mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước việt nam giai đoạn 2000-2013 - Pdf 31

Chương 1: Giới thiệu
1.1. Vấn đề nghiên cứu
Khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự leo thang của nợ công, vấn đề khủng hoảng
nợ châu Âu tiếp tục cho thấy sự cần thiết phải hạn chế thâm hụt ngân sách nhà nước
trong thời kỳ kinh tế thuận lợi, chủ động đối phó với thâm hụt ngân sách nhà nước bùng
phát trong thời kì suy thoái, khủng hoảng, điều tiết nền kinh tế hiệu quả hơn. Đứng trước
sự phục hồi kinh tế sẽ càng ngày gây áp lực lên ngân sách nhà nước. Trong khoảng 12
năm nay, thâm hụt ngân sách tại Việt Nam liên tục kéo dài nên việc tìm rõ nguyên nhân
gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước kéo dài liên lục là điều rất quan trọng. Bên cạnh việc
thâm hụt ngân sách thì việc lạm phát tăng cao cũng là một trong những vấn đề được
nhiều người quan tâm. Vì vậy, bài nghiên cứu này sẽ đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ hai
chiều giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu mối quan hệ nhân quả giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước
Việt Nam trong giai đoạn 2000-2013.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình lạm phát, thâm hụt ngân sách nhà nước và mối quan hệ giữa
lạm phát và thậm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000-2013.
1.4. Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu
Nếu tìm rõ nhân tố nào tác động tới thâm hụt ngân sách tại Việt Nam thì sẽ giúp
các nhà kinh tế hoạch định rõ chi tiết các chính sách tài chính nhằm hạn chế thâm hụt
ngân sách nhà nước hay nâng cao ngân sách nhà nước. Hơn thế nữa nhờ đó sẽ giảm được
những vấn đề khác phát sinh thêm như: nợ quốc gia hay lạm phát tăng cao. Có nhiều bài
nghiên cứu tác động thâm hụt ngân sách nhà nước tới lạm phát cũng như tác động của
lạm phát lên thâm hụt ngân sách nhà nước. Nhưng có rất ít nghiên cứu quan tâm về mối
quan hệ tác động hai chiều giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách nhà nước. Bài nghiên
cứu này góp phần làm rõ thêm những nghiên cứu mối quan hệ hai tác động giữa lạm phát
và thâm hụt ngân sách.
1.5. Kết cấu nghiên cứu
1


GIỮA LẠM PHÁT VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
Căn cứ luật ngân sách số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002, được sửa đổi và có
hiệu lực từ ngày 01/01/2004 thì Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của
Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trong hệ thống tài chính, ngân sách nhà nước là bộ phận chủ đạo, là điều kiện vật chất
quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước do hiến pháp quy định, nó còn là
công cụ quan trọng của nhà nước có tác dụng điều tiết vĩ mô của nền kinh tế xã hội,
muốn sử dụng tốt công cụ này phải nhận thức được những vấn đề lý luận cơ bản của ngân
sách nhà nước.
Mặt khác, ngân sách nhà nước còn phản ánh các quan hệ kinh tế giữa một bên là nhà
nước một bên là các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các
nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Những khoản thu
nộp và cấp phát qua quỹ ngân sách nhà nước là các quan hệ được xác định trước, được
định lượng và nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Từ những phân tích trên, ta có thể xác định được ngân sách nhà nước phản ánh các quan
hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ chung
của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực
hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
2.2. Đặc điểm của Ngân sách nhà nước
Thứ nhất: Tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước gắn liền quyền lực với việc thực
hiện các chức năng của Nhà nước, đây cũng chính là điểm khác biệt giữa ngân sách nhà
nước với các khoản tài chính khác. Các khoản thu ngân sách nhà nước đều mang tính
chất pháp lý, còn chi ngân sách nhà nước mang tính cấp phát “không hoàn trả trực tiếp”.
Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội Nhà nước đã sử dụng

3



C. Bù đắp thâm hụt
- Viện trợ.
- Lấy từ nguồn dự trữ.
- Vay thuần (= vay mới - trả nợ gốc).
Nguyên tắc cân bằng ngân sách là: A + B +C = D + E + F

4


Công thức tính bội chi Ngân sách Nhà nước của một năm sẽ như sau: Bội chi
Ngân sách Nhà nước = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C (khoản bù đắp
thâm hụt)
Bội chi Ngân sách Nhà nước có thể do ngoài tầm kiểm soát nhưng cũng có thể
nằm trong chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ nhằm thực hiện chính sách kinh tế
vĩ mô.
2.4. Phân loại thâm hụt ngân sách
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: Thâm hụt cơ
cấu và thâm hụt chu kì.
- Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến
của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi cho giáo
dục-đào tạo, quốc phòng…
- Thâm hụt chu kì là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kì kinh tế, nghĩa là
bởi mức độ cao hay thấy của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ: Khi nền kinh tế suy
thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn dến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi
ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
2.5. Nguyên nhân của thâm hụt ngân sách
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi ngân sách nhà nước:
- Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho
thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên để giải quyết những khó
khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi ngân sách nhà nước tăng lên.

Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các
khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá
nhân; các khoản viện trợ; thu chuyển nguồn từ năm trước, các khoản thu khác theo quy
định của pháp luật.
Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển, chi phát triển
sự nghiệp kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ
máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ, chi chuyển nguồn ngân sách từ
năm trước sang năm sau và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Ở Việt Nam, ngân sách nhà nước (NSNN) được cân đối trên nguyên tắc tổng số
thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ
ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn thâm hụt thì số thâm hụt phải
nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển. Như vậy, nếu như xem tất cả các khoản thu từ thuế và
phí, lệ phí của Việt Nam là các khoản thu thường xuyên thì có thể thấy theo quy định
của Luật Ngân sách nhà nước (2002), cán cân ngân sách thường xuyên của Việt Nam
luôn phải thặng dư. Tuy nhiên, việc xác định phạm khoản thu, chi cân đối NSNN của
Việt Nam có sự khác biệt khá lớn so với thông lệ quốc tế. Điều này cũng dẫn đến việc
xác định thâm hụt của Việt Nam so với thế giới không có sự thống nhất, đây là trở ngại
của Việt Nam so với các nước trên thế giới.
3.2. Thực trạng về thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2013
3.2.1. Thực trạng về thu- chi NSNN của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2013
a. Thực trạng thu NSNN:

7


Thu NSNN là một khoản thu quan trọng trong việc đáp ứng các hoạt động chi cũng như
vận hành bộ máy nhà nước, việc vận hành bộ máy nhà nước này có tốt hay không phụ
thuộc vào nguồn lực kinh tế dành cho khu vực công này, chính vì thế thu NSNN luôn
được Chính phủ quan tâm đặt biệt, cụ thể như sau:
Bảng 3.1: Tổng thu NSNN trong giai đoạn 2000-2013

Tổng thu ngân sách nhà nước
Năm
Giá trị
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013

315915
430549
454786
588428
721804
743190
816000

Tăng
(%)

trưởng
13.04
36.29
5.63
29.39
22.67
2.96
9.8


2003

2004

2005

2006

46233

52647

23534
18954

26281
22949

61375
26510
31571

78685
36773
33845

104577
48562
34913

tổng thu NSNN, thu hải quan chiếm 15,3% năm 2006, trong khi đó năm 2000 nguồn thu
nội địa chiếm khoảng 50% và thu từ hải quan chiếm 20,9%. Sự chuyển dịch cơ cấu trong
thời gian này chủ yếu là do chính sách mở cửa của Việt Nam trong giai đoạn tăng cường
giao thông hàng hóa, việc giảm các loại thuế xuất nhập khẩu làm cho nguồn thu từ hải
quan này giảm tỷ trọng trong cơ cấu thu NSNN. Bên cạnh đó năm 2003 do thực hiện
pháp lệnh về phí và lệ phí đã bãi bỏ 140 khoản phí thuộc các bộ ngành TW và 105 khoản
phí thuộc các địa phương đã làm giảm chi phí xã hội khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm.
Ngoài ra kết quả thu trên địa bàn của một số địa phương vượt dự toán ban đầu như Bình
Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu , Hải Dương 44,2%, Quảng Ninh , Đà Nẵng, Bình Dương, Hà
Tây, Hưng Yên, Tp.HCM ...


Giai đoạn 2007-2009: Giá trị tăng tuyệt đối trong giai đoạn này vẫn tăng,

tuy nhiên tốc độ tăng qua các năm lại có sự biến động rất lớn. Năm 2008 tốc độ tăng
tuyệt đối đạt 36,29% và cao nhất trong cả giai đoạn. Theo báo cáo của kỳ họp thứ 4 Quốc
hội khóa XII năm 2008 thì: Thu nội địa: đạt 205.000 tỷ đồng, vượt 8,3% (15.700 tỷ đồng)
so với dự toán, tăng 17,6% so với thực hiện năm 2007, chiếm 51,4% tổng thu NSNN.
Thu từ dầu thô: Đạt 98.000 tỷ đồng, vượt 49,4% (32.400 tỷ đồng) so với dự toán, tăng
27,3% so với thực hiện năm 2007. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu:
dự toán 64.500 tỷ đồng (trên cơ sở thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 84.500 tỷ đồng,
10


hoàn thuế giá trị gia tăng là 20.000 tỷ đồng), phấn đấu thu ngân sách từ hoạt động xuất
nhập khẩu đạt 121.000 tỷ đồng; sau khi thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ,
thu cân đối ngân sách cả năm đạt 91.000 tỷ đồng, vượt 41,1% (26.500 tỷ đồng) so với dự
toán, tăng 50,7% so với thực hiện năm 2007 dựa trên cơ sở tổng kim ngạch xuất khẩu cả
năm 2008 ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập khẩu
kiềm chế ở mức 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007; nhập siêu của cả nền kinh tế

b. Thực trạng chi NSNN:
Bảng 3.3: Tổng chi NSNN qua các năm từ 2000-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tổng chi ngân sách nhà
nước
Giá trị
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006

108961
129773
148208
181183
214176
262687
308058

Tổng chi ngân sách nhà
nước

Tăng trưởng
(%)
19.1
14.21
22.25

(Bộ Tài chính)

Bảng 3.3: Tổng chi NSNN qua các năm từ 2000-2013

12


Qua bảng số liệu ta thấy, tổng chi của Việt Nam hầu như tăng qua các năm nhưng
không có sự ổn định về tốc độ tăng trưởng. Quy mô chi NSNN ngày càng được mở rộng
bên cạnh đó trong giai đoạn đầu cơ cấu chi chủ yếu là tăng đầu tư phát triển, giai đoạn
trong và sau khủng hoảng chủ yếu là giảm tỷ trọng chi đầu tư, tăng tỷ trọng chi thường
xuyên nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế.
• Giai đoạn 2000-2006: chi NSNN được kết cấu lại theo hướng chi trên cả ba lĩnh
vực chi đầu tư, chi thường xuyên và chi trả nợ.
Bảng 3.4: Các khoản chi NSNN trong giai đoạn 2000-2006
Đơn vị tính: Tỷ đồng
2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006




2006 chi thường xuyên tăng gần 20% so với năm 2005. Ngoài ra các khoảng chi trả nợ và
viện trợ tăng và dần chiếm tỉ trong lớn trong tổng chi NSNN (năm 2006 chiếm 15%)
Biểu đồ 3.4: Các khoản chi NSNN trong giai đoạn 2000-2006

Đặc biệt 2003 và 2005 thì có tốc độ tăng trưởng chi tăng trên 22%, nguyên nhân
chủ yếu là do: Đầu năm 2003 các khoản chi mới phát sinh như chi phòng chống và dập
dịch SARS, chi công tác chuẩn bị SEA Games 22 và ASEAN Paragames 2, chi bổ sung
khắc phục hậu quả thiên tai đã dẫn đến chi 2003 tăng 6,1% so với dự toán ban đầu và
chiếm 27,3% so với GDP, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 7,8% GDP và chi thường
xuyên bằng 15,5% GDP. Cũng trong năm 2003 cải cách tiền lương khiến tổng quỹ lương
nhà nước tăng 13.302 tỷ đồng so với 2002 lấy từ khoản giảm chi thường xuyên 10%, và
một số nguồn khác. Năm 2005 chi do vượt tiền lương và chi đầu tư phát triển, chi vượt
tiền lương một phần là do cải cách lương chuyển nguồn chi từ năm 2004 sang năm 2005
và bên cạnh đó chi vượt đầu tư phát triển cụ thể là chi đầu tư phát triển thực tế đạt 71119
tỷ đồng, vượt gần 2 tỷ so với báo cáo và 9% so với dự toán, chiếm 28,3% tổng chi cân
đối ngân sách Nhà nước.
• Giai đoạn 2007-2009: tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm, trong giai đoạn
khủng hoảng này thì tốc độ tăng trưởng chậm như vậy cũng thể hiện được chính sách cắt
giảm chi tiêu của chính phủ, tuy nhiên việc cắt giảm này lại chưa hiệu quả. Trong năm
2007 đạt tốc độ tăng trưởng chi là 29,65%, trong đó chi đầu tư giảm cơ cấu, lý do chủ
14


yếu là vấn đề chi đầu tư của Việt Nam chưa hiệu quả và và xuất hiện hàng loạt các
chương trình tiết giảm chi đầu tư năm 2007 việc đầu tư này chủ yếu vào các công trình
kết cấu cơ sở hạ tầng quan trọng để thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Việt Nam
sau khi gia nhập WTO. Bên cạnh đó thực hiện cơ chế tự chủ, chịu trách nhiệm về sử
dụng biên chế đang góp phần sử dụng nguồn chi phù hợp hơn ở các địa phương. Trong

2005
2006

18212
25885
24348
28909
23248
34400
28586

42.13
-5.94
18.73
-19.58
47.97
-16.9

Bội
NSNN
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013

chi Tăng
(%)

hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay, hiện tại ở Việt Nam, nguồn bù đắp cho thâm hụt
ngân sách là từ 2 nguồn vay trong nước và vay quốc tế. Nguồn vay bù đắp thâm hụt có
sự biến động cùng với sự biến động của mức thâm hụt ngân sách nhà nước. Năm nào
thâm hụt thâp năm đó vay nợ nhiều

16


Biểu đồ 3.5: Ngân sách nhà nước của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2006

Theo biểu đồ tổng thu tổng chi qua các năm cho thấy Việt Nam trong tình trạng
thâm hụt dài.
Trong giai đoạn 2000-2006, Việt Nam vừa bước ra khỏi tình trạng giảm phát và
khuyến khích sản xuất, chính sách tài khóa nới lỏng tăng chi ngân sách nhà nước nhằm
thực hiện gói kích cầu tăng GDP. Giá trị thâm hụt qua các năm thấp, cho thấy Việt Nam
có tiến hành tiết kiệm chi tiêu, tuy nhiên có một số năm giá trị thâm hụt tăng lên rất
nhanh, cho thấy quá trình quản lý ngân sách còn lỏng lẻo, dù cho tổng thu của Việt Nam
tăng nhưng và không khắc phục được thâm hụt NSNN trong giai đoạn đầu của nền kinh
tế đang phát triển nóng. Trong giai đoạn khủng hoảng thì việc thắt chặt chi tiêu vẫn
không đủ bù lại khoảng chi lớn trong giai đoạn nhà nước khó khăn. Tuy nhiên tình hình
thâm hụt trong giai đoạn này lại lớn. Trong năm 2010-2013 giá trị thâm hụt của Việt
Nam tăng nhanh, năm 2010 giá trị thâm hụt lớn gấp 14 lần so với năm 2000, và tăng
102% so với năm 2009 chính vì điều này làm gia tăng mức nợ công của Việt Nam, và
chính việc gia tăng một cách đột biến về thâm hụt làm chính phủ quan tâm xử lý nhiều
hơn trong việc chi tiêu dù đang thực hiện gói kích cầu nhằm vực dậy tình hình kinh tế.
Trong những năm sau giá trị thâm hụt đã được khắc phục và kiểm soát, nhà nước thực
hiện mức thâm hụt thực tế thực hiện ở mức thấp hơn so với mức Quốc hội cho phép thâm
hụt dự toán được giữ.

17

khoảng 48.5 nghìn tỷ đồng thì năm 2007 đã tăng lên tới 56.5 nghìn tỷ đồng. Thâm hụt
ngân sách năm 2010 đến năm 2013 cũng ở ngưỡng trung bình khá cao là 5.2%, trong
năm 2010 mức thâm hụt dù có giảm so với năm 2009 nhưng vẫn đạt mức cao là 5.8%.
Xu hướng năm 2012-2013 là giảm.
Tuy nhiên, theo một số chuyên gia và tổ chức kinh tế thì những con số này còn
lớn hơn nhiều khái niệm và cách tính thâm hụt NSNN ở Việt Nam còn nhiều

điểm khác biệt so với thông lệ quốc tế. Điều này xuất phát từ cách phân loại,
phương pháp hạch toán ngân sách của Việt Nam trong một số nội dung còn
chưa theo chuẩn mực chung được nhiều nước áp dụng, như Cẩm nang Thống kê
tài chính chính phủ (GFS). Những sự khác biệt đáng chú ý là:
Trong tổng chi NSNN của Việt Nam có tính cả các khoản trả nợ gốc, trong
khi đó thông lệ quốc tế chi NSNN là để xác định thâm hụt chỉ bao gồm các khoản
nợ lãi không bao gồm nợ gốc phải trả, điều này làm cho con số công bố về thâm hụt
của Việt Nam và thế giới khác nhau. Ngoài ra, theo quy định của Việt Nam đối với
19


các khoản vay gốc thì khi vay các khoản vay này được dùng để chi trả cho các
khoản chi mục tiêu của đất nước, sau đó sẽ có các khoản chi trả nợ, như vậy về bản
chất nợ gốc hoàn trả trong năm ngân sách là được phát sinh từ nhiều năm trước, do
đó số tiền gốc phải trả không phụ thuộc vào tình hình kinh tế mà phụ thuộc vào điều
khoản vay nợ. Điều nàu làm phản ánh không thực tiễn diễn biến điều hành của
Chính phủ đối với ngân sách nhà nước, có nhiều năm các khoản chi tăng là do chi
trả nợ như năm 2005, 2006 hay năm 2010 chi trả nợ tăng so với dự toán chủ yếu là
do chi trả các khoản nợ trước hạn, theo báo cáo chính phủ dự toán chi 70.250 tỷ
đồng, kết quả thực hiện đạt 80.250 tỷ đồng, tăng 14,2% so với dự toán.
Ngoài ra có các khoản chi để ngoài ngân sách. Kể từ năm 2003, Việt Nam đầu tư
rất nhiều cho các công trình giao thông, thủy lợi. kiên cố hóa trường học phổ thông qua
việc phát hành trái phiếu chính phủ và công trái giáo dục. Tuy nhiên các khoản này lại


Thu từ thuế và phí

418.790

2

Thu về vốn

3

Thu viện trợ không hoàn lại

B

Thu kết chuyển

162.901

C

Tổng chi ngân sách (không bao gồm chi trả nợ gốc)

661.972

1

Chi đầu tư phát triển

181.363


Trái phiếu chính phủ

55.691

H

Vay về cho vay lại

23.675

1

Thâm hụt Ngân sách theo cách tính của Việt Nam
Không bao gồm trái phiếu, vay về cho vay lại
So với GDP (%)

39.588
7.908

-114.442
-6,90%

Gồm cả trái phiếu, vay về cho vay lại
So với GDP (%)
2

Thâm hụt Ngân sách theo cách tính GFS
So với GDP (%)


thực hiện cơ cấu lại hệ thống thu ngân sách tăng cường vai trò của các nguồn thu khác
dựa trên nền tảng từ thu nội địa, đây được xem là điều kiện cần trong việc gải thâm hụt
ngân sách bên cạnh việc cơ cấu chi NSNN
Thứ ba, áp lực chi ngân sách ngày càng tăng, nhất là chi đầu tư phát triển, chi
đảm bảo cho an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo trong khi đó hiệu quả quản lý và sự
dụng nguồn lực NSNN vẫn còn một số hạn chế. Việc xây dựng cơ sở hạ tang trong nhưng
năm tới là rất lớn vì nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong khi đó chất lượng cơ sở hạ
tầng của Việt Nam vẫn còn rất thấp.

22


Bảng 3.7: Xếp hạng cạnh tranh và cơ sở hạ tầng 2010-2011
Quốc gia

Xếp hạng cạnh tranh

Xếp hạng cơ sở hạ tầng

Nhật Bản

6

11

Hàn Quốc

22

18


Việt Nam

59

83

Bên cạnh đó các khoản chi thường xuyên là các khoản chi mà xu hướng tăng dần
theo thời gian. Như vậy nhu cầu tăng chi ngân sách để giải quyết các vấn đề lên quan như
cải cách lương, an sinh xã hội sẽ là những khó khăn trong việc giảm thâm hụt Việt Nam
trong những năm tới.
Thứ tư, tiêu chí để xác định các khoản thu, các khoản chi ngân sách nhà nước
vẫn còn rất nhiều bất cập, chưa thực hiện theo chuẩn mực quốc tế được thừa nhận chung.
Hiện nay một số chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài khóa ngân sách ở Việt Nam vẫn
chưa được thực hiện theo các chuẩn mực quốc tế được thừa nhận chung, ví dụ, Cẩm
nang về Thống kê tài chính chính phủ. Một số khoản thu, chi ngân sách vẫn chưa
được phản ánh vào cân đối mà còn đề ngoài ngân sách nên trong một số trường hợp
không phản ánh chính xác được thực trạng của quy mô thu, chi NSNN, ví dụ như một
số khoản phí, lệ phí, thu từ nguồn xổ số kiến thiết, đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu
chính phủ... Trong xác định nguồn thu, không có sự phân biệt giữa nguồn thu
mang tính chất thuế (không hoàn trả trực tiếp...) với các nguồn thu ngoài thuế (từ tài
sản...) để hình thành các phương thức sử dụng phù hợp. Ví dụ, nguồn thu từ dầu thô vẫn
đang được gộp chung vào nhóm các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí dưới giác độ là các
khoản thu “thường xuyên”. Trong cân đối ngân sách hàng năm có khoản thu kết chuyển
và chi chuyển nguồn từ năm ngân sách này sang năm ngân sách sau. Hay nói cách
khác, NSNN hàng năm vẫn có thâm hụt trong khi lại vẫn có nguồn chưa chi hết
được chuyển sang năm sau. Phân tích trong phần trên cũng đã chỉ ra điểm khác biệt cơ
23







Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status