêu trên cần lưu ý lựa chọn
thu thập các chỉ tiêu thông tin liên quan, không giới hạn theo danh sách các
chỉ tiêu thông tin được liệt kê dưới đây:
Tên, mã số doanh nghiệp thực hiện hoặc liên quan đến hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hoá.
Tên, mã số (nếu có) đối tác nước ngoài trong quan hệ xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hoá.
Tên, mã số hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Trị giá khai báo Hải quan.
Tên, mã Quốc gia, khu vực là nơi xuất xứ hàng hoá nhập khẩu.
Tên, mã Quốc gia, khu vực xuất khẩu hàng hoá hpặc là địa điểm trung
chuyển hàng hoá vào Việt Nam.
Tên, mã Quốc gia, khu vực nhập khẩu hàng hoá hpặc là địa điểm trung
chuyển hàng hoá từ Việt Nam.
Tên, mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu.
Tên, mã địa điểm làm thủ tục Hải quan.
Phương thức vận chuyển đóng gói hàng hoá.
Phương thức thanh toán.
Tuyến đường vận chuyển hàng hoá.
Thông tin và chính sách quản lý của cơ quan quản lý nhà Nứớc, chính
sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Các thông tin khác có liên quan.
Đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện quản lý rủi ro tại cấp Cục có
trách nhiệm phối hợp với các đơn vị trực thuộc Cục tổ chức thu thập thông tin
từ tất cả các nguồn hiện có nêu trên và xây dựng các bảng dữ liệu về Doanh
nghiệp, hàng hoá vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm.
Trên cơ sở thông tin thu thập, tiến hành rà soát, xác định các khả năng xảy
ra vi phạm pháp luật hải quan trên địa bàn Cục Hải quan tỉnh có liên quan đén
định với hồ sơ rủi ro hiện có:
Trường hợp rủi ro này đã được đăng ký trong hồ sơ rủi ro (kể cả trường
hợp đã thanh loại) thì đối chiếu các dấu hiệu và các yếu tố liên quan của rủi ro
được xác định với rủi ro đang quản lý để xem xét điều chỉnh, bổ sung hoặc
phục hồi hồ sơ đã đăng ký trước đây (đối với rủi ro thanh loại) và báo cáo
lãnh đạo có thẩm quyền phê duyệt.
Trường hợp rủi ro được xác định là rủi ro mới phát hiện thì báo cáo xác
lập hồ sơ rủi ro theo mẫu MQLRRĐT- 4 và trình lãnh đạo có thẩm quyền phê
duyệt.
• Người có thẩm quyền căn cứ vào đề xuất của công chức, xem xét tính
xác thực của thông tin để quyết định việc điều chỉnh, bổ sung, phục hồi hồ sơ
đăng ký rủi ro hoặc phê duyệt xác lập hồ sơ rủi ro mới.
1.2.3.1.2. Phân tích thông tin,đánh giá rủi ro.
1.2.3.1.2.1. Trên cơ sở danh sách rủi ro được xác lập, công chức quản
lý rủi ro được tiến hành phân tích để xác định tần xuất, hậu quả và mức độ
của rủi ro theo cách thức như sau:
- Lựa chọn các trường dữ liệu từ bảng dữ liệu thu thập nêu trên có liên quan
đến rủi ro cần phân tích.
- Sử dụng công cụ Excel để thống kê xác định số lần (tần suất) cũng như thiệt
hại (hậu quả) đã hoặc có thể xảy ra.tần suất và hậu quả được xác định theo 03
cấp độ: Cao, trung bình. thấp.
- Kết hợp giữa tần suất và hậu quả để xác định mức độ của rủi ro theo bảng
dưới đây:
Bảng phân tích cấp độ rủi ro
Khả năng xảy ra Hậu quả
Rất nghiêm trọng Nghiêm trọng Ít nghiêm trọng
Thường xuyên Rủi ro cao Rủi ro cao Rủi ro cao
Thỉnh thoảng Rủi ro trung bình Rủi ro cao Rủi ro cao
Ít khi Rủi ro thấp Rủi ro trung bình Rủi ro cao
Trong thực tế có nhiều trường hợp công chức thực hiện phân tích rủi ro
Ví dụ qua thông tin thu thập được cho thấy giá thịt bò nhập khẩu trong
nước thấp hơn giá thịt bò trên thị trường thế giới, một số doanh nghiệp (chưa
xác định) đang tìm cách nhập khẩu mặt hàng thịt bò và chế phẩm từ bò có
xuất xứ từ các nước Anh, Đức có nguy cơ bị bệnh dịch bò điên bằng hình
thức chuyển tải qua nước thứ ba (chẳng hạn như Philipin). Như vậy rủi ro
được xác định ở đây là thịt bò và chế phẩm từ bò có nguy cơ bị bệnh dịch bò
điên. Các chỉ số rủi ro giúp cho việc nhận diện ra tình huống rủi ro đó là: mặt
hàng thịt bò, nhập khẩu có xuất xứ từ Anh, Đức hoặc chuyển tải (nhập khẩu)
từ Philipin.
1.2.3.1.2.2. Đánh giá rủi ro:
- Việc đánh giá rủi ro nhằm xác định mức độ ưu tiên cần xử lý đối với rủi
ro.Quá trình đánh giá phải căn cứ vào các yếu tố sau đây:
+ Mức độ rủi ro được xác định;
+ Yêu cầu cho việc quản lý đối với loại rủi ro này;
+ Các rủi ro đã xử lý trước đó;
+ Khả năng về nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc
kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả đối với rủi ro.
- Lập danh sách thứ tự ưu tiên các loại rủi ro cần xử lý.
- Lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp với tính chất, mức độ và đặc điểm của
từng loại rủi ro. Ví dụ như mặt hàng tân dược nếu xác định có nguy cơ rủi ro
về giấy phép hoặc gian lận về trị giá thì cần tập trung kiểm tra hồ sơ hoặc
kiểm tra sau thông quan. Nhưng nếu xác định rủi ro liên quan đến chất gây
nghiện thì cần phải áp dụng kiểm tra hồ sơ và hàng hóa ngay thời điểm làm
thủ tục nhập khẩu.
Trong quá trình đánh giá rủi ro, công chức Hải quan cần vận dụng kiến
thức và kinh nghiệm thực tế để đánh giá và đưa ra quyết định: có cần thiết
kiểm tra hay không? Nếu cần kiểm tra thì biện pháp nào có hiệu quả nhất?
Đối với trường hợp qua đánh giá xác định không cần thiết phải kiểm tra trong
thông quan thì có thể “chấp nhận rủi ro” để theo dõi tiếp hoặc chuyển sang
kiểm tra sau thông quan.
- Các biện pháp, phương án hỗ trợ đảm bảo việc xử lý có hiệu quả;
- Thời gian thực hiện xử lý rủi ro bao gồm thời gian bắt đầu và kết
thúc;
- Đơn vị hoặc công chức thực hiện;
- Các điều kiện về phương tiện, trang thiết bị, kinh phí cần thiết;
- Kế hoạch theo dõi, đánh giá kết quả xử lý và thực hiện báo cáo phản
hồi thông tin.
Lãnh đạo có thẩm quyền (quy định tại mục IV của Quy chế này) tại các
cấp, đơn vị căn cứ cứ vào kế hoạch xử lý rủi ro do cán bộ, công chức báo cáo
xem xét tính phù hợp, hiệu quả và yếu tố khả thi của kế hoạch để quyết định
phê duyệt thực hiện.
Trên cơ sở kế hoạch được lãnh đạo có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị quản
lý rủi ro chuyển giao yêu cầu, phương án xử lý cho các đơn vị liên quan thực
hiện.
1.2.3.1.3.3. Vận hành hệ thống phân tích, đánh giá rủi ro
Hệ thống phân tích, đánh giá rủi ro được vận hành thông qua các hoạt
động cập nhật tiêu chí quản lý rủi ro và thông tin nghiệp vụ; hệ thống tích hợp
xử lý dữ liệu và đưa ra kết quả đánh giá, phân loại rủi ro; lựa chọn, phân
luồng đối tượng kiểm tra.
Cập nhật tiêu chí quản lý rủi ro
Trên cơ sở hồ sơ rủi ro được phê duyệt, công chức vận hành hệ thống cập
nhật tiêu chí quản lý rủi ro vào hệ thống phân tích, đánh giá rủi ro theo mức
độ và cấp độ áp dụng. Bao gồm 3 loại tiêu chí:
- Tiêu chí lựa chọn đối với phương tiện vận tải và hàng hoá trên
phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chuyển cảng;
- Tiêu chí rủi ro áp dụng trong thông quan, bao gồm;
+ Tiêu chí lựa chọn;
+ Tiêu chí tính điểm rủi ro;
+ Tiêu chí ngẫu nhiên;
+ Tiêu chí ưu tiên;
dấu hiệu rủi ro, những nguy cơ đối với việc tuân thủ của doanh nghiệp, trong
trường hợp cần thiết, đơn vị quản lý rủi ro có thể hướng dẫn, hỗ trợ doanh
nghiệp tự xử lý các tình huống rủi ro hoặc tự chấm dứt các hoạt động có dấu
hiệu dẫn tới vi phạm.
+ Thông qua quy trình quản lý rủi ro, đơn vị quản lý rủi ro cần xác định
những rủi ro đến từ hệ thống chính sách, pháp luật và quy trình thủ tục để đề
xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc có biện pháp quản lý phù hợp, kịp thời.
Đồng thời xác định những lĩnh vực có rủi ro cao hoặc những lĩnh vực quan
trọng để tập trung hoạt động kiểm tra, kiểm soát, giám sát nhằm ngăn ngừa
những rủi ro có thể xuất hiện.
Các biện pháp phát hiện, ngăn ngừa rủi ro
- Biện pháp phát hiện, xử lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện
tử đối với phương tiện vận tải đường biển xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh,
chuyển cảng được quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Quy chế;
- Biện pháp phát hiện, xử lý rủi ro trong Quy trình thủ tục hải quan điện
tử đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được quy định tại Phụ lục 6 ban
hành kèm theo Quy chế;
- Biện pháp phát hiện, xử lý rủi ro trong công tác kiểm tra sau thông
quan;
- Biện pháp sử dụng nghiệp vụ kiểm soát để theo dõi, phát hiện đối
tượng có tiềm ẩn rủi ro cao;
- Công chức làm công tác quản lý rủi ro sử dụng chức năng phân tích,
theo dõi, đánh giá của hệ thống quản lý rủi ro để lập danh sách doanh nghiệp
cần áp dụng biện pháp nghiệp vụ kiểm soát để theo dõi, phát hiện và ngăn
chặn vi phạm, bao gồm:
- Doanh nghiệp có rủi ro cao nhưng qua nhiều lần kiểm tra hồ sơ và
kiểm tra thực tế hàng hoá (luồng đỏ) không phát hiện vi phạm;
- Doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm;
- Doanh nghiệp vi phạm nhiều lần.
- Công chức đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền phê duyệt danh sách
Hải quan chuyển luồng, làm rõ lý do chuyển luồng.
- Những trường hợp sau đây sẽ được đánh giá là việc áp dụng tiêu chí
phân tích không có hiệu quả:
• Tiêu chí thiết lập trùng lặp với các tiêu chí khác do cùng một đơn vị
cập nhật;
• Không có lô hàng được lựa chọn đánh giá trong thời gian hiệu lực áp
dụng của tiêu chí;
• Số lượng lô hàng bị lựa chọn nhiều nhưng không phát hiện vi phạm
hoặc tỷ lệ vi phạm được phát hiện dưới 20%;
• Chi cục Hải quan chuyển luồng nhưng không có lý do chính đáng.
Công chức theo dõi, đánh giá tiêu chí đề xuất loại bỏ nhưng tiêu chí hết
hiệu lực, tiêu chí không có hiệu quả hoặc điều chỉnh, bổ sung tổ hợp rủi ro
phù hợp với thực tế áp dụng quản lý rủi ro. Việc đề xuất loại bỏ, điều chỉnh
bổ xung tiêu chí phân tích được thực hiện và do người có thẩm quyền phê
duyệt áp dụng tiêu chí phê duyệt loại bỏ.
1.2.3.2. Trình tự xây dựng, quản lý và ứng dụng một hồ sơ rủi ro:
1.2.3.2.1. Xây dựng hồ sơ rủi ro
Xác lập hồ sơ
+ Thông tin, dữ liệu về rủi ro
Trên cơ sở kết quả xác định rủi ro, các thông tin, dữ liệu về rủi ro được
thu thập tại bước 1 của quy trình quản lý rủi ro, công chức quản lý rủi ro cập
nhật các thông tin dữ liệu về rủi ro, trong đó phản ánh chi tiết các nội dung
về:
- Rủi ro được xác định là gì, xảy ra ở đâu và như thế nào;
- Đầu mối phát hiện: phát hiện qua hoạt động, biện pháp nào;
- Nguyên nhân, điều kiện và mục đích làm nảy sinh rủi ro;
- Các đối tượng làm nảy sinh rủi ro hoặc có liên quan đến rủi ro;
- Các dấu hiệu rủi ro;
- Các thông tin về khả năng, hậu quả, tác động ảnh hưởng (nếu có).
+ Căn cứ xác lập hồ sơ rủi ro