tìm hiểu những vấn đề lý thuyết chung nhất về nguồn nhân lực chất lượng cao (nnl clc), chỉ ra những kinh nghiệm trong phát triển nnl clc tại một số nước trên thế giới, hạn chế trong phát triển nnl clc tại việt nam - Pdf 25


1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Tìm ra được nguồn lực đột phá thúc đẩy cho quá trình phát triển KT -
XH là điều mà các nhà lãnh đạo ở mỗi quốc gia đều hết sức quan tâm. Điều
này lại càng trở nên cần thiết và quan trọng, nhất là trong bối cảnh hội nhập
KTQT cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong việc giành được vị thế
cao giữa các nền kinh tế trên thế giới.
Nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng của nguồn lực đột phá thúc
đẩy quá trình phát triển KT - XH của đất nước, trong mỗi giai đoạn các nhà
lãnh đạo Việt Nam luôn tìm kiếm những nguồn lực ấy làm đòn bẩy cho quá
trình phát triển.
Trong giai đoạn 1986 - 1997, đứng trước khó khăn sau thời kỳ thống
nhất đất nước cũng như sự tan rã của hệ thống các nước XHCN, Chính phủ
Việt Nam đã đưa ra hàng loạt các chính sách cải cách mang tính đột phá nhằm
đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng như: thúc đẩy tự do lưu
thông hàng hóa, cho phép thành lập công ty tư nhân, thực hiện khoán 10 (giao
ruộng đất từ các HTX cho nông dân), giải thể và sáp nhập DNNN hoạt động
kém hiệu quả, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, ký hiệp định thương mại tự
do với EU năm 1992, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN
năm 1995. Chính những chính sách cải cách quan trọng này đã giúp Việt Nam
thoát ra cơn khủng hoảng trầm trọng. Theo số liệu của WB, tăng trưởng GDP
của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 1996 đạt 6,6%; lạm phát từ mốc 3 con số
vào đầu những năm 1980 đã giảm xuống chỉ còn ở mốc 12,7% năm 1995 và
4,5% năm 1996.
Những cải cách quan trọng trong giai đoạn 1986 - 1997 đã giúp kinh tế
Việt Nam có những bước phát triển khởi sắc, thoát khỏi khủng hoảng. Tuy
nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1998 (có khởi nguồn từ Thái
Lan) đã tác động đến nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực trong đó có
Việt Nam. Đứng trước một cuộc khủng hoảng kinh tế châu lục có những ảnh

Vấn đề ở đây đó là việc phải tìm ra một nguồn động lực mới mang tính
đột phá làm đòn bẩy mới cho quá trình phát triển KT - XH. Một trong những
nguồn nội lực còn chưa được khai thác ở công suất tối đa đó chính là bộ phận
"NNL CLC" của đất nước. Yếu tố "nhân lực" luôn là yếu tố mang lại sự đột
phá nhiều nhất trong hầu hết các mô hình phát triển của các quốc gia đi trước.
Đã có rất nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng các mô hình phát triển lấy
"nhân lực" đặc biệt là bộ phận "NNL CLC" là trung tâm của sự phát triển.
Đây chính là một trong những kinh nghiệm để Việt Nam có thể học hỏi để tạo
được sức bật mới, mạnh hơn, bứt phá hơn dựa vào "NNL CLC", để có thể
thoát ra tình trạng khó khăn của nền kinh tế hiện tại.

3
2. Mục đích, phạm vi, câu hỏi và phƣơng pháp nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
+ Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết chung nhất về NNL CLC.
+ Chỉ ra những kinh nghiệm trong phát triển NNL CLC tại một số nước trên
thế giới.
+ Nêu lên những điểm hạn chế trong phát triển NNL CLC tại Việt Nam và
nguyên nhân của những hạn chế đó.
+ Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển NNL CLC tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Theo nội dung:
Để phát triển NNL CLC cần phải có chương trình phát triển toàn diện:
thể lực, trí lực, kỹ năng và kỷ luật lao động, nhân cách đạo đức. Giải pháp để
phát triển NNL CLC phải là giải pháp toàn diện cho các nội dung trên, bao
gồm: nhóm giải pháp về dinh dưỡng và chăm sóc y tế, chăm sóc sức khỏe để
phát triển thể lực; nhóm giải pháp về đào tạo và sử dụng NNL CLC để phát
triển trí lực; nhóm giải pháp khác để phát triển kỹ năng và kỷ luật lao động,
nhân cách đạo đức. Tuy nhiên, trong các nhóm giải pháp trên, nhóm giải pháp
về đào tạo và sử dụng NNL CLC được xem là vấn đề khẩn cấp quyết định khả

+ Theo thời gian:
Khóa luận nghiên cứu các vấn đề về phát triển NNL CLC tại Việt Nam
trong giai đoạn 2005 - 2012.
+ Theo không gian:
Khóa luận thực hiện nghiên cứu các vấn đề về phát triển NNL CLC
trên phạm vi các nước Trung Quốc, Mỹ, Singapore và Việt Nam.
- Câu hỏi nghiên cứu:
+ NNL CLC và phát triển NNL CLC là gì?
+ Phát triển NNL CLC có vai trò như thế nào đối với phát triển kinh tế xã hội
của đất nước?
+ Các quốc gia trên thế giới đã thực hiện những biện pháp gì để phát triển
NNL CLC và họ đã đạt được những kết quả như thế nào? Bài học nào có thể
rút ra từ kinh nghiệm phát triển NNL CLC ở các nước này?
+ Thực trạng về việc phát triển nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam?
+ Giải pháp nào để phát triển NNL CLC ở Việt Nam?
- Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phân tích mô tả,
phân tích so sánh để tổng hợp tình hình thực tế và đánh giá thực trạng và đề ra
giải pháp phát triển NNL CLC tại Việt Nam. 5
3. Kết cấu của khóa luận
- Khóa luận có kết cấu gồm 4 chương:
+ Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển NNL CLC
+ Chương 2: Kinh nghiệm phát triển NNL CLC của một số nước trên
thế giới
+ Chương 3: Thực trạng phát triển NNL CLC tại Việt Nam
+ Chương 4: Giải pháp phát triển NNL CLC tại Việt Nam


Theo Beng, Fischer & Dornhusch (1995), cho rằng "nguồn nhân lực là
toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại
thu nhập trong tương lai".
Theo Nicholas Henry: "nguồn nhân lực là nguồn lực con người của
những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và
tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển
kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới".
Còn tại Việt Nam, cũng có khá nhiều các khái niệm liên quan đến thuật
ngữ "nguồn nhân lực", có thể kể đến một vài các khái niệm "nguồn nhân lực"
như:
Theo GS. Viện sỹ Phạm Minh Hạc: "nguồn nhân lực là tổng thể các
tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động
được chuẩn bị ở các mức độ khác nhau, sẵn sàng tham gia một công việc lao
động nào đó".
Theo GS. Nguyễn Tiệp: "nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao
động cho XH thông qua những khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của
người lao động. NNL chính là yếu tố cấu thành LLSX, giữ vai trò quyết định
đến sự phát triển KT - XH quốc gia".
Có thể thấy được, mặc dù hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về
khái niệm "nguồn nhân lực", nhưng có thể thấy được tất cả các định nghĩa về
"nguồn nhân lực" luôn có hai nội dung bên trong đó là số lượng và chất lượng
nguồn nhân lực.

7
Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua quy mô và tốc độ
phát triển nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các mặt như: sức
khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn - kỹ thuật, năng lực thực tế về kỹ
năng nghề nghiệp, tính năng động sáng tạo, phẩm chất đạo đức của nguồn nhân
lực.

thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề
cụ thể theo cách thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định
(trên đại học, cao đẳng, công nhân lành nghề).
Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ cao và khả năng thích ứng nhanh,
đồng thời nhấn mạnh tới phẩm chất và khả năng sáng tạo tri thức của NNL
CLC: Theo cách tiếp cận này, NNL CLC là bộ phận tinh túy nhất của NNL.
Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng
lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi liên tục của
công nghệ sản xuất, có phẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo
những tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình sản xuất nhằm đem lại
năng suất, chất lượng, hiệu quả cao.
Dù các nhà nghiên cứu có những góc độ tiếp cận khác nhau về NNL
CLC nhưng tổng hợp lại, có thể nhấn mạnh tới những đặc trưng cốt lõi sau
của lực lượng này:
Một là, về vai trò và tầm quan trọng: NNL CLC là LLLĐ ưu tú nhất,
thực hiện vai trò dẫn đường đối với NNL nói chung trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội.
Hai là, về số lượng: NNL CLC chỉ bao gồm một bộ phận nhân lực
trong tổng số nhân lực quốc gia.
Ba là, về chất lượng: NNL CLC được đánh giá thông qua các yếu tố cơ
bản sau: (1) phẩm chất đạo đức, (2) trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào
tạo, (3) khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc.
Tổng hợp từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể khẳng định rằng:
NNL CLC là một bộ phận nhân lực quan trọng nhất của NNL, có trình độ học
vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng
tạo và đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng những yêu cầu của thực
tiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình sản xuất
nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao.
1.2. Vai trò của NNL CLC trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
NNL CLC là đầu tàu giữ vai trò khởi động, lái và kéo cả quá trình phát

quá trình phát triển đất nước. Các yếu tố đó chính là việc ứng dụng; triển khai
các tri thức hiện đại để thực hiện quá trình thay đổi môi trường kinh tế, văn
hóa, xã hội, tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới, sáng tạo nhằm thúc
đẩy sự phát triển đột phá của đất nước. Tri thức hiện đại trước hết bao gồm:
tri thức quản trị quốc gia, tri thức khoa học xã hội, tự nhiên và công nghệ, tri
thức quản trị kinh doanh. Vai trò tiên phong trong ứng dụng và triển khai tri
thức hiện đại của NNL CLC bắt nguồn từ những yêu cầu sau của thực tiễn:

10
Một là, dưới tác động của cuộc CMKHCN, những tri thức hiện đại luôn
luôn thay đổi với quy mô và tốc độ cực nhanh. Với những thay đổi nhanh
chóng đó, chỉ có NNL CLC mới có khả năng theo kịp để tiếp thu, ứng dụng
và triển khai tri thức mới. Thông qua vai trò tiên phong của họ, đại bộ phận
NNL mới có cơ hội tiếp xúc và triển khai trên quy mô rộng những tri thức
hiện đại phục vụ thành công cho việc phát triển đất nước.
Hai là, ở các nước đang phát triển, khả năng cập nhật tri thức hiện đại
còn rất hạn chế. Do đó, khoảng cách giữa trình độ tri thức hiện tại của những
quốc gia kém phát triển so với trình độ tri thức hiện đại của thế giới là rất lớn.
Chỉ có thể trông cậy vào NNL CLC trong việc tăng tốc để tạo sức bật, bắt kịp
với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của nguồn tri thức hiện đại, từ đó ứng
dụng vào quá trình tạo bước đột phá trong phát triển, thì quốc gia đó mới có
thể có những cơ hội nhằm phát triển kinh tế theo hướng hiện đại.
1.2.3. Sáng tạo tri thức hiện đại nhằm thúc đẩy phát triển KT - XH đất
nước
Để có thể có bước đột phát trong phát triển đất nước đòi hỏi tất yếu đó
là phải liên tục có sự đổi mới và sáng tạo tri thức. Tuy nhiên, sáng tạo tri thức,
đặc biệt là những tri thức theo kịp xu hướng phát triển của thời đại, có giá trị
kinh tế lớn không phải là khả năng vốn có của NNL nói chung. Chỉ có những
LLLĐ có trình độ chuyên môn cao, được làm việc trong những môi trường
chuyên nghiệp mới tạo lập được khả năng sáng tạo tri thức khoa học để thúc

1-u là tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực sản xuất. E là lượng kiến thức
(quyết định hiệu quả lao động). Như vậy, thu nhập của khu vực sản xuất được
hình thành bởi kết quả của tích lũy vốn sản xuất (K) và hiệu quả tích lũy vốn
của khu vực giáo dục thể hiện ở số lao động hiệu quả trong khu vực sản xuất
(1-u)EL. Vốn vật chất được tích lũy theo quy luật vận động thông thường và
phương trình tích lũy được xác định:

Trong đó, s là tỷ lệ tiết kiệm trong GDP, là tỷ lệ khấu hao bình quân
của vốn sản xuất.
Hàm sản xuất của khu vực giáo dục (các trường đại học) có sự vận
động khác hơn. Không giống như vốn vật chất, vốn con người không phải là
một phần của sản lượng được tích lũy và chuyển hóa thành vốn sản xuất. Hơn
thế nữa, việc tạo ra vốn con người mới đòi hỏi sử dụng vốn con người hiện
có. Vốn con người được tạo ra thông qua giáo dục và kiến thức hiện có là yếu
tố chủ yếu trong việc tạo ra giáo dục. Do vậy, nếu chúng ta giả định vốn con
người tương lai được sản xuất ra từ chính vốn con người, thì sự gia tăng vốn
nhân lực hay hàm sản xuất của khu vực các trường đại học được mô tả:

12

Từ logic như trên, có thể tổng hợp các phương trình liên quan đến tăng
trưởng kinh tế theo mô hình Lucas như sau:
Hàm sản xuất của các doanh nghiệp
Phương trình tích lũy vốn
Hàm sản xuất của các trường đại học
Mô hình này kết luận rằng nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng liên tục
cho dù không có cú sốc công nghệ ngoại sinh nào xảy ra. Sự tăng trưởng liên
tục ở đây là nhờ tốc độ tạo ra kiến thức ở các trường đại học không hề suy
giảm.
Có hai biến quan trọng quyết định trong mô hình này. Đó là, tỷ lệ thu

trong nền kinh tế đều thu được lợi ích.
Nền kinh tế trong mô hình của Romer bao gồm ba khu vực: khu vực
sản xuất sản phẩm hàng hóa cuối cùng, khu vực sản xuất hàng hóa trung gian
và ku vực nghiên cứu.
* Khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng:
Khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng trong nền kinh tế của mô hình
Romer bao gồm một số lượng lớn các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, các
doanh nghiệp kết hợp lao động với vốn để tạo ra sản phẩm thuần nhất Y:

Đầu ra Y được sản xuất bằng cách sử dụng lao động Y và một số các
hàng hóa vốn khác mà chúng ta cũng gọi là "các hàng hóa trung gian". Tại
bất kỳ thời điểm nào, A đo lường lượng hàng hóa vốn sẵn có cho khu vực sản
xuất hàng hóa cuối cùng, và các doanh nghiệp trong khu vực sản xuất hàng
hóa cuối cùng coi số lượng này là cho trước. Các phát minh; sáng chế; ý
tưởng mới trong mô hình tương ứng với các hàng hóa vốn được các khu vực
sản xuất hàng hóa cuối cùng sử dụng để sản xuất ra sản phẩm.
* Khu vực sản xuất hàng hóa trung gian:
Khu vực sản xuất hàng hóa trung gian bao gồm các nhà độc quyền,
những người sản xuất hàng hóa vốn để bán cho khu vực hàng hóa cuối cùng.
Các doanh nghiệp này thu được quyền lực độc quyền thông qua việc mua
thiết kế cho một hàng hóa vốn cụ thể từ khu vực nghiên cứu. Do vấn đề bảo
vệ bản quyền, nên ta giả thiết là một loại hàng hóa vốn chỉ do một doanh
nghiệp sản xuất. Theo mô hình Romer, các doanh nghiệp trong khu vực sản
xuất hàng hóa trung gian sẽ tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và triển khai để
có thể tạo ra thật nhiều các phát minh; sáng chế mới nhằm thu được càng
nhiều quyền lực độc quyền càng tốt. Các phát minh; sáng chế là một lợi thế

14
cạnh tranh quan trọng và quyết định nhất đối với các doanh nghiệp trong khu
vực sản xuất hàng hóa trung gian.

và chất lượng NNL CLC. Vì vậy, nội dung phát triển NNL CLC phải đáp ứng
những yêu cầu sau:

15
1.4.1.1. Gia tăng số lượng NNL CLC
Để đáp ứng yêu cầu tạo ra những bước phát triển đột phá cho đất nước,
cần phải có một LLLĐ được đào tạo tốt, có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết
cho ngành mình làm việc, không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng, thích
nghi được với sự phát triển của KH - CN.
Muốn phát triển NNL CLC đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, trước
tiên phải gia tăng nhanh chóng số lượng lao động tri thức, lao động quản lý và
lao động dữ liệu. Lực lượng này phải chiếm tỷ lệ vượt trội trong tổng LLLĐ
quốc gia. Trong đó, phải đặc biệt chú trọng tới việc gia tăng số lượng lao
động trí thức và lao động dữ liệu (bao gồm đội ngũ nhân lực KH - CN) - đó là
lực lượng nòng cốt tiếp thu, ứng dụng và sáng tạo tri thức KH - CN hiện đại
để đưa nền kinh tế quốc gia thích ứng với trình độ phát triển của thế giới.
Việc gia tăng số lượng NNL CLC là điều kiện cần để phát triển lực lượng
này.
Trong nền kinh tế công nghiệp, cách tổ chức lao động phổ biến là mô
hình sản xuất hàng hóa kiểu Taylor. Đây là cách thức tổ chức lao động đề ra
yêu cầu tối thiểu về kỹ năng đối với LLLĐ. Chỉ cần thành thạo một số động
tác lặp đi, lặp lại và không cần động não, LLLĐ có thể hoàn thành nhiệm vụ
của họ.
Trong thời đại công nghệ thông tin và thế giới phẳng, do tác động của
rất nhiều yếu tố, nhu cầu của người tiêu dùng trở nên đa dạng và cao cấp hơn.
Sản phẩm của phương thức sản xuất hàng hóa hàng loạt không còn thu hút
được người tiêu dùng toàn cầu. Sự tinh tế và khác biệt trong mỗi sản phẩm trở
thành thị hiếu nổi trội và đồng thời cũng mang lại những giá trị kinh tế rất cao
cho các sản phẩm. Do đó, mô hình sản xuất linh hoạt, sử dụng công nghệ chế
tạo theo chuyên môn hóa linh hoạt đang dần được thay thế cho mô hình sản

nhân loại. Chỉ khi nào NNL CLC hình thành được khả năng này ở tầm cao
tương xứng với thời đại thì quốc gia đó mới có thể theo kịp và vươn lên trong
sự phát triển chung của thế giới. Sự khẳng định này dựa vào những lý do cơ
bản sau:
- Tri thức của nhân loại liên tục thay đổi với tốc độ rất nhanh đòi hỏi
NNL phải có khả năng thích nghi, sự năng động rất cao thì mới có thể theo
kịp và tiếp thu được những tri thức mới cập nhật.
- Cuộc CMKHCN đang diễn ra nhanh như vũ bão, các công nghệ mới
liên tục xuất hiện, các thành tựu và những phát minh sáng chế liên tiếp được
giới thiệu bởi vậy, các quốc gia nếu như không muốn bị tụt lại so với phần
còn lại của thế giới buộc phải chạy theo guồng quay này. NNL cần phải có sự
thay đổi, cập nhật liên tục những công nghệ mới để tránh khỏi sự tụt hậu. Bên
cạnh đó, họ cũng cần phải đi trước công nghệ, tạo ra xu thế bằng cách tạo nên

17
những công nghệ mới, những phát minh mới để không bị tụt hậu so với guồng
quay phát triển của KH - CN.
b. Hình thành và phát huy tố chất sáng tạo
Ngày nay, các phát minh và sáng chế là một trong những yếu tố hàng
đầu được các quốc gia quan tâm nhằm tạo nên lợi thế cạnh tranh đột phá trong
thời đại mới. Quốc gia nào sở hữu năng lực sáng tạo lớn với những phát minh,
sáng chế mang tính bước ngoặt và có tính định hướng cho thị trường, quốc gia
đó sẽ nắm trong tay lợi thế cạnh tranh và thu được những lợi ích KT - XH vô
cùng to lớn. Tuy vậy, việc có được tố chất sáng tạo ở bộ phận nhân lực không
phải là chuyện quá đơn giản. Bộ phận nhân lực có thể có được khả năng sáng
tạo đều là những người được đào tạo bài bản, được tiếp xúc với các thành tựu
công nghệ hiện đại, được nghiên cứu trong những môi trường thuận lợi. Hầu
như, chỉ có một tỷ lệ nhỏ trong LLLĐ có khả năng sáng tạo, đó chính là NNL
CLC. Tố chất sáng tạo trong bộ phận NNL CLC được đánh giá là yếu tố
mang tính đột phá quan trọng nhất giúp các quốc gia đang phát triển có thể

(1) Mức độ sẵn có của lao động sản xuất chất lượng cao
(2) Mức độ sẵn có của cán bộ hành chính chất lượng cao
(3) Mức độ sẵn có của cán bộ quản lý hành chính chất lượng cao
(4) Sự thành thạo của lao động công nghệ cao
(5) Sự thành thạo tiếng Anh của đội ngũ nhân lực chất lượng cao
(6) Mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ cán bộ hành chính
(7) Mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ chuyên gia
(8) Mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính
(9) Năng suất lao động của đội ngũ nhân lực chất lượng cao
Chín tiêu chí nêu trên nhằm đánh giá tố chất thích ứng của NNL CLC
thông qua đội ngũ nhân lực chất lượng cao điển hình: đội ngũ cán bộ quản lý
hành chính, đội ngũ chuyên gia, đội ngũ nhân lực chất lượng cao nói chung.
Khả năng thích ứng được đánh giá thông qua mức độ thành thạo kỹ năng, sự
thành thạo tiếng Anh, sự thành thạo công nghệ cao, năng suất lao động và
mức độ sẵn có của NNL CLC
(10) Số đơn đăng ký phát minh sáng chế được Tổ chức sở hữu trí tuệ
thế giới cấp
(11) Số bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế
Tiêu chí (10) và (11) đánh giá tố chất sáng tạo của NNL CLC. Số đơn
đăng ký sáng chế quốc tế, số bài viết được đăng trên tạp chí quốc tế phản ánh

19
mức độ biểu hiện tố chất sáng tạo của NNL CLC trong xu thế hội nhập và
phát triển kinh tế.
1.6. Những yếu tố tác động trực tiếp đến phát triển NNL CLC đáp ứng
yêu cầu phát triển KT - XH
Quá trình phát triển NNL CLC bị tác động bởi rất nhiều yếu tố với mức
độ và phạm vi tác động khác nhau. Phần này tập trung phân tích hai nhóm yếu
tố tác động trực tiếp và quan trọng nhất tới quá trình phát triển NNL CLC.
1.6.1. Nhóm yếu tố phía cung: Đào tạo NNL CLC

Căn cứ vào quy mô đào tạo, có thể chia các mô hình giáo dục đại học
thành các nhóm: Giáo dục đại học tinh hoa, giáo dục đại học đại chúng, giáo
dục đại học phổ cập.
Giáo dục đại học tinh hoa tạo ra một lực lượng nhân lực tinh hoa,
chiếm số ít trong tổng số LLLĐ. Mô hình giáo dục này phù hợp với xã hội
nông nghiệp và giai đoạn đầu của xã hội công nghiệp.
Giáo dục đại học đại chúng tạo ra một lực lượng đông đảo nhân lực
chất lượng cao phục vụ cho quá trình phát triển ở trình độ công nghiệp và hậu
công nghiệp cuối thể kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Mỹ là quốc gia đi đầu trong
việc xây dựng mô hình giáo dục đại học đại chúng vào những năm 1970.
Giáo dục đại học phổ cập phát triển mạnh ở Mỹ, các nước Tây - Bắc
Âu , Hàn Quốc, Nhật Bản vào thập kỷ đầu của thế kỷ XXI để phục vụ cho
nhu cầu NNL CLC trong thời đại mới.
Như vậy, một hệ thống giáo dục đại học phù hợp là một hệ thống mà ở
đó việc quy hoạch mạng lưới các trường ĐH phải đảm bảo việc đào tạo đủ
yêu cầu cả về số lượng và chất lượng NNL CLC. Nếu hệ thống đại học chỉ
hướng vào việc đào tạo đội ngũ tinh hoa thì số lượng nhân lực có trình độ đại
học sẽ là thiểu số. Nếu hệ thống đại học được thiết kế đa dạng, phong phú,
hướng vào đại chúng, ở đó có sự kết hợp giữa đào tạo lực lượng tinh hoa và
đào tạo lực lượng đại chúng thì sẽ tác động rất lớn tới tốc độ gia tăng NNL
CLC. Từ đó, NNL CLC có thể phục vụ tốt nhất cho quá trình phát triển của
các quốc gia trong thời đại ngày nay.
1.6.1.2. Tác động của giáo dục đại học tới việc hình thành và phát huy tố chất
thích ứng và tố chất sáng tạo
Xã hội công nghiệp hình thành cách đây hàng trăm năm đã sản sinh ra
các trường đại học truyền thống - nơi cung cấp các kiến thức cao cấp ổn định
trong nhiều thập niên. Loại trường này vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia trên
những nét cơ bản. Việc tổ chức và hoạt động các trường đại học truyền thống
thường khá ổn định và rất ít thay đổi về chương trình đào tạo, cách thức tổ
chức và hoạt động do vậy, khả năng tác động của nó tới việc hình thành và

dụng NNL CLC không chỉ tác động trực tiếp đến việc phát triển lực lượng
này mà còn tác động quyết định tới sự hưng thịnh của mỗi quốc gia.
Bằng các chính sách trọng dụng đối với NNL CLC, tố chất thích ứng
và tố chất sáng tạo sẽ được phát huy để lực lượng này đủ khả năng thúc đẩy
mỗi quốc gia trong hành trình tạo nên những bước phát triển đột phá. 22
*Những chính sách trọng dụng đối với NNL CLC nói chung
Một là, chính sách tuyển dụng, bố trí công việc và thăng tiến.
Tác động rõ nét nhất của chính sách tuyển dụng đối với việc phát huy
tố chất và khả năng của NNL CLC được thể hiện ở chỗ, nếu chính sách và
phương pháp tuyển dụng hợp lý, khách quan, chính xác thì sẽ tuyển dụng
được lao động thực sự có trình độ, năng lực và nghề nghiệp phù hợp với yêu
cầu tuyển dụng ngay từ đầu. Đội ngũ nhân lực chất lượng cao được tuyển
dụng sẽ phát huy được thế mạnh của mình ở vị trí phù hợp với trình độ
chuyên môn của họ.
Việc bố trí, phân công công việc hợp lý dựa trên cơ sở năng lực và
phân tích công việc sẽ có tác động lớn tới việc phát huy lòng yêu nghề, sự
linh hoạt và năng động của đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong quá trình
làm việc.
Chính sách thăng tiến cần mang tính mở và linh hoạt đối với tất cả đội
ngũ nhân lực để tạo động lực phấn đấu, cống hiến và vươn lên trong quá trình
làm việc. Khi cơ hội thăng tiến rộng mở đối với đội ngũ thì họ sẽ có động lực
để sáng tạo và bứt phá nhằm khẳng định khả năng của mình.
Hai là, chính sách tiền lương.
Chính sách tiền lương tác động rất lớn tới ý thức và trách nhiệm của đội
ngũ lao động nói chung. Nếu tiền lương và mức thu nhập mang tính công
bằng, đánh giá chính xác và hợp lý năng lực của người lao động, đặc biệt là
lao động có trình độ cao thì người lao động sẽ gắn bó và cống hiến tối đa
24
CHƢƠNG 2: KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia nằm trên khu vực Đông Á. Đây là quốc gia có
dân số đông nhất thế giới và là nền kinh tế đứng số một châu Á và đứng thứ
hai toàn cầu. Năm 2011, GDP theo giá cố định (2005) năm 2011 của Trung
Quốc đạt 5,44 nghìn tỷ USD.
Biểu đồ 2.1: GDP theo giá cố định năm 2005 của Trung Quốc
giai đoạn 2000 - 2011
Đơn vị tính: tỷ USD

Nguồn: Tổng hợp Số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới
Kể từ năm 1978, sau khi thực thi hàng loạt những chính sách cải cách
KT - XH đồng bộ, nền kinh tế Trung Quốc đã thu được một loạt các thành tựu

toàn quốc, trong đó có 67 phòng thực nghiệm trọng điểm cấp quốc gia, chiếm
30% toàn quốc; có 50 trung tâm nghiên cứu công nghệ kỹ thuật dự án nhà
nước, chiếm 35,50% toàn quốc; có 37 trung tâm nghiên cứu dự án nhà nước,
chiếm 29,10% toàn quốc.
Vài năm gần đây, các địa phương như Thượng Hải, Thiên Tân, Vũ
Hán, đang tích cực nghiên cứu, đẩy nhanh tiến trình xây dựng đặc khu nhân
lực chất lượng cao. Thượng Hải lập kế hoạch xây dựng khu thí nghiệm đổi
mới nhân tài quốc tế ở Phố Đông, Thiên Tân đề xuất ý kiến đẩy nhanh tiến
trình vươn tới đỉnh cao nhân tài ở khu kinh tế mới Bân Hải.

Trích đoạn Nhóm nguyên nhân liên quan đến quá trình sử dụng NNL CLC Thành lập Bộ Giáo dục Đại học Đổi mới tư duy giáo dục đại học Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy đại học Xây dựng hệ thống giáo dục đại học theo hướng hiện đạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status