đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc tập đoàn kinh tế nhà nước - Pdf 25

Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
DANH SÁCH NHÓM THUYẾT TRÌNH
1. CHÂU THÚY PHƯƠNG
2. TỪ THỊ ĐỊNH
3. HOÀNG ĐOAN PHƯƠNG THẢO
4. NGUYỄN THỊ NGỌC LOAN
5. NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
6. NGUYỄN BÁ CƯỜNG
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 1
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
MỤC LỤC

 !" #$%&'()*%+, - %
 !./*0%1%2%$#3-%&()*%24%5!36)
.!20%78!-% -/* *3!!9:2;%< =3!>?)!)
@%A8%B%!%&4.4;%>C-%BD ;C%
E)8 6.!2.!!-% !F!G
HI3;%"'%B%.!!-% ! %!3F!%&%B%.!JK
LFM%"'.4%&%B%F!)%.!NOJP
QRBGP
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trên đường hội nhập kinh tế và tìm kiếm vị trí của mình trên trường
quốc tế. Cùng với việc tham gia vào một số tổ chức kinh tế, chính trị lớn của quốc tế, tại
Việt Nam cũng đang thành lập nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước với số vốn lên đến
hàng ngàn tỷ đồng, được kỳ vọng như là những đầu tàu thúc đẩy các ngành kinh tế chủ đạo
đạt được những bước phát triển vượt bậc.
Tuy nhiên, các đầu tàu này hiện nay đang có rất nhiều vấn đề cần chấn chỉnh để có thể
làm tròn trách nhiệm mà chính phủ và dân chúng đang trông chờ. Trong đó nổi bật là vấn đề
đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty, đặc biệt là đầu tư vào thị trường tài chính

cung cấp dịch vụ Internet. FPT hiện nay lại được phép mở trường Đại học FPT, Ngân hàng
FPT (Tiên Phong), Công ty Chứng khoán FPT
Chaebol ở Hàn Quốc và keiretsu ở Nhật cũng là những loại hình thức tập đoàn nhưng
lại không giống nhau. Chaebol của Hàn Quốc thường mang hình thức của một công ty mẹ,
và có nhiều công ty con hoạt động để đáp ứng yêu cầu vật tư và dịch vụ của công ty mẹ.
Chaebol cũng thường thuộc sở hữu và do đó đặt dưới quyền quản lý của một gia đình. Về
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 4
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
mặt quản lý, keiretsu ở Nhật khá giống tập đoàn (conglomerate) ở Mỹ, là do những người
chuyên nghiệp làm thuê quản lý, nhưng về mặt sở hữu chúng là công ty có tư cách pháp
nhân độc lập, nhưng hoạt động mang tính liên hệ nối kết lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, dựa vào
chữ tín, được cung cấp hàng hóa, tín dụng lâu dài mà không cần phải trả ngay.
Điểm căn bản đưa đến việc thành lập tập đoàn là nó cho phép một công ty đang tạo ra
nhiều lợi nhuận, nhưng lại không thể phát triển mạnh thêm vì thị trường bão hòa, hướng vào
ngành sản xuất mới có khả năng phát triển mạnh hơn trong tương lai.
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp là một
thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau:
"Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi
ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Thành phần của nhóm
công ty gồm có:
• Công ty mẹ, công ty con.
• Tập đoàn kinh tế
• Các hình thức khác."
Theo Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương CIEM thì:
"Khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính,
công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các
bên tham gia. Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của
"công ty con" về tài chính và chiến lược phát triển."
Còn theo ông Hồ Xuân Tùng, Phó trưởng ban Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển

giữa các DN.
Theo Nghị định 101/2009/ND – CP về hình thành, tổ chức, hoạt động và quản lý đối
với TĐKTNN, tập đoàn kinh tế nhà nước bao gồm:
a) Công ty mẹ (gọi tắt là doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
b) Công ty con của doanh nghiệp cấp I (gọi tắt là doanh nghiệp cấp II) là các doanh
nghiệp do doanh nghiệp cấp I giữ quyền chi phối; được tổ chức dưới hình thức công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên, tổng công ty theo hình
thức công ty mẹ – công ty con, công ty liên doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo
Luật Doanh nghiệp), công ty con ở nước ngoài.
c) Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo;
d) Các doanh nghiệp liên kết của tập đoàn gồm: doanh nghiệp có vốn góp dưới mức
chi phối của công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ
và của công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết hoặc không
có hợp đồng liên kết, nhưng có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị
trường và các dịch vụ kinh doanh khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong
tập đoàn.
Các đặc điểm chính của TĐKTNN:
- Tập đoàn không có tư cách pháp nhân mà các doanh nghiệp thành viên mới có.
- Tập đoàn không có vốn và tài sản chung.
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 7
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
- Liên kết chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ - công ty con, có từ hai cấp DN trở lên.
- Nhà nước là chủ sở hữu đối với phần vốn nhà nước trực tiếp đầu tư tại công ty mẹ và
tại DN thành viên (nếu có). Công ty mẹ là chủ sở hữu vốn nhà nước tại các DN thành viên.
- Liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại, hoặc dưới hình
thức hợp đồng liên kết hoặc các hình thức liên kết khác có hoặc không có vốn đầu tư của
công ty mẹ.
Các phương thức hình thành TĐKTNN: có ba phương thức hình thành TĐKTNN, bao
gồm:

vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là
khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả
các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.
Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng
một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng
họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền
để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể
không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. Ngân hàng thương mại với vai trò
trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho
người muốn vay vay.
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 9
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong
nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế
để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái
phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh
lệnh trên thị trường chứng khoá n ; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty…
b) Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các
thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh
toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán
hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều
phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh
toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh
toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền
để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương
thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được
rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã
thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp

được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống
NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh
toán, chi trả của xã hội.
Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng không
còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 11
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng. Các ngân hàng còn lại kinh
doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền
mặt.
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh tóan trong
hệ thống ngân, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương mỗi nước. Vậy
tiền “bút tệ” được NHTM tạo ra bằng cách nào? Bây giờ chúng ta giả sử rằng tất cả các
NHTM đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức quy định, các sec không chuyển thành tiền
mặt và các yếu tố phức tạp khác bị bỏ qua thì quá trình tạo thành tiền như sau:
Tên các ngân hàng Tiền gửi mới
Thanh toán
cho vay mới
Dự trữ bắt buộc
Ngân hàng A 1.000.000 900.000 100.000
Ngân hàng B 900.000 810.000 90.000
Ngân hàng C 810.000 729.000 81.000

Tiền toàn hệ thống ngân hàng 10.000.000 9.000.000 1.000.000
Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc là 10% thì số
tiền nó có thể cho vay là 900.000. Khoản tiền cho vay đó được đưa đến người vay, người
vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế họ phải chịu lãi một cách vô
ích, họ dùng tiền đó chi trả các khỏan. Và số tiền đó đến tay người được chi trả, người chi
trả đem số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng B lúc này sẽ có một lượng tiền gửi mới
là 900.000. Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền có thể cho vay là 810.000. Số tiền này được cho

Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
chi trả tiền gửi của khách hàng. Từ đó cho thấy, việc phân tích khả năng thanh khoản của
NHTM có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
- Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt
động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Do đó, tình hình tài chính của NHTM có
ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các DN, tâm lý của người dân, cũng như
của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực trạng tài chính của các
NHTM không chỉ là nhu cầu cấp thiết phục vụ cho hoạt động quản lý của chính nhà quản trị
ngân hàng mà còn là đòi hỏi mang tính bắt buộc của ngân hàng trung ương…
- Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp
tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có
thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình DN nào vì tính chất
lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệt hống kinh tế. Do đó, trong quá trình hoạt động
các NHTM phải thường xuyên cảnh giác, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo và có
những biện pháp phòng ngừa từ xa có hiệu quả. Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi ngân hàng
tự đánh giá được khả năng chịu đựng rủi ro của mình.
- Hoạt động kinh doanh của NHTM có những đặc thù riêng mả các DN trong các
ngành khác không có. Đồng thời, hoạt động kinh doanh của NHTM diễn tiến liên tục trong
mỗi loại hình nghiệp vụ và các sản phẩm của NHTM có mối liên hệ với nhau rất chặt chẽ.
Điều này sẽ gây khó khăn trong việc tách riêng từng mặt hoạt động của ngân hàng để phân
tích kết quả tài chính.
Do đó nội dung phân tích tài chính cũng dựa trên những nội dung phân tích tài chính
của DN nói chung. Xuất phát từ mục tiêu phân tích tài chính cũng như đặc điểm và nội dung
các quan hệ tài chính trong ngân hàng, nội dung phân tích tài chính ngân hàng bao gồm các
nhóm sau:
a) Một là: phân tích cấu trúc tài chính ngân hàng
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 14
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
Cấu trúc tài chính của ngân hàng phản ảnh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và cả
mối quan hệ giữa tài sản (tài sản có hay tiêu sản) và nguồn vốn (tài sản nợ hay tích sản) của

một mức đủ lớn, tạo được nhiều thu nhập hơn từ việc sử dụng các TSCĐ so với chi phí cho
các tài sản đó. Tuy nhiên, do TSCĐ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản, các ngân
hàng không thể dựa nhiều vào đòn bẩy hoạt động để tăng thu nhập; vì thế họ phải sử dụng
đòn bẩy tài chính - việc sử dụng vốn vay để đẩy mạnh hoạt động, tạo thu nhập và duy trì
cạnh tranh với những ngành khác trong quá trình huy động vốn và cho vay. Vì vậy, khi phân
tích hiệu quả hoạt động ngân hàng cần chú ý đến đặc điểm này để đánh giá hiệu quả của
từng hoạt động cũng như toàn bộ hoạt động trong ngân hàng.
Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại gồm: hoạt động huy động vốn, hoạt
động cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Do vậy, các nhà quản trị ngân
hàng cần phải đo lường hiệu quả cho từng hoạt động. Hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng
chú trọng đến các chỉ tiêu hiệu quả từng hoạt động sau: tổng dư nợ trên vốn huy động, hiệu
quả sử dụng vốn huy động, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ suất lợi nhuận hoạt động tín dụng,
lãi suất bình quân đầu vào, lãi suất bình quân đầu ra.
Ngoài việc đo lường hiệu quả cho từng hoạt động, các nhà quản trị cần tính toán các
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho tất cả các hoạt động. Hiện nay, các ngân hàng thương mại
dùng các chỉ tiêu sau: Tổng thu nhập trên tổng tài sản, Tổng chi phí trên tổng thu nhập, Tỷ lệ
lợi nhuận, Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản
(ROA) và dùng các mô hình để phân tích khả năng sinh lời.
1. Hệ số tổng lợi nhuận: cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật
tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.
Hệ số tổng lợi nhuận = (doanh số - trị giá hàng đã bán tính theo giá mua)/doanh số bán
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 16
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
Như vậy, về nguyên lý, khi chi phí đầu vào tăng, hệ số tổng lợi nhuận sẽ giảm và
ngược lại. Trong thực tế, khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không, người ta sẽ
so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành. Nếu
hệ số tổng lợi nhuận của các công ty cùng ngành cao hơn thì công ty cần có giải pháp tốt
hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.
2. Hệ số lợi nhuận hoạt động: cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình
sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

5. Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI): phản ánh mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so
với doanh thu và tổng tài sản.
ROI = (thu nhập ròng/doanh số bán) x (doanh số bán/tổng tài sản)
Mục đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một
công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có
hiệu quả thì thu nhập và ROI sẽ cao. Ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.
6. Hệ số thu nhập trên tổng tài sản (ROA): phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong
hoạt động kinh doanh của công ty và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của
ban lãnh đạo công ty.
ROA = lợi nhuận ròng/tổng giá trị tài sản
Hệ số này có ý nghĩa là, với 1 đồng tài sản của công ty thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận. Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt hơn so với
công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp. Hệ số ROA thường có sự
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 18
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài sản lớn vào dây chuyền
sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải, xây dựng, sản xuất kim loại…,
thường có ROA nhỏ hơn so với các ngành không cần phải đầu tư nhiều vào tài sản như
ngành dịch vụ, quảng cáo, phần mềm…
c) Ba là: Phân tích rủi ro của ngân hàng.
Phân tích hiệu quả chỉ mới là một mặt để xem xét tình hình tài chính của ngân hàng.
Hiệu quả ngân hàng chỉ được xem xét tương ứng với một mức rủi ro mà ngân hàng có thể
chịu đựng được và ngược lại.
Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, và những rủi ro đối với hoạt
động ngân hàng cũng vì thế mà mang tính đặc thù. Bản chất của hoạt động kinh doanh luôn
mang tính mạo hiểm nên bất kỳ nhà phân tích nào cũng quan tâm đến rủi ro. Qua phân tích
nhằm phát hiện những nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng, trong thanh khoản. Trong
lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, rủi ro chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau: khả năng chi
trả cho khách hàng, khả năng thu hồi nợ trong cho vay và đầu tư chứng khoán, sự thay
đổi của lãi suất và tỷ giá hối đoái, sự biến động của thu nhập. Do vậy, trong phân tích tài

12.Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam
Chính phủ vừa gửi tới ĐBQH Báo cáo về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính
sách pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn kinh tế và tổng
công ty nhà nước. Báo cáo được hoàn thành sau 1 năm QH thực hiện giám sát tối cao việc
thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước ở các TĐ, TCT
nhà nước tại kỳ họp thứ 6, tháng 11.2009.
Báo cáo (do Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh ký) nêu đã tập trung làm rõ tình hình
tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của 81/91 TĐ, TCT nhà nước (không bao gồm
Tập đoàn công nghiệp tàu thủy VN - Vinashin) trong năm 2009 và 6 tháng đầu năm 2010.
Tính đến 30.6.2010, vốn chủ sở hữu của các TĐ, TCT là 572.582 tỉ đồng, tăng thêm khoảng
3,8% so với năm 2009. Giá trị tổng tài sản là 1.518.999 tỉ đồng, tăng khoảng 4,8% so với
năm trước. Nợ phải trả của các TĐ, TCT năm 2009 là 813.435 tỉ đồng.
Theo báo cáo của Chính phủ, đến hết tháng 6.2010, doanh thu của các TĐ, TCT đạt
732.761 tỉ đồng, bằng 58,6% kế hoạch năm 2010. Lợi nhuận đạt 43.865 tỉ đồng, bằng 51%
kế hoạch năm 2010. Tổng nộp ngân sách năm 2009 của các TĐ, TCT đạt 189.467 tỉ đồng, 6
tháng đầu năm nay là 97.671 tỉ đồng, bằng 58,2% kế hoạch năm.
Báo cáo cũng cho biết tính đến 30.6.2010, đầu tư ra nước ngoài của các TĐ, TCT
tương đương khoảng 71.380 tỉ đồng, tăng khoảng 1.768 tỉ đồng so với thời điểm ngày
31.12.2009. Giá trị gia tăng chủ yếu do Tổng công ty hàng không VN đầu tư góp vốn thành
lập hãng hàng không quốc gia tại Campuchia.
Báo cáo cũng đánh giá những tồn tại, yếu kém trong hoạt động và khâu quản lý. Đó là
“hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với quy mô đầu tư của Chính phủ, còn để tình trạng
lãng phí trong đầu tư như chậm hoàn thành các dự án đầu tư trọng điểm tại các lĩnh vực
năng lượng, giao thông, cảng biển”. Bên cạnh đó, chức năng đại diện chủ sở hữu còn phân
tán, chồng chéo nên trách nhiệm trong quản lý chưa rõ ràng. Doanh nghiệp đầu tư ra ngoài
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 21
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
ngành vẫn còn dàn trải, chưa tập trung ngành nghề kinh doanh chính hoặc chủ yếu. Một số
tập đoàn, tổng công ty những năm qua góp vốn vào ngân hàng, chứng khoán, bất động sản
với số tiền khá lớn nhưng hoạt động đầu tư trong những lĩnh vực này chưa thực sự hợp lý

một mảng. Không có ông chủ sở hữu đích thực. Chính vì có quá nhiều chủ nên trở thành vô
chủ.
Bên cạnh đó, cũng không có cơ chế giám sát của toàn dân trong quá trình hoạt động
của tập đoàn, vốn thuộc sở hữu toàn dân. Nhân dân chỉ có thể giám sát kết quả hoạt động
nếu kết quả ấy được báo cáo công khai theo một quy định chặt chẽ. Trong khi hội đồng quản
trị - người đại diện chủ sở hữu nhà nước, chỉ lập báo cáo định kỳ hoặc báo cáo theo yêu cầu
của Thủ tướng, nhưng các báo cáo này được xử lý, thẩm định thế nào thì không rõ. Chưa nói
đến tình hình rất có thể xảy ra là sẽ không ai đọc báo cáo đó.
Tiếp theo là thành phần hội đồng quản trị. Hiện thành phần này phần lớn là cán bộ
quản lý doanh nghiệp. Họ có lợi ích gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và thường là
những lợi ích ngắn hạn sẽ chi phối quyết định của họ. Việc này sẽ có ảnh hưởng lớn đến khả
năng thực hiện những mục tiêu chiến lược dài hạn và trong nhiều trường hợp là xung đột với
lợi ích của chủ sở hữu. Trong thành phần hội đồng quản trị của những tập đoàn quan trọng
có một số thành viên từ các bộ ngành. Sự tham gia của các thành viên này cũng dẫn đến hai
hệ lụy: xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và lợi ích của chính doanh nghiệp; thiên vị doanh
nghiệp, làm méo mó chính sách quản lý.
I.4 Sơ lược tình hình thành lập Ngân hàng thuộc tập đoàn KTNN
Nói chung về mặt pháp lý, các nước thường hạn chế sự tham gia vào hoạt động tài
chính, ngân hàng của các công ty phi tài chính (như sản xuất xe hơi, phần mềm) hoặc quỹ
đầu tư, bảo đảm rằng không có sự liên hệ mẹ/con giữa công ty phi tài chính và ngân hàng.
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 23
Đánh giá hoạt động các ngân hàng thuộc TĐKTNN Nhóm 5-TCDN Đêm 2
Tại Hàn Quốc và Nhật Bản, cả hai loại chaebol hay keiretsu đều bị cấm sở hữu ngân
hàng vì ở Hàn Quốc, chính phủ muốn kiểm soát những công ty này qua việc kiểm soát tín
dụng. Còn ở Nhật, keiretsu không được làm chủ ngân hàng nhưng thường hoạt động rất chặt
chẽ với ngân hàng và thường được ngân hàng đáp ứng tín dụng rất dễ dàng, ít nhất là cho
đến cuộc khủng hoảng kéo dài hơn 10 năm ở Nhật và chỉ chấm dứt khoảng năm 2000.
Theo luật ngân hàng Mỹ (Bank Holding Company Act hay Savings and Loan Holding
Company Act) một công ty được coi là công ty mẹ của ngân hàng nếu nó: i) hoặc trực tiếp
hay gián tiếp kiểm soát được số cổ phiếu ở mức quyết định ở ngân hàng (sở hữu 10% số cổ

Như vậy, các tập đoàn kinh tế dù có năng lực tài chính và tham vọng lớn đến đâu về nguyên
tắc cũng không thể có NH riêng của mình.
Cổ đông tham gia góp vốn thành lập ngân hàng phải đáp ứng một số điều kiện nhất
định. Đó là: Phải có tối thiểu 100 cổ đông tham gia góp vốn thành lập ngân hàng, trong đó
có tối thiểu 3 cổ đông sáng lập là tổ chức có tư cách pháp nhân; các cổ đông phải có khả
năng về tài chính để góp vốn thành lập ngân hàng; cá nhân hoặc tổ chức và người có liên
quan của cá nhân hoặc tổ chức đó chỉ được tham gia góp vốn thành lập 1 ngân hàng, không
được tham gia góp vốn thành lập ngân hàng nếu cá nhân hoặc cá nhân đó cùng với người có
liên quan đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu của một ngân hàng, tổ chức hoặc tổ chức đó
cùng với người có liên quan đang sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của một ngân hàng; cổ
đông là tổ chức phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định như thời gian hoạt động tối
thiểu là 3 năm, kinh doanh có lãi trong 3 năm liền kề năm đề nghị thành lập ngân hàng.
Đối với cổ đông là doanh nghiệp Nhà nước phải được Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận bằng văn bản cho phép tham gia góp vốn thành lập ngân hàng.
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status