BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG
KHOA:KINH TẾ
ĐỀ
TÀI
Mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân
sách nhà nước giai đoạn 2010 – nay
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn
Luân
Đà Nẵng, 2014
1
MỤC LỤC
QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GIAI
ĐOẠN 2010 - NAY
Lời Mở Đầu
Lạm phát ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề mang tính thời sự hết sức nóng bỏng,
được quan tâm đặc biệt của tất cả mọi người. Bởi vì, lạm phát liên quan đến nhiều vấn đề
quan trọng như tài chính, tiền tệ, ngân hàng,liên quan đến điều hành nhiều bộ ngành,liên
quan trực tiếp đến đời sống của người dân…
Chính vì vậy, tình trạng lạm phát ở nước ta hiện nay đang đặt ra đòi hỏi làm thế
nào kiểm soát được lạm phát, đưa tỷ lệ làm phát xuống thấp nhất ở mức có thể chấp nhận
được. Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, nhưng trong báo cáo này, tôi chỉ tập trung
phân tích mối quan hệ giữa bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) với lạm phát ở nước ta
hiện nay, nhằm tìm ra một số giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô của nền kinh tế.
Đặt Vấn Đề
• “Thâm hụt” nghĩa là thiếu đi do chi quá mức. Vậy khi các khoản chi trong
NSNN lớn hơn các khoản thu vào sẽ tạo ra một khoản chênh lệch gọi là thâm
hụt.
• Một quốc gia có thể tự phát hành tiền. Vậy tại sao họ lại không phát hành tiền
trong chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ nhằm thực hiện chính sách kinh tế
vĩ mô.
Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về Ngân sách Nhà nước hằng
năm
như
sau:
3
Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng
năm
Tổng Thu Tổng Chi
A.Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ
phí).
B. Thu về vốn (bán tài sản nhà
nước).
D. Chi thường
xuyên.
E. Chi đầu
tư.
F. Cho vay thuần (= cho vay mới - thu
nợ
gốc).
C. Bù đắp thâm
hụt
- Viện
trợ.
- Lấy từ nguồn dự
trữ.
- Vay thuần (= vay mới - trả nợ
gốc).
rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ
có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế
1.2.3. Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà
nước
-Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi
NSNN:
+ Do tác động của chu kỳ kinh
doanh:
Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại
tăng
lên
nhằm giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho
mức
bội
chi NSNN tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng
lên,
trong
khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN.
Mức
bội chi
do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu
kỳ.
+ Do tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước
thực
hiện
chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi
NSNN.
Ngược
lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức
bội
để
bù
đắp chi tiêu;…sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và
chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Tuy nhiên mỗi giải pháp
bù đắp bội chi ngân sách nhà nước đều có sự tác động đến nền kinh tế vĩ mô ………….
Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu
nhằm
xử lý bội chi NSNN như
sau:
Thứ nhất: Nhà nước phát hành thêm tiền. Việc xử lý bội chi NSNN có thể
thông
qua
việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông. Tuy nhiên, giải pháp
này
sẽ
gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội
chi
NSNN. Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi NSNN là do thiếu hụt các nguồn vốn
đối
ứng để đầu tư cho phát triển gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng
tài
chính của quốc
gia.
Thứ hai: Vay nợ cả trong và ngoài nước. Để bù đắp thâm hụt NSNN, nhà nước
có
thể
vay nợ nước ngoài và trong nước. Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo
theo
vấn
đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ ngoại
Thứ tư: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ
NSNN.
Đây là
một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi
quốc
gia khi
xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu
tư
công có
nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo
ra
những đột
phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa
hoặc
không hiệu
quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc
triệt
để tiết kiệm
8
các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ
quan
nhà nước
cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực
sự
cần
thiết.
Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn
định
chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế.
hàng hoá ít hơn so với năm
trước.
Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát một con số
(single-digit
inflation), lạm phát hai con số (double-digit inflation), lạm phát phi mã
(galloping
inflation), siêu lạm phát (hyper
inflation)
9
2.2. Cách tính lạm
phát
2.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng CPI
CPI được sử dụng một cách phổ biến trong việc đánh giá mức lạm phát . CPI đo
lường mức giá trung bình của 1 nhóm hàng hoá và dịch vụ cần cho tiêu dùng của các hộ
gia đình trong 1 giai đoạn nhất định. Chỉ số CPI được tính bằng cách so sánh giá trị hiện
tại và giá trị tại kỳ gốc của rổ hang hoá đã được chọn theo quy định:
Ưu điểm: Cho phép so sánh sự biến động mức giá tiêu dùng theo thời gian.
Nhược điểm: Không phản ánh được sự thay đổi trong cơ cầu tiêu dùng , đồng thời cũng
không phản ánh được sự thay đổi về chất lượng của hàng hoá dịch vụ.
Ở Việt Nam , CPI được tính cho toàn quốc và cho từng địa phương, chỉ số giá bình
quân được thông báo hàng tháng, tổ hợp của nhiều tháng và cho cả năm và được công bố
cùng chỉ số giá vàng và chỉ số đô la Mỹ.
2.2.2 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội
Chỉ số giảm phát GDP là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của
tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước. Chỉ số điều chỉnh GDP cho biết một
đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với
mức giá của năm cơ sở.
Ưu điểm: Phản ánh được sự thay thế giữa các hàng hoá, dịch vụ với nhau.
Nhược điểm: Chỉ phản ánh mức giá của những hàng hoá sản xuất trong nước (vì GDP
chỉ tính sản phẩm trong nước) , không phản ánh được sự giảm sút phúc lợi của người tiêu
mức
cần thiết dẫn đến tình trạng mất giá của đồng bản
tệ.
Lạm phát giả cả được hiểu là giá cả của hàng hóa và dịch vụ nói chung tăng lên
do
cầu lớn hơn cung (cầu kéo), hoặc do chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ tăng lên
(chi
phí
đẩy).
Trong thực tế hai loại lạm phát nói trên ít khi xảy ra cùng một lúc, mà
thường
hoặc là lạm phát giá cả, hoặc là lạm phát tiền
tệ.
Nếu điều tiết lạm phát ở mức độ ổn định và hợp lý sẽ có tác dụng thúc đẩy sự
phát
triển của nền kinh tế, hay nói cách khác là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế,
điều
kiện cần là vấn đề của Chính phủ trong việc phát triển nguồn lực, vốn và công nghệ
kỹ
thuật Nghiên cứu bước đầu của IFM (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam
với
các nước Đông Nam á cũng đã chỉ ra răng, mức lạm lạm phát tối ưu cho tăng
trưởng
kinh tế ở các nước vùng Đông Nam á, trong đó dự kiến lạm phát năm
2014 củaViệt Nam sẽ dừng dưới 3% (song trong năm 2015 lạm phát sẽ được kích lên
5% trong tầm kiểm soát để tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển, đó là thông tin được
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biều tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên
2014) trong
khi
các nước phát triển chọn mức lạm phát gần 2% là mức tối ưu cho tăng
nước
lại thiếu hụt dẫn đến không đủ nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển. Để bù
đắp
phần thiếu hụt, Nhà nước có thể sử dụng chính sách phát hành thêm tiền và đưa ra
lưu
thông. Tuy nhiên việc tăng chi tiêu của Chính phủ trong trường hợp này sẽ gây
"tăng
trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia. Nếu nhà
nước
phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN thì sẽ gây ra tình trạng
lạm
phát tiền
tệ.
II. Thực tiễn tại Việt Nam giai đoạn
2010-đến nay
1. Thực trạng lạm phát tại Việt Nam giai đoạn
2010-đến nay
Năm 2010
Tổng cục thống kê công bố CPI tháng 12 năm 2010 tăng 1,98%so với tháng
trước, đẩy lạm phát năm 2010 của cả nước lên 11,75% so vớitháng 12/2009. Nếu tính
bình quân theo cách tính mới của tổng cục thống kê, chỉsố giá năm 2010 so với năm
2009 tăng 9,19%.
So với tháng trước, chỉ số giá tháng 12 của nhóm hàng tăngcao nhất là lương
thực (tăng 4,67% so với tháng trước), tiếp đến là thực phẩm(tăng 3,28%), nhóm nhà ở
và vật liệu xây dựng (tăng 2,53% so với tháng trước). Duynhất ngành bưu chính viễn
thông giảm nhẹ 0,02% so với tháng trước.
Các ngành khác tăng không đáng kể: Ngành may mặc, mũ nón,giầy dép (tăng
1,81%), thiết bị và đồ dùng gia đình (tăng 0,86%), thuốc và dịchvụ y tế (0,41%), giao
thông (tăng 0,45%), nếu tháng trước ngành giáo dục tăngmạnh thì tháng này tăng
0,07% so với tháng 11.
xăng trong kỳ giảm 250 đồng một lít, sau khi đã có những đợt giảm giá liên tiếp gần
đây.
Tính từ đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng cả nước tăng 5,5%, cách xa mục tiêu
Quốc hội thông qua là 7%. Với bối cảnh giá cả ít biến động lớn, Thủ tướng mới đây
cho hay chỉ số giá tiêu dùng cả năm ước chỉ tăng 6,2-6,3%, thấp nhất trong 10 năm
qua. Không thuộc rổ hàng hóa tính CPI, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng này cũng
lần lượt giảm 1,04% và 0,1% so với tháng trước.
Năm 2014
Diễn Biến CPI Qua Các Tháng Của Năm 2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Báo cáo của Tổng cục Thống kê công bố ngày 24/11/2014 cho thấy chỉ số CPI
của Việt Nam trong tháng này giảm 0,27% so với tháng 10.
Lần gần đây nhất chỉ số CPI của Việt Nam ghi nhận con số âm là tháng 3, khi
CPI ghi nhận mức giảm 0,44%.
Theo Tổng cục Thống kê, trong 11 nhóm hàng hóa cấu thành chỉ số CPI thì có
tới 4 nhóm hàng ghi nhận giá giảm so với tháng 10, trong đó nhóm giao thông giảm
mạnh nhất với mức 2,75% khi giá xăng dầu có 2 đợt điều chỉnh giảm trong tháng 11.
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong rổ hàng hóa
tính CPI, cũng giảm nhẹ 0,03% so với tháng trước.
Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng và nhóm viễn thông kéo dài đà giảm của
tháng trước đó, tiếp tục giảm nhẹ trong tháng này với mức lần lượt là 0,74% và 0,01%.
Các nhóm hàng còn lại tăng nhưng mức tăng không đáng kể. Nhóm hàng ghi
nhận mức tăng cao nhất là may mặc, mũ nón và giày dép cũng chỉ tăng 0,34%.
Cũng theo báo cáo, chỉ số CPI mới chỉ tăng 2,08% so với cuối năm 2013 và
tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 11 tháng đầu năm, chỉ số CPI tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2013.
Giá vàng và Đôla Mỹ, không thuộc rổ hàng hóa tính CPI, có diễn biến trái chiều
trong tháng 11, với chỉ số giá vàng giảm 1,49% so với tháng 10, còn chỉ số giá Đôla
Mỹ lại tăng 0,23%. Tính chung 11 tháng, giá vàng đã giảm 12,17%, phản ánh giá vàng
trong nước và thế giới giảm mạnh trong những tháng gần đây.
Kiểm soát đối với một số hàng hoá, dịch vụ độc quyền, ngăn chặn và kiên quyết
xử lý hành vi liên kết và lạm dụng vị thế thị trường để tăng giá bất hợp lý, nhất là các
nguyên liệu đầu vào quan trọng của sản xuất và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu.
Ta có thể nhận thấy rằng chi cho hoạt động thường xuyên là chiếm chủ yếu
và
có sự gia tăng khá mạnh, chiếm tỉ trọng trung bình là 75% /năm trong giai đoạn
2010 -2012 ; các khoản trả nợ vay cũng như viện trợ cũng chiếm đáng kể trong số chi
của
Chính phủ (nhằm trả các khoản nợ vay nhằm bù đắp cho thâm hụt ngân sách),
ngoài
ra
chi cho đầu tư phát triển (chi cho đầu tư xây dựng cơ bản là chủ yếu) tuy
không
phải
chiếm chủ yếu trong nguồn chi ngân sách nhưng lại có tốc độ tăng mạnh
qua các
năm
với tỉ trọng trung bình là 25%/năm trong giai đoạn 2010– 2012
3. Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm
phát
Chính những yếu kém trong ngân sách (thu NSNN không đủ chi và bù đắp
thâm hụt ngân sách không chỉ phải vay trong và ngoài nước mà còn phải lấy từ nguồn
tiền phát hành) là một yếu tố quan trọng gây nên lạm phát Thực tế trong những năm
gần đây, mặc dù chúng ta đã kiểm soát nguồn bội chi NSNN từ hai nguồn là vay nước
ngoài và vay trong nước nên sức ép tiền cung ứng thêm ra thị trường là không có,
nhưng sức ép tăng chi tiêu của Chính phủ cho tiêu dùng thường xuyên và cho đầu tư
lại tăng lên. Giải pháp để kiểm soát bội chi NSNN và kiềm chế lạm phát, ông Lý nhấn
mạnh: Vấn đề đặt ra hiện nay là việc rà soát, cắt giảm chi tiêu NSNN chưa thật cần
bằng việc đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu tư
chưa thật bức bách, kém hiệu quả hoặc chưa khởi công. Đây là một trong những nhiệm
Về chi thường xuyên, tiếp tục rà soát, tổ chức lại tất cả các khâu hoạt động
của bộ máy vận hành quốc gia, đẩy mạnh công tác cổ phần hoá doanh nghiệp có vốn
nhà nước, giải thể những đơn vị làm ăn không có hiệu quả, lên lộ trình cắt giảm
các khoản chi chưa cần thiết để tập trung nguồn lực cho công tác khác quan trọng và
cấp thiết hơn.
KẾT LUẬN
-Nhìn lại toàn bộ quá trình nhiều năm qua cho thấy, mối quan hệ giữa
bội
chi NSNN với lạm phát có thể rút ra một số kết luận sau:
+ NSNN có mối quan hệ nhân quả với lạm phát. Nếu thâm hụt NSNN quá mức
có
thể dẫn đến lạm phát cao. Đặc biệt, nếu bù đắp thâm hụt NSNN bằng việc phát
hành
tiền sẽ tất yếu dẫn đến lạm
phát.
+Tăng chi NSNN để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng, sẽ kích thích
đầu
tư
phát triển và tăng đầu tư phát triển sẽ đưa đến tăng trưởng cao. Tuy nhiên, nếu
tăng
chi quá mức cho phép, tức là tăng chi đến mức làm cho thâm hụt NSNN quá cao và
để
bù đắp thâm hụt này phải đi vay nợ quá lớn thì sẽ đưa đến gánh nặng nợ. Kết
quả
là
đưa đến kích thích tiêu dùng (kích cầu quá mức) thì ở chu kỳ sau sẽ kéo theo
lạm
phát,
mà lạm phát cao lại làm giảm đầu tư phát triển và giảm đầu tư phát triển kéo
theo