1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế thì các nước đang phát
triển ngày nay đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra
khá trầm trọng. Thực tế cho thấy là nhiều nước đang phát triển đã thực sự bị
dồn vào thế buộc phải chống lại nạn ô nhiễm môi trường. Các nhà máy đang
hoạt động sạch hơn so với một thập kỷ trước đây và tổng phát thải đang bắt
đầu giảm kể cả ở những vùng mà công nghiệp đang bắt đầu tăng trưởng rất
nhanh. Đã bắt đầu có các hoạt động làm sạch môi trường do các nước đang
phát triển cho rằng lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường lớn hơn rất
nhiều so với các chi phí. Sự nhận thức này đã thúc đẩy nhiều nước thông qua
các chiến lược đổi mới lôi kéo sự tham gia của cộng đồng, các nhà đầu tư và
các nhà cải cách chính sách kinh tế chống lại nạn ô nhiễm môi trường. Trên
thế giới cũng khám phá ra rằng không có chỗ cho họ ẩn nấp nữa và cũng
chứng tỏ rằng họ có thể giảm ô nhiễm môi trường một cách nhanh chóng mà
vẫn đảm bảo sản xuất có lãi nếu những người quản lý môi trường đưa ra
những khích lệ đích đáng. Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục là một cái giá quá
đắt đối với các nước đang phát triển nhưng không có lí do gì để tiếp tục coi sự
suy giảm về môi trường như là cái giá phải trả cho sự phát triển. Phát triển
bền vững hơn lúc nào hết đã khẳng định trở thành sự lựa chọn chiến lược hết
sức đúng đắn.
Thái Bình là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh
hưởng của vùng tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng
Ninh. Đặc biệt, Thái Bình còn là vựa lúa lớn nhất miền Bắc, cũng như nhiều
tỉnh khác trong nước, cùng với sự phát triển của kinh tế thì môi trường tỉnh
Thái Bình đang phải đối mặt với những vẫn đề khó khăn. Sự phát triển không
cân đối giữa kinh tế và môi trường trong tỉnh, sự thờ ơ của các doanh nghiệp,
chính quyền địa phương đối với công tác môi trường, công tác giáo dục và
bảo vệ các tài nguyên chưa thực sự được chú trọng. Đề tài “Giải pháp quản lý
học hay tìm ra vấn đề cần nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài khóa luận, người viết đã thu thập số liệu, tài liệu từ
nhiều nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình, Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020, niên giám thống
kê tỉnh Thái Bình năm 2012, các giáo trình về môi trường, các công trình
nghiên cứu khoa học về môi trường.
4.2. Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
Các tài liệu thống kê được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau: tài liệu
lưu trữ quốc gia và Trung ương, tài liệu của các cơ quan cấp tỉnh, của lĩnh vực
3
quản lý môi trường, các tài liệu khác có liên quan.
Các tài liệu thống kê luôn được bổ sung, cập nhật và được chọn lọc, tổng
hợp và phân tích liên hợp các yếu tố trong mối tương quan, ảnh hưởng lẫn
nhau làm cơ sở cho mục đích nghiên cứu của khóa luận.
4.3. Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá tác động. Tổng hợp các số
liệu thu thập được, so với tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (TCVN), rút ra
những kết luận về ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất đến môi trường,
đồng thời đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường.
Việc so sánh các thông số môi trường nền với các TCVN cho phép đối sánh
môi trường ở các khu vực khác nhau với một cái nhìn chuẩn hóa từ đó thấy
được khu vực nào đã vượt tiêu chuẩn cho phép và cần phải được quan tâm.
Điều này là rất quan trọng trong việc đề ra các giải pháp cho từng khu vực và
từng vấn đề môi trường cụ thể.
4.4. Phương pháp chuyên gia
Do năng lực và trình độ của sinh viên thực hiện đề tài còn hạn chế nên
“tham khảo ý kiến chuyên gia” là phương pháp cần thiết nhằm định hướng và
đưa ra những lời nhận xét đúng đắn cho sinh viên, giúp sinh viên nhận định
được vấn đề chính xác hơn.
Một cộng đồng muốn được sống bền vững, thì trước hết phải quan tâm
bảo vệ cuộc sống của chính mình và không làm ảnh hưởng đến môi trường
của cộng đồng khác
[14].
Để quản lý môi trường có hiệu quả cần nâng cao nhận
thức của người dân được xem là giải pháp cho những vấn đề của cộng đồng.
1.1.2. Mục tiêu, đối tượng và nguyên tắc của công tác quản lý môi trường
a) ý môi trường
Mục tiêu cơ bản của công tác quản lý môi trường là phát triển bền vững,
giữ cho được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và BVMT. Nói cách
khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT
tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế
xã hội trong tương lai.
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục
tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thể
thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia.
Theo Chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam, một số mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi
trường Việt Nam hiện nay là:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh
trong hoạt động sống của con người.
5
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương
đến địa phương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môi trường
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hành
các chính sách về phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường,
nghiêm chỉnh thi hành luật bảo vệ môi trường.
- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo chín nguyên tắc của
một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất.
nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:
- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững
kinh tế xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường.
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng
dân cư trong việc quản lý môi trường.
- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công
cụ tổng hợp thích hợp.
- Phòng chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần được ưu
tiên hơn việc xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường.
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi
trường gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường. Người sử dụng các
thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó.
1.1.3. Các nội dung, chức năng của quản lý Nhà nước về môi trường
- Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ
môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường.
- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường,
kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường,
sự cố môi trường.
- Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, các công trình có
liên quan đến bảo vệ môi trường.
- Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện
trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường.
- Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và
các cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường.
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử
lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
7
- Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Tổng cục Môi trường
- Cơ quan quản lý môi trường của các Bộ
- Các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh
8
- Các Chi cục Bảo vệ Môi trường các tỉnh, thành phố
- Các Phòng Tài nguyên và Môi trường của các quận, huyện, thị xã
1.2. Lý luận về phát triển bền vững
1.2.1. Khái niệm phát triển bền vững
Theo Brundtland: “Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những
nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ tương lai”. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài
nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng
sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người,
động vật và thực vật.
Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm
và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở yếu tố môi trường tài nguyên thiên
nhiên mà yếu tố môi trường xã hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng. Hội
nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug
(Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định: phát triển bền vững là quá trình
phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển,
gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định,
thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Hiện
nay, nội hàm phát triển bền vững tiếp tục được mở rộng, thêm nhân tố thứ tư
là bền vững về mặt thể chế.
1.2.2. Nguyên tắc phát triển bền vững
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “hãy cứu
d) Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ
Con người trong cùng thế hệ hiện nay có quyền được hưởng lợi một cách
bình đẳng trong khai thác các nguồn tài nguyên, bình đẳng chung hưởng một
môi trường trong lành và sạch sẽ. Nguyên tắc này được áp dụng để xử lý mối
quan hệ giữa các nhóm người trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia.
Nguyên tắc này ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong đối thoại quốc tế.
Tuy nhiên, trong phạm vi một quốc gia nó cực kỳ nhạy cảm đối với các nguồn
lực kinh tế - xã hội và văn hóa.
e) Nguyên tắc phân quyền và ủy quyền
Các quyết định cần phải được soạn thảo bởi chính các cộng đồng bị tác
động hoặc bởi các tổ chức thay mặt họ và gần gũi nhất với họ. Các quyết định
cần ở mức quốc gia hơn là mức quốc tế, mức địa phương hơn là mức quốc gia.
Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm kiểm soát sự ủy quyền của các hệ thống quy
hoạch ở tầm quốc tế, nhằm cổ vũ quyền lợi của các địa phương về sở hữu tài
10
nguyên, về nghĩa vụ đối với môi trường và về các giải pháp riêng của họ, áp
lực ngày càng lớn đòi hỏi sự ủy quyền ngày càng tăng. Tuy nhiên, cần phải
hiểu cho đúng rằng địa phương chỉ là một bộ phận của các hệ thống rộng lớn
hơn chứ không được thực thi chức năng một cách cô lập. Thường thì các vấn
đề môi trường có thể phát sinh ngoài tầm kiểm soát địa phương, ví dụ như sự
ô nhiễm “ngược dòng” của nước láng giềng hay cộng đồng lân cận. Trong
trường hợp đó, nguyên tắc ủy quyền cần được xếp xuống thấp hơn các
nguyên tắc khác.
f) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Người gây ô nhiễm phải chịu mọi chi phí ngăn ngừa và kiểm soát ô
nhiễm, phải nội bộ hóa tất cả các chi phí môi trường nảy sinh từ các hoạt động
của họ, sao cho các chi phí này được thực hiện đầy đủ trong giá cả của hàng
hóa và dịch vụ mà họ cung cấp. Tuy nhiên, sẽ không tránh khỏi trường hợp là,
nếu áp dụng nguyên tắc này quá nghiêm khắc thì sẽ có xí nghiệp công nghiệp
Môi trường và nhất là bền vững môi trường có vai trò quyết định đối với sự
PTBV về KT – XH ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương vì:
Thứ nhất, môi trường không chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng
đầu ra cho các quá trình sản xuất và đời sống.
Hoạt động sản xuất bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư,
thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, sức lao động của con người
để tạo ra sản phẩm hàng hóa. Các hoạt động sống cũng vậy, con người cũng
cần không khí để thở, nước để uống, cần có chỗ vui chơi giải trí, phương tiện
đi lại…Những cái đó không gì khác là yếu tố môi trường. Như vậy, chính các
yếu tố môi trường là “đầu vào của quá trình sản xuất và các hoạt động sống
của con người. Hay nói cách khác môi trường là “đầu vào” của quá trình sản
xuất và đời sống.
Ngược lại môi trường tự nhiên cũng là nơi chứa đựng, đồng hóa đầu ra
các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống. Quá trình sản
xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (bụi, khí thải, nước thải, chất thải
rắn). Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy
thoái hoặc gây ra các sự cố về môi trường. Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của
xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải. Những chất thải
này nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Như
vậy muốn môi trường bền vững thì phải làm thế nào để hạn chế nhiều nhất
các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm môi trường.
Thứ hai, môi trường sống liên quan đến tính ổn định và bền vững đến
phát triển KT – XH.
Phát triển KT – XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và
tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của cá nhân
12
cũng như của cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát
triển có mối quan hệ chặt chẽ, môi trường là địa bàn của sự phát triển, còn
phát triển và BVMT. Để PTBV không được khai thác quá mức dẫn tới hủy
hoại tài nguyên, môi trường, thực hiện các giải pháp sản xuất sạch, phát triển
13
sản xuất đi đôi với các giải pháp xử lý môi trường, bảo tồn các nguồn gen,
bảo tồn đa dạng sinh học, không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân về
bảo vệ môi trường.
Như đã nói trên, PTBV môi trường chính là để giúp cho sự phát triển
kinh tế cũng như xã hội được bền vững. KT – XH phát triển giúp chúng ta có
đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của
dân tộc. Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để KT – XH phát
triển. PTBV môi trường không chỉ có ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn,
cao cả hơn nó có ý nghĩa trong tương lai. Nếu một sự phát triển mang lại
những lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,
hủy hoại tài nguyên môi trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều kiện
để phát triển mọi mặt thì sự phát triển đó không được gọi là bền vững. Thế hệ
hôm nay không quan tâm tới, không làm tốt công tác BVMT làm cho môi
trường bị hủy hoại thì các thế hệ tương lai chắc chắn sẽ phải gánh chịu những
hậu quả do môi trường mang lại.
1.2.4. Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV môi trường địa phương
Theo Quyết định số 2157/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền
vững địa phương giai đoạn 2013 – 2020. Trong đó:
- Chỉ tiêu tổng hợp: 1 chỉ tiêu
- Lĩnh vực kinh tế: 7 chỉ tiêu
- Lĩnh vực xã hội: 11 chỉ tiêu
- Lĩnh vực tài nguyên và môi trường: 9 chỉ tiêu
- Các chỉ tiêu đặc thù: 15 chỉ tiêu
Trong 9 chỉ tiêu mà Chính phủ ban hành về giám sát, đánh giá phát
triển bền vững môi trường địa phương có nêu rõ các chỉ tiêu chung và chỉ tiêu
- Phối hợp: Sở Xây dựng, Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn
2
Tỷ lệ diện tích đất
được bảo vệ, duy trì
đa dạng sinh học
%
Năm
2014
Sở Tài nguyên và Môi trường
3
Diện tích đất bị
thoái hóa
ha
2
năm
2015
- Chủ trì: Sở Tài nguyên và
Môi trường
- Phối hợp: Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn
4
Năm
2014
-Chủ trì: Sở Xây dựng
-Phối hợp: Sở Tài nguyên và
Môi trường, Sở Công Thương,
Sở Y tế.
7
Số vụ thiên tai và
mức độ thiệt hại
Vụ,
triệu
đồng
Năm
2014
Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
Chỉ tiêu khuyến khích sử dụng
8
Tỷ lệ các dự án khai
thác khoáng sản
được phục hồi về
môi trường
%
Năm
2015
Sở Tài Nguyên và môi trường
9
của thuật ngữ này. Nói cách khác, chính phủ chỉ là cơ quan thực thi các công
việc quản lý xã hội dựa trên các đạo luật do quốc hội ban hành. Đây là điểm
khác biệt căn bản trong công tác quản lý xã hội của nhà nước, kể cả quản lý
môi trường của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển so với các nước
xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Và đây cũng
chính là điểm khác biệt trong quản lý nhà nước giữa Nhật Bản và Việt Nam.
- Gia tăng vai trò của Chính phủ trong hoạt động quản lý ô nhiễm môi
trường theo hướng phát triển bền vững
Theo Chính phủ Nhật Bản, ngoài vai trò là một cơ quan hành chính
Trung ương, Chính phủ Nhật Bản còn có vai trò như một doanh nghiệp tham
gia hoạt động kinh tế và như một thực thể tiêu dùng. Để thực hiện vai trò này,
ngay từ năm 1995 Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch “Hành động
xanh”. Kế hoạch này được coi là nhiệm vụ cụ thể mang tính thường niên đối
với Chính phủ Nhật Bản.
16
Thiết nghĩ kế hoạch “Hành động xanh” mà Chính phủ Nhật Bản sử dụng,
nhiều nước có thể vận dụng, trong đó có tỉnh Thái Bình. Không có lý do gì
khi tỉnh Thái Bình lại không vận dụng bởi đây là kinh nghiệm có thể được
thực hiện thông qua mệnh lệnh của chính quyền địa phương mà không mất
kinh phí để thực thi.
- Khuyến khích sự nỗ lực của các chính quyền địa phương trong việc
chống ô nhiễm môi trường.
Người Nhật Bản quan niệm rằng, bảo vệ môi trường khu vực là nền tảng
tạo ra sự phát triển bền vững, ở đó chính quyền địa phương đóng vai trò hết
sức quan trọng. Bởi vậy, chính quyền các địa phương ở nước này đã có rất
nhiều nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường. Sự nỗ lực đó được thể hiện
trên hai phương diện chủ yếu, thứ nhất là sự tích cực và chủ động trong công
tác bảo vệ môi trường ở địa phương, đặc biệt là các hoạt động xây dựng cơ sở
hạ tầng, huy động vốn, thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường ở các khu
sự là quan trọng nhất trong việc BVMT nhưng không vì thế mà xem nhẹ các
chế tài hành chính và dân sự, bởi nếu chỉ riêng chế tài hình sự thì không thể
BVMT một cách hiệu quả. Một số chế tài hành chính thường được sử dụng là
kế hoạch sử dụng đất, giấy phép và các mệnh lệnh thông báo.
Biện pháp xử lý dân sự: Bên cạnh các chế tài về hình sự và hành chính,
các đạo luật Singapore cũng quy định nhiều hình thức chế tài dân sự. Cụ thể
như: yêu cầu cá nhân gây ô nhiễm phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí
và các khoản phí tổn mà cơ quan có thẩm quyền phải chịu để làm sạch môi
trường. Theo điều 97 của Luật BVMT Singapore, Chính phủ có thể thu giữ lại
từ người sở hữu hoặc quản lý tài sản các phí tổn và chi phí đã được sử dụng
trong quá trình thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong vòng 14 ngày
theo quy định, nếu chi phí này chưa được thanh toán thì vụ việc sẽ được đưa
ra tòa.
- Công tác và biện pháp quản lý môi trường theo hướng phát triển bền
vững gắn liền phát triển kinh tế trong thời gian gần đây.
+ Môi trường tự nhiên
Chính phủ Singapore cấm tàu thuyền gây ô nhiễm cập cảng. Ngoài ra
Singapore còn thi hành sắc lệnh mới về chống ô nhiễm môi trường đối với tàu
thuyền vào neo đậu tại hải cảng vốn được coi là nhộn nhịp nhất thế giới này.
Trong thời gian gần đây, Chính phủ còn thể hiện việc quan tâm quản lý
môi trường tự nhiên trong việc hợp tác quốc tế cùng với Indonexia, Malaysia,
Thái lan và Brunei giải quyết nạn khói mù ở Indonexia, đất nước láng giềng
của Singapore.
Để từng bước giảm sự lệ thuộc vào nguồn nước từ bên ngoài, Chính phủ
Singapore đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó quan trọng nhất là khuyến khích
18
người dân sử dụng nước thải tái sinh. Trong một buổi tiếp xúc giới trẻ được
truyền hình trực tiếp nhân ngày Quốc khánh lần thứ 37 của Singapore, Phó
Thủ tướng Lý Hiến Long đã tiếp đãi các đại biểu thanh niên bằng những chai
19
b) Các chương trình đề án giảm thiểu suy thoái môi trường
Đà Nẵng đã thực hiện các chương trình quản lý và kiểm tra thường
xuyên chất lượng môi trường biển, quản lý ô nhiễm công nghiệp, xử lý triệt
để các ơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn thành phố.
Thành phố đã tổ chức nhiều phong trào huy động cộng đồng tham gia bảo vệ
môi trường biển như "Ngày chủ nhật xanh, sạch, đẹp", chương trình thí điểm
về phân loại rác thải tại nguồn, phân cấp quản lý hồ đầm trên thành phố.
c) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Dự án thoát nước và vệ sinh môi trường đã xây dựng hệ thống thu gom
rác, bãi rác hợp vệ sinh, hệ thống thoát nước khu vực nội thành và 4 trạm xử
lý nước thải sinh hoạt trước khi thải ra biển. Dự án môi trường Việt Nam -
Canada đã giúp Đà Nẵng nâng cao năng lực quản lý môi trường trong công
nghiệp, hỗ trợ trang thiết bị kỹ thuật quan trắc môi trường.
Thành phố đã lắp đặt 30 thùng rác tại 5 bãi biển để người dân và khách
du lịch bỏ rác vào thùng. Công ty Môi trường Đô thị đã đưa vào sử dụng một
máy sàn cát hiện đại để làm sạch bãi biển. Bên cạnh đó, thành phố đã cho xây
dựng nhiều công trình vệ sinh công cộng ở các bãi biển và hơn 70 hộ kinh
doanh ăn uống trên các bãi tắm cam kết về kinh doanh văn minh, lịch sự trên
biển. Mỗi ngày có 10 đội viên thanh niên xung kích và nhân viên quản lý túc
trực ở các bãi tắm để đảm bảo trật tự. Ban quan lý kết hợp với chính quyền
địa phương kiên quyết dẹp nạn buôn bán hàng rong và gần 50 nhân viên của
công ty Môi trường Đô thị túc trực từ sáng đến chiều tối để thu gom rác thải
từ khách đi biển.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho quản lý môi trường tỉnh Thái Bình theo
hướng phát triển bền vững.
Có thể nói trên đây là những thí dụ rất cụ thể về vai trò, cũng như sự nỗ
lực của chính quyền Nhật Bản, Singapore và Đà Nẵng trong hoạt động quản
lý môi trường. Và đây cũng là bài học kinh nghiệm bổ ích mà tỉnh Thái Bình
cơ quan quản lý tài nguyên và môi
trường đưa ra.
Các giải pháp được phát triển thông
qua thảo luận giữa các bên tham gia.
Sự đối đầu phân cực các vấn đề đơn lẻ
Xây dựng sự đồng thuận, các vấn đề
đa phương và đối tác cùng hợp tác.
Thứ ba: Trong bối cảnh của thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ tài nguyên và môi trường cần có sự kết hợp hài hòa giữa
các giải pháp quản lý gồm các giải pháp về điều hành và kiểm soát với các
giải pháp kinh tế. Nên tảng của các giải pháp này là thay đổi nhận thức của
con người, chú trọng tới đạo đức, khơi dậy cái “tâm” của con người đối với
thiên nhiên. Ngoài ra cần phải lượng giá được tài sản của thiên nhiên để có sự
so sánh giữa các phương án lựa chọn phục vụ cho thiết kế chính sách và lựa
chọn trong bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Trên cơ sở nhận thức kinh nghiệm Quốc tế và Thành phố Đà nẵng về
quản lý môi trường theo hướng phát triển bền vững, với cách nhìn nhận trước
đây từ thế kỉ XIX đến cách nhìn nhận mới hiện nay, Thế giới cũng qua những
thăng trầm trong BVMT, từ đó rút ra những kinh nghiệm quý giá cho tỉnh
Thái Bình. Với vấn đề môi trường của tỉnh Thái Bình, nếu biết khắc phục
những tồn tại mà các nước đi trước và Đà Nẵng đã gặp phải, phát huy những
21
kinh nghiệm họ đã thành công, Thái Bình sẽ đạt được không chỉ có sự tăng
trưởng về kinh tế cao mà còn bảo vệ được tài nguyên và môi trường phù hợp
với xu thế mới của thế kỉ XXI là phát triển bền vững.
a)
Tỉnh Thái Bình nằm ở phía đông nam Đồng bằng sông Hồng, từ 20º17´
vĩ Bắc đến
Thái Bình là tỉnh được bao bọc bởi ba dòng sông lớn: phía tây và tây
nam là sông Hồng, giáp hai tỉnh Hà Nam và Nam Định, phía Bắc là sông
Luộc, giáp hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương, phía đông là sông Hóa, giáp
Thành phố Hải Phòng,
bao quanh, được thông nguồn với gần 70 km con sông lớn nhỏ.
b)
Nền địa hình tỉnh Thái Bình là đồng bằng được hình thành cách đây
không lâu, đường bờ biển hiện nay chỉ mới được bồi đắp trong vòng 100-200
năm trở lại đây nên có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%,
cao trình biến thiên phổ biến từ 1-2m so với mực nước biển, thấp dần từ tây
bắc xuống đông nam. Tỉnh Thái Bình nằm trong đồng bằng Bắc bộ, có đặc
điểm chung của đồng bằng châu thổ, đồng thời có những nét riêng. Nhìn
chung đất Thái Bình được bồi đắp từ phù sa của các dòng sông lớn: sông
Hồng, sông Trà Lý, sông Hóa. Trong đó vai trò bồi đắp phù sa của hệ thống
sông Hồng là chủ yếu.
c)
Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa, có
nhiệt độ trung bình 23º-24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8400-
8500ºC, số giờ nắng từ 1600-1800h, tổng lượng mưa trong năm 1700-
2200mm, độ ẩm không khí từ 80-90%.
d) Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ do được bồi tụ bởi hệ thống sông
Hồng và sông Thái Bình. Hệ thống công trình thuỷ lợi tưới tiêu thuận lợi, góp
23
đất Thái Bình còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng,
được đánh giá có trữ lượng lớn (hơn 30 tỷ tấn) nhưng phân bổ ở độ sâu 600 –
1.000 m, hiện chưa đủ điều kiện để khai thác.
-
Trên địa bàn Thái Bình không có các hồ, đầm lớn, chủ yếu là các ao nhỏ,
nằm xen kẽ với làng xóm hoặc ven đê, ven biển do lấy đất đắp đê hoặc do vỡ
đê tạo thành các điểm trũng tích nước. Các ao hồ nhỏ nằm rải rác, xen kẽ các
khu dân cư là kết quả của quá trình tạo lập đất ở. Tổng diện tích ao hồ gần
6.575ha, chiếm 4,25% đất đai của tỉnh.
24
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình
Năm 2013, theo thống kê của Sở Công thương tình hình kinh tế có bước
tăng trưởng khá, cao hơn năm 2012 và cao hơn bình quân chung của cả nước.
Tổng sản phẩm GDP ước đạt 37.188 tỷ đồng, tăng 8,8% so với năm 2012.
Tổng giá trị sản xuất ước tăng 9,74%, GDP đầu người ước đạt 26,1 triệu đồng.
Tổng chi ngân sách địa phương năm 2013 ước đạt 151,6% dự toán và tăng
7,1% so với năm 2012. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng khá, vượt kế
hoạch đề ra.
Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả trên cả ba lĩnh vực. Sản xuất nông, lâm,
thủy sản vẫn duy trì ổn định và có bước tăng trưởng. Các cấp, các ngành tập
trung khắc phục hậu quả nặng nề của cơn bão số 8 năm 2012, khôi phục được
6.000 ha cây vụ đông bị thiệt hại, thực hiện công tác phòng trừ sâu bệnh,
chăm sóc bảo vệ lúa mùa. Năm 2013, năng suất lúa cả năm ước đạt 130,88
tạ/ha, tăng 0,55% so với năm 2012. Chương trình xây dựng và phát triển cánh
đồng mẫu đạt kết quả tích cực. Tình hình chăn nuôi tiếp tục phát triển theo
hướng gia trại, trang trại. Toàn tỉnh đã có 62 trang trại quy mô lớn, năm 2013
tăng 9 trang trại so với năm 2012. Sản xuất thủy sản đạt kết quả khá. Khai
thác thủy sản năm 2013 ước đạt 54.100 tấn, tăng 9,2% so với năm 2012. Công
triển khai tích cực. Ngành Y tế đã tổ chức khám chữa bệnh và tổ chức điều trị
Methadone cho người nghiện ma túy. Theo Sở Y tế Thái Bình năm 2013, đã
có 269 xã, phường, thị trấn của 8 huyện, thành phố triển khai với 205.000 thẻ
bảo hiểm y tế, đạt 16% tổng số thẻ bảo hiểm y tế trên toàn tỉnh. Điều trị
Methadone cho 139 người nghiện ma túy tại Trung tâm y tế địa phương
Thành phố. Tỷ lệ tiêm chủng được duy trì đạt 99,99%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh dưỡng giảm còn 15,2%, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng
được kiềm chế dưới 0,3% dân số, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,82%, mức giảm
tỷ lệ sinh đạt 0,4‰.
Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đảm bảo
ổn định đời sống người dân, nhất là hộ nghèo, các đối tượng chính sách xã hội,
gia đình có công với cách mạng. Các địa phương trong tỉnh đã hoàn thành xây
dựng mới, tu sửa 949 nhà ở cho người có công, tổ chức xây mới và tu sửa 470
mộ liệt sĩ, 12 nhà bia, đài tưởng niệm liệt sĩ Đã hoàn thành hồ sơ đề nghị
Thủ tưởng phong tặng 272 bà mẹ Việt Nam anh hùng và truy tặng 2.457 bà
mẹ trong tỉnh.
Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư thường xuyên
được quan tâm chỉ đạo và đã đạt được những kết quả tích cực, được người
dân, doanh nghiệp đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Thực hiện cơ chế một cửa
liên thông trong hoạt động đầu tư, từ đầu tháng 9, bộ phận một cửa liên thông
của tỉnh đưa vào hoạt động đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được duy trì nề nếp. Số